HIỆP HỘI KINH DOANH VÀNG VIỆT NAM
Số: /2010/CV-HHV
V/v Chính sách thuế đối với hoạt động xuất khẩu vàng |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày tháng năm 2010 |
Kính gửi: Bộ Tài chính,
Trước hết, Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam xin gửi tới quý Bộ lời chào trân trọng và xin chân thành cảm ơn sự quan tâm hợp tác, hỗ trợ của quý Bộ đối với Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam.
Vừa qua, chúng tôi được biết quý Bộ đã ban hành Thông tư số 184/2010/TT-BTC ngày 15/11/2010 về việc tăng thuế xuất khẩu vàng lên 10%, có hiệu lực từ ngày 1/1/2011. Theo đề nghị của nhiều doanh nghiệp hội viên của Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam, ngày 23/12/2010 Hiệp hội đã tổ chức cuộc họp về chính sách thuế đối với hoạt động xuất khẩu vàng với sự tham gia của đại diện của Bộ tài chính (Vụ Chính sách thuế); Bộ Công thương (Cục quản lý thị trường); Bộ Công nghệ và Khoa học (Tổng Cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng); Ngân hàng Nhà nước (Vụ quản lý ngoại hối); Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam và các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại có hoạt động kinh doanh vàng. Tại cuộc họp này, các đại biểu đều cho rằng có 02 vướng mắc khi các doanh nghiệp thực hiện quy định tại Thông tư số 184/2010/TT-BTC, cụ thể là:
1- Về xác định giới hạn hàm lượng vàng để tính thuế suất:
Theo ý kiến của các chuyên gia, các doanh nghiệp và đại diện các Bộ ngành, thì hiện tại các thiết bị, công nghệ giám định vàng ở Việt Nam cũng như trên thế giới chỉ có thể xác định sai số đến 1/1.000, chưa có khả năng phát hiện sai số tới 1/10.000 như quy định tại biểu thuế (Điều này đã được đại diện Cục quản lý chất lượng sản phẩm Tổng Cục tiêu chuẩn Đo lương chất lượng khẳng định tại cuộc họp). Vì vậy, việc xác định được hàm lượng vàng bằng hoặc dưới 99,99% để tính thuế suất xuất khẩu vàng nguyên liệu là 10% hoặc 0% là không khả thi. Các Doanh nghiệp khi XK có kê khai hàm lượng vàng nguyên chất 999.9 nếu Hải quan không chấp nhận và trưng cầu giám định thì không có Phòng Giám định nào trong nước có thể đua ra kết luận chính xác về hàm lượng vàng 99,99% này. các Doanh nghiệp khi XK Thông tư cũng chưa quy định cơ quan giám định nào có thẩm quyền cấp chứng thư giám định để làm cơ sở cho cơ quan Hải quan giải quyết thủ tục cho các doanh nghiệp xuất khẩu vàng.
2- Về thuế suất xuất khẩu vàng:
Việc tăng thuế xuất khẩu vàng nguyên liệu lên 10% chắc chắn sẽ làm cho hoạt động xuất khẩu vàng không thể thực hiện được, vì vàng có giá trị rất cao, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế không nhiều. Vì vậy, với mức thuế suất này, dù Chính phủ cho phép các doanh nghiệp được xuất khẩu vàng tự do (không phải xin giấy phép của Ngân hàng Nhà nước), thì không một doanh nghiệp nào có thể thực hiện được hoạt động xuất khẩu vàng, vì mức chênh lệch giá không đủ để bù đắp được chi phí và thuế xuất khẩu. Với các sản phẩm vàng trang sức, mỹ nghệ (đồ kim hoàn ) xuất khẩu không chỉ bao gồm loại có hàm lượng dưới 99,0% mà còn có nhiều chủng loại sản phẩm có hàm lượng lớn hơn 99,0% nếu quy định mức thuế của hai loại này chênh lệch tới 10% sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho DN khi thực hiện hợp đồng với đối tác nước ngoài Theo ý kiến của chúng tôi với chính sách thuế xuất khẩu vàng như quy định tại Thông tư 184/2010/TT-BTC, thì có thể gây ra những hệ lụy:
- Ngành vàng không thể góp phần thực hiện được mục tiêu của Chính phủ là giảm nhập siêu, kìm chế lạm phát (vì chỉ có nhập, không thể xuất khẩu được). Chúng tôi cho rằng nhiệm vụ này đối với Việt Nam không chỉ phải thực hiện trong thời gian trước mắt, mà ít nhất phải là mục tiêu trung và dài hạn.
- Thị trường ngoại tệ trở lên căng thẳng hơn, vì chỉ có chi ngoại tệ cho nhập khẩu,mà không khuyến khích xuất khẩu để tái tạo ngoại tệ trong lúc đó chỉ có vàng là hàng hóa có tính thanh khoản cao nhất và xuất khẩu thu ngoại tệ nhanh nhất. Thực tế này sẽ tác động tiêu cực đến cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế - một mục tiêu quan trọng để ổn định kinh tế vĩ mô.
- Ảnh hưởng tới việc đầu tư, đổi mới thiết bị, công nghệ sản xuất, chế tác của ngành Vàng, bởi vì sản xuất không xuất khẩu được. Từ đó ảnh hưởng tới việc phát triển của ngành Công nghiệp kim hoàn cũng như việc làm và thu nhập của hàng vạn thợ kim hoàn, đồng thời làm giảm sức cạnh tranh của các sản phẩm vàng trang sức của Việt Nam với thị trường quốc tế, trước hết là các nước trong khu vực. Điều này mâu thuẫn với việc thực hiện cam kết hội nhập quốc tế của Việt Nam.
- Mức thuế xuất khẩu không hợp lý sẽ làm cho hoạt động xuất khẩu lậu vàng qua biên giới gia tăng, khó kiểm soát, gây khó khăn cho việc điều hành chính sách tiền tệ và gây thất thu cho ngân sách nhà nước.
Kinh nghiệm của các quốc gia trong khu vực cho thấy những quốc gia càng cho phép nhập khẩu vàng nhiều, thì càng khuyến khích xuất khẩu vàng, nhất là chính sách thuế, để tái tạo ngoại tệ, góp phần cải thiện cán cân thương mại, tạo điều kiện cho công tác điều hành chính sách tiền tệ, đồng thời góp phần tạo việc làm cho người lao động. Thuế xuất khẩu vàng của các quốc gia trong khu vực hiện nay đều duy trì ở mức 0%.
Vì vậy Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam kính đề nghị quý Bộ xem xét để có sự điều chỉnh phù hợp, từ đó vừa khuyến khích thị trường vàng phát triển một cách lành mạnh và ổn định, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong nước cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt khi Việt Nam đã tham gia hội nhập sâu vào thị trường quốc tế. Chính sách thuế nên có tầm nhìn dài hạn hơn để xây dựng và phát triển một ngành công nghiệp vàng trang sức đúng nghĩa, góp phần tạo ra việc làm cho người lao động, thúc đẩy sự phát triển của các làng nghề kim hoàn. Đặc biệt, các chính sách đối với thị trường vàng cần tránh giải quyết những mục tiêu tình thế, trước mắt, mà nên cân nhắc lấy các mục tiêu dài hạn và theo hướng hội nhập để ưu tiên, nếu không sẽ tạo ra những cú sốc, làm cho thị trường phát triển không ổn định, cản trở đến tiến trình hội nhập quốc tế.
Từ những phân tích trên đây, chúng tôi kiến nghị Bộ tài chính:
1- Đối với nhóm vàng nguyên liệu khi xuất khẩu cần phải có Giấy phép của Ngân hàng Nhà nước chỉ nên quy định tới hàm lượng 99,9% (Vàng 3 số 9) trở lên, không nên quy định hàm lượng 99,99% (Vàng 4 số 9). Từ trước đến nay, hoạt động xuất khẩu vàng nguyên liệu luôn luôn phải có giấy phép của Ngân hàng Nhà nước, vì vậy đề nghị Bộ tài chính vẫn giữ mức thuế suất xuất khẩu vàng là 0% như trước đây
2- Đối với hàng trang sức, mỹ nghệ ( đồ kim hoàn ) dù bất cứ hàm lượng vàng nào nên áp dụng mức thuế suất 0% hoặc nếu phải tính thuế XK để điều tiết thì chỉ nên duy trì ở mức tối đa là 0,5% là phù hợp, bởi vì với mức thuế suất này, phần lớn các doanh nghiệp sẽ xuất khẩu vàng theo con đường chính ngạch, góp phần ngăn chặn, giảm thiểu tình trạng buôn lậu vàng
3- Theo quy định của Pháp luật, các Doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về nội dung khai báo Hải quan, tuy nhiên các đơn vị Hải quan hiện tại không có thiết bị để xác định hàm lượng vàng để xác nhận tuổi vàng mà Doanh nghiệp khai báo. Việc này rất dễ gây ra tình trạng chậm trễ, ách tắc thông quan hàng hóa, gây thiệt hai cho Doanh nghiệp do bị phạt Hợp đồng vì giao hàng chậm. Đề nghị quý Bộ cần có văn bản hướng dẫn thực hiện Thông tư 184/2010/TT-BTC về việc xác định hàm lượng (tuổi) vàng, cần quy định rõ về chứng thư giám định hàm lượng vàng đính kèm của các Phòng Giám định Vàng Bạc Đá quý hoạt động hợp pháp làm cơ sở cho việc thông quan cho lô hàng xuất khẩu của Doanh nghiệp.
Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam kính đề nghị quý Bộ xem xét giải quyết những kiến nghị nói trên của Hiệp hội để tạo điều kiện cho thị trường vàng Việt Nam phát triển ổn định.
Nhân dịp năm mới 2011, kính chúc Lãnh đạo quý Bộ sức khỏe, an khang và thịnh vượng.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Ủy ban Pháp luật Quốc hội;
- Ủy ban Tài chính Ngân sách Quốc hội;
- Văn phòng Chính phủ;
- Ngân Hàng Nhà nước VN;
- Bộ Tư pháp;
- Bộ Công thương;
- Ủy Ban Giám sát tài chính QG;
- Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam;
- Tổng Cục tiêu chuẩn Đo lường chất lượng-Bộ KH & CN;
- Lưu VPHH. |
CHỦ TỊCH
HIỆP HỘI KINH DOANH VÀNG VIỆT NAM
Nguyễn Thành Long |