ĐẶC SAN TUYÊN TRUYỀN VỀ LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC

PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ


ĐẶC SAN TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT

CHỦ ĐỀ LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Biên soạn

T.S. Trịnh Minh Hiền – Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Giao thông Vận tải.
Phần thứ nhất

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

I. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRƯỚC KHI BAN HÀNH LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ NĂM 2008.

1. Khái quát sự phát triển của pháp luật về giao thông đường bộ trước khi ban hành Luật Giao thông đường bộ năm 2008.

Hoạt động giao thông và việc bảo đảm an toàn giao thông, trong đó có giao thông đường bộ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh của đất nước và mở rộng giao lưu quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Giao thông là mạch máu của tổ chức, giao thông tốt thì các việc đều dễ dàng, giao thông xấu thì các việc đình trệ”.

Trước khi Luật Giao thông đường bộ năm 2001 - luật giao thông đường bộ đầu tiên của nước ta ra đời, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giao thông đường bộ tuy còn đơn giản nhưng cũng đã góp phần từng bước điều chỉnh những vấn đề cơ bản về lĩnh vực này, cụ thể như:

- Về bảo đảm an toàn giao thông có Chỉ thị số 317/TTg ngày 26/05/1995 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị, Nghị định số 36/CP ngày 29/5/1995 của Chính phủ về bảo đảm an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị.

- Về kết cấu hạ tầng giao thông có Pháp lệnh Bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông, Nghị định số 172/1999/NĐ-CP ngày 07/12/1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ công trình giao thông đối với công trình giao thông đường bộ

- Về xử phạt vi phạm hành chính có Nghị định số 49/CP ngày 26/7/1995 quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị.

- Về hệ thống hóa, pháp điển hóa các quy định pháp luật về giao thông đường bộ: Cùng với sự phát triển của đất nước, sự đa dạng của các hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ và trước yêu cầu cấp thiết của công tác tổ chức quản lý hoạt động giao thông đường bộ nhằm bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn, ngày 29/6/2001 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật Giao thông đường bộ. Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2002. Đây là Luật đầu tiên về lĩnh vực giao thông đường bộ, được đúc kết sau một quá trình thực hiện các Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định, Thông tư liên quan. Luật được xây dựng bảo đảm mục tiêu tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, đề cao ý thức trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thể hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là xây dựng và tổ chức quản lý hoạt động giao thông đường bộ thông suốt, an toàn, thuận lợi, từng bước phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Luật Giao thông đường bộ năm 2001 có tính xã hội sâu rộng, tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và phát triển của đất nước. Vì vậy, ngay sau khi Luật có hiệu lực, Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải và và các Bộ, ngành có liên quan đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thực hiện. Chỉ tính trong 6 năm (từ năm 2001 đến năm 2007) để triển khai thực hiện Luật đã có tới 190 văn bản được ban hành, trong đó Chính phủ ban hành 14 Nghị định và 02 Nghị quyết, Thủ tướng Chính phủ ban hành 09 Quyết định và 05 Chỉ thị; Bộ Giao thông vận tải ban hành 93 Quyết định, 11 Thông tư và 09 Chỉ thị; Bộ Công an ban hành 10 Quyết định, 13 Thông tư, 02 Chỉ thị; Bộ Tài chính ban hành 02 Quyết định và 11 Thông tư; Bộ Y tế ban hành 01 Quyết định và các Bộ ban hành 08 Thông tư liên tịch; Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện Luật ở địa phương. Số lượng văn bản được ban hành thể hiện tầm quan trọng của hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời cũng thể hiện việc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành và chính quyền địa phương đã có nhiều cố gắng nhằm sớm đưa Luật Giao thông đường bộ đi vào cuộc sống. Nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực giao thông đường bộ cơ bản phù hợp với quy định của pháp luật. Việc ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn đã tạo cơ sở pháp lý cho công tác xây dựng, triển khai thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển giao thông đường bộ, tạo hành lang pháp lý để quản lý, thúc đẩy sự phát triển của ngành góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội bảo đảm quốc phòng - an ninh của đất nước.

2. Một số kết quả của quá trình thực hiện Luật Giao thông đường bộ năm 2001

Sau khi Luật Giao thông đường bộ năm 2001 có hiệu lực thi hành và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật được các cơ quan có thẩm quyền ban hành, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ được đẩy mạnh; hệ thống giao thông đường bộ được phát triển rộng khắp trong phạm vi cả nước; công tác quản lý, bảo trì đường bộ được tăng cường hơn trước; công tác quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, công tác quản lý đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép cho người điều khiển phương tiện được triển khai và có nhiều chuyển biến tiến bộ so với trước; doanh nghiệp kinh doanh vận tải phát triển mạnh đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vận chuyển hàng hóa và nhu cầu đi lại của nhân dân; công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ được đẩy mạnh. Công tác quản lý về trật tự an toàn giao thông với nhiều giải pháp vừa cấp bách vừa cơ bản lâu dài đã được triển khai thực hiện góp phần hạn chế sự gia tăng tai nạn giao thông.

2.1. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về Luật Giao thông đường bộ và các văn bản hướng dẫn Luật đã được triển khai thực hiện thường xuyên, trên diện rộng với nhiều hình thức phong phú và đã đạt được một số kết quả nhất định, bước đầu hình thành được ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng vừa cấp bách vừa mang tính cơ bản lâu dài nhằm hình thành nếp sống văn minh, ý thức chấp hành pháp luật, tạo thói quen cho người tham gia giao thông chấp hành đúng quy định của pháp luật. Các cơ quan thông tin đại chúng đã tăng thời lượng thông tin, phản ánh tình hình và nêu các giải pháp trong quản lý giao thông đường bộ với nhiều hình thức và nội dung phong phú. Chương trình giảng dạy pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường bộ đã được đưa vào trường học và được Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định là chương trình chính khoá ở tất cả các bậc học từ mầm non đến đại học. Ngành Giao thông vận tải đã có nhiều hình thức thông tin, tuyên truyền trên các tuyến đường bộ, tổ chức các đợt tuyên truyền theo chuyên đề hàng năm; tổ chức các cuộc thi trên truyền hình, các cuộc thi cho cán bộ, công nhân ngành đường bộ về nội dung tìm hiểu Luật Giao thông đường bộ và các quy định của pháp luật về an toàn giao thông. Ngành Công an cũng chú trọng công tác tuyên truyền trên truyền hình trong các chuyên mục của ngành, kết hợp thực hiện tuyên truyền, giải thích trong khi tuần tra, kiểm soát và xử phạt vi phạm hành chính. Việc xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật cũng mang tính giáo dục, răn đe, nhờ đó ý thức chấp hành Luật Giao thông đường bộ, bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ cho người tham gia giao thông đã có nhiều chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Nhiều địa phương căn cứ điều kiện cụ thể để tổ chức các hình thức tuyên truyền phù hợp như in ấn, cấp phát tài liệu về luật, hướng dẫn thi hành luật; đài, báo một số địa phương mở chuyên mục riêng về an toàn giao thông; Ban An toàn giao thông tỉnh phối hợp với các tổ chức xã hội để giáo dục, vận động và tổ chức các hội thi tìm hiểu Luật Giao thông đường bộ, gắn việc thực hiện Luật Giao thông đường bộ với việc bầu chọn danh hiệu “Cụm dân cư tiêu biểu”, “Thôn bản văn hóa”... Với nhiều cách làm hiệu quả, nhiều địa phương đã thực hiện tốt việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật Giao thông đường bộ, góp phần đưa Luật đi vào cuộc sống.

2.2. Công tác xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ Quy hoạch giao thông vận tải đường bộ được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 162/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 đã xác định: Giao thông vận tải đường bộ là một bộ phận quan trọng trong hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội cần phải được đầu tư, phát triển đi trước một bước; nâng cấp các tuyến quốc lộ; phát triển hệ thống đường cao tốc, phát triển giao thông đô thị đồng thời với phát triển hệ thống đường tỉnh và giao thông nông thôn; phát triển và nâng cao chất luợng dịch vụ vận tải, phát triển vận tải công cộng ở các đô thị, kiềm chế sự gia tăng phương tiện cá nhân, nhất là xe môtô, xe gắn máy. Trên cơ sở quy hoạch được duyệt, Bộ Giao thông vận tải đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện và đã đạt được nhiều kết quả. Tính đến hết năm 2007, số km đường bộ đã tăng thêm 3.871km so với cuối năm 2001, nâng tổng số km đường bộ đạt 223.059 km. Mật độ đường so với diện tích và dân số đạt 0,68 km/km2 và 2,65 km/1000 người dân; so sánh với một số nước trong khu vực như Trung Quốc: 0,2 km/ km2 và 1,44 km/ 1000 dân hoặc Thái Lan: 0,11 km/ km2, 0,9 km/ 1000 người dân.

Nhiều tuyến quốc lộ quan trọng đã được đầu tư, nâng cấp như QL 1, QL 5, QL 10, QL 18, QL 13, QL 14… Đường Hồ Chí Minh giai đoạn 1 đã được hoàn thành. Nhiều cầu lớn được xây dựng xong như cầu Mỹ Thuận, cầu Bãi Cháy, cầu Kiền, cầu Tạ Khoa, cầu Thanh Trì…, hầm đường bộ Hải Vân đã được đưa vào sử dụng. Giao thông đô thị được phát triển, các cửa ngõ thành phố, các tuyến trục chính được mở rộng, các tuyến vành đai được quy hoạch và đầu tư, kể cả các đoạn tuyến quốc lộ qua đô thị cũng được quan tâm đầu tư mở rộng. Các tuyến đường tỉnh được đầu tư, nâng cấp, hệ thống đường huyện, đường xã được cải tạo, xây dựng. Chất lượng đường dần từng bước được nâng lên, chỉ tính riêng quốc lộ, đường tỉnh có mặt đường bê tông xi măng, bê tông nhựa là 31.033 km (chiếm 77,3% tổng chiều dài quốc lộ và đường tỉnh) tăng so với năm 2001 là 13.163 km; giao thông nông thôn được cải thiện đáng kể, từ năm 2001 đến nay đã thêm 225 xã có đường ôtô đến trung tâm xã.

Công tác quản lý, bảo trì đường bộ được chú trọng hơn trước, mức đầu tư cho công tác này tuy chưa đáp ứng yêu cầu nhưng từng bước được nâng lên. Hệ thống biển báo, vạch sơn, cọc tiêu, hộ lan, đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu, cột km... đặc biệt là trên quốc lộ, đường tỉnh và đường đô thị đã được hoàn chỉnh theo hướng hiện đại, ứng dụng vật liệu mới. Nhiều tỉnh đã ưu tiên đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, ví dụ theo báo cáo của tỉnh Quảng Nam thì từ năm 2001 đến năm 2007, đường tỉnh và đường quốc lộ đã cơ bản được nhựa hóa: quốc lộ đã rải bê tông nhựa 100%, đường tỉnh đã rải bê tông nhựa 96%; hệ thống báo hiệu đầy đủ và đường đô thị được lắp đặt đèn tín hiệu giao thông tại 60%-70% các nút giao.

Công tác tổ chức quản lý, bảo vệ công trình giao thông đường bộ, bảo vệ hành lang an toàn giao thông, ngăn chặn việc mở đường nhánh trái phép, xử lý kịp thời các điểm đen về tai nạn giao thông đã được chú trọng giải quyết. Khi phát hiện điểm đen, đơn vị quản lý đường bộ lập ngay hồ sơ, phân tích nguyên nhân và đề ra giải pháp trình cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư và triển khai xử lý mà không cần chờ kế hoạch vốn. Theo thống kê xử lý điểm đen, tính riêng trên quốc lộ với các điểm đen được xử lý bằng vốn sửa chữa đường bộ, năm 2005 xử lý 227 điểm đen với 31 tỷ đồng; năm 2006 xử lý 266 điểm đen với 38,3 tỷ đồng; năm 2007 đã xử lý 258 điểm đến với 36,2 tỷ đồng.

Hệ thống giao thông đường bộ phát triển về cơ bản đã bảo đảm cho nhu cầu lưu thông hàng hoá giữa các vùng trong cả nước và với các nước láng giềng, giải quyết tương đối kịp thời nhu cầu đi lại của nhân dân, tạo điều kiện khai thác các tiềm năng giữa các vùng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa.

2.3. Công tác quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đã tăng lên đáng kể. Theo thống kê của Cục Đường bộ Việt Nam, từ năm 2002 đến năm 2008, phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tăng 15.637.399 chiếc nâng tổng số phương tiện cơ giới đường bộ cả nước lên 22.827.899 chiếc, trong đó ôtô 1.106.617 chiếc và xe mô tô, xe gắn máy 21.721.282 chiếc.

Trong công tác đăng ký phương tiện, ngành Công an đã có những cải tiến và tăng cường công tác quản lý cũng như phân cấp việc đăng ký xe môtô, xe máy về Công an các quận, huyện, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân; áp dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, giảm các thủ tục phiền hà, tăng cường tính công khai minh bạch, hạn chế đáng kể các tiêu cực trong công tác đăng ký phương tiện cơ giới đường bộ.

Bộ Giao thông vận tải đã ban hành các quyết định về quản lý công tác cấp đăng ký, biển số xe máy chuyên dùng, ban hành tiêu chuẩn ngành và thực hiện công tác kiểm tra an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô. Tính đến hết năm 2007 đã cấp đăng ký, biển số được 35.087 xe máy chuyên dùng.

Trong công tác kiểm tra chất lượng xe cơ giới đã chú trọng cả công tác quản lý chất lượng và bảo vệ môi trường, cấp giấy chứng nhận để làm cơ sở cho việc đăng ký và kiểm tra, cấp chứng nhận bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường định kỳ. Cơ sở vật chất, trang thiết bị kiểm tra đã từng bước được hiện đại hoá. Cả nước đã xây dựng 83 Trung tâm kiểm định an toàn kỹ thuật - bảo vệ môi trường xe cơ giới với thiết bị đạt tiêu chuẩn quốc tế, từng bước áp dụng tiêu chuẩn khí thải xe cơ giới tại Việt Nam.

Theo quy định tại Nghị định số 23/2004/NĐ-CP ngày 13/01/2004 của Chính phủ về quy định niên hạn sử dụng của ôtô tải và ôtô chở người, Bộ Giao thông vận tải đã chỉ đạo thực hiện và kiểm định phương tiện, qua đó loại bỏ 48.037 xe ô tô, trong đó có 28.090 xe tải, 3.687 xe chở người và 15.460 xe khách quá niên hạn sử dụng.

Bộ Giao thông vận tải cũng đã tham mưu trình Chính phủ ban hành Chỉ thị về quản lý xe công nông tham gia giao thông đường bộ và tổ chức triển khai đồng bộ trên phạm vi cả nước. Từ ngày 31/12/2007, đình chỉ lưu hành xe công nông đầu ngang được lắp ráp từ các tổng thành xe ô tô cũ.

Đối với xe máy kéo nhỏ, đã triển khai đăng ký được 48.136 chiếc; hướng dẫn việc đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cho người điều khiển phương tiện; hầu hết các địa phương đều đã có quy định về phạm vi và thời gian hoạt động cho xe máy kéo nhỏ.

Thông qua việc đẩy mạnh công tác quản lý phương tiện giao thông đường bộ, chất lượng phương tiện cơ giới đường bộ đã được nâng lên một bước, góp phần bảo vệ môi trường, tỷ lệ số vụ tai nạn giao thông vì lý do kỹ thuật phương tiện giảm từ 1,7% trong năm 2001 xuống còn 0,7% năm 2006.

2.4. Công tác đào tạo và quản lý người điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ.

Thực hiện quy định của Luật Giao thông đường bộ năm 2001, công tác quản lý đào tạo người điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ được tăng cường theo hướng ngành giao thông vận tải quản lý thống nhất nội dung, chương trình đào tạo; tiêu chuẩn cơ sở vật chất, kỹ thuật nghiệp vụ cơ sở đào tạo lái xe và trung tâm sát hạch lái xe; nội dung và quy trình sát hạch. Các cơ sở đào tạo, sát hạch lái xe phát triển theo hướng xã hội hoá.

Theo thống kê của Cục Đường bộ Việt Nam, năm 2008 cả nước có 180 cơ sở đào tạo lái xe ôtô và môtô; 369 cơ sở đào tạo lái xe môtô, 42 Trung tâm sát hạch lái xe có thiết bị chấm điểm tự động, đủ đáp ứng nhu cầu học lái xe trong phạm vi trong cả nước. Từ năm 2002 đến hết năm 2007 đã đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cho 16.191.113 người điều khiển môtô, 1.028.441 người lái xe ôtô, nâng tổng số người có giấy phép lái xe môtô lên 20.269.881 người, giấy phép lái xe ôtô lên 1.604.679 người.

Công tác quản lý đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe được tăng cường theo hướng tăng cường trách nhiệm, kỷ cương, bảo đảm sự thống nhất, công khai, minh bạch, chịu sự giám sát của người học, của dư luận xã hội, của cơ quan nhà nước; áp dụng công nghệ thông tin rộng rãi; thực hiện cải cách hành chính và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; từ đó đã từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe.

Bộ Giao thông vận tải đã phê duyệt Đề án “Đổi mới quản lý giấy phép lái xe”, để thống nhất thực hiện từ năm 2008. Đã xây dựng nội dung, chương trình, ban hành mẫu chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật giao thông cho người điều khiển xe máy chuyên dùng và hướng dẫn tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước.

Thông qua công tác đào tạo và quản lý người điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ đã đào tạo lực lượng lái xe đủ đáp ứng nhu cầu điều khiển phương tiện, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành Luật Giao thông đường bộ, góp phần đưa Luật đi vào cuộc sống một cách sâu rộng.

2.5. Công tác quản lý vận tải đường bộ

Sau khi Luật Giao thông đường bộ năm 2001 có hiệu lực, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 110/2006/NĐ-CP ngày 28/9/2006 về điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô, cùng với các văn bản quy phạm pháp luật khác, Nghị định đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh vận tải. Lực lượng vận tải được tổ chức theo các hình thức: Công ty Cổ phần, Công ty TNHH, hợp tác xã, hộ kinh doanh; phát triển mạnh nhất là các Hợp tác xã vận tải và hộ kinh doanh vận tải. Vận tải hàng hóa, hành khách tăng cao, năm sau cao hơn năm trước. Tăng trưởng bình quân/năm giai đoạn năm 2001 đến năm 2006: vận tải hàng hóa là 9%, vận tải hành khách là 12%, cao hơn so với tăng trưởng kinh tế GDP cùng kỳ là 8% ; giá cước vận tải được quản lý, duy trì hợp lý.

Trong tổng khối lượng hàng hoá được vận chuyển, khối lượng hàng hoá vận chuyển bằng đường bộ hàng năm chiếm 62% về tấn và 12,5% về tấn km, về cơ bản đáp ứng nhu cầu vận chuyển, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Vận tải hàng hoá bằng đường bộ đã phát huy lợi thế vận chuyển cơ động, linh hoạt, đến tận các vùng sâu, vùng xa để phục vụ đời sống, sản xuất, lưu thông hàng hoá của nhân dân.

Khối lượng vận chuyển hành khách bằng đường bộ chiếm 82,5%, lượng khách luân chuyển chiếm 61,3% trong tổng khối lượng vận chuyển và luân chuyển khách; nhiều phương thức phục vụ mới ra đời, luồng tuyến vận tải được mở thêm mới với 1.500 tuyến vận tải và hơn 600 bến xe, về cơ bản đã đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân, kể cả trong các dịp lễ, tết. Chất lượng phục vụ trong vận tải được cải thiện so với trước; giá cước vận tải khách bằng đường bộ thấp so với các ngành vận tải khác.

Vận tải khách công cộng ở các đô thị phát triển nhanh. Hầu hết tại các thành phố có xe buýt, xe taxi phục vụ khách, góp phần hạn chế phương tiện cá nhân và chống ùn tắc giao thông. Khối lượng vận tải khách bằng xe buýt tăng nhanh nhất là ở Hà Nội (năm 2007 đạt 346 triệu lượt khách đáp ứng 8% - 10% nhu cầu đi lại), và thành phố Hồ Chí Minh (năm 2007 đạt 293,1 triệu lượt khách đáp ứng 4,8% nhu cầu đi lại). Ngoài ra, xe taxi cũng phát triển mạnh về số lượng cũng như chất lượng, năm 2008, tổng số xe taxi đạt gần 30.000 chiếc và tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

2.6. Công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm Luật giao thông đường bộ

Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong việc thi hành Luật Giao thông đường bộ năm 2001. Chính phủ đã nhiều lần sửa đổi, bổ sung các quy định về chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ; Bộ Công an đã chỉ đạo tăng cường lực lượng tuần tra, kiểm soát, phân công cho từng lực lượng, phân cấp trách nhiệm quản lý theo địa bàn, tuyến đường; nhiều trang thiết bị phục vụ công tác tuần tra, kiểm soát được đầu tư như máy đo tốc độ, đo nồng độ cồn trong hơi thở v.v... Lực lượng Thanh tra đường bộ cũng được củng cố, tăng cường để thực hiện nhiệm vụ, trong 6 năm thi hành Luật Giao thông đường bộ, đã lập biên bản xử lý 45.545 lượt người vi phạm Luật với số tiền phạt nộp Kho bạc Nhà nước 16 tỷ đồng; giải tỏa 42.168 trường hợp lấn chiếm đất dành cho đường bộ, lập cam kết không vi phạm đất dành cho đường bộ với hơn 100.000 hộ dân dọc quốc lộ; lập biên bản xử lý xe quá khổ quá tải, dừng đỗ không đúng quy định 5.460 trường hợp, xử phạt hơn 12 tỷ đồng và hạ tải 23.000 tấn hàng.

Công tác hướng dẫn, tổ chức giao thông trong các đô thị, nhất là trong Hội nghị APEC, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X v.v... đã được tổ chức tốt.

II. TỒN TẠI, HẠN CHẾ CỦA HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ VÀ QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ NĂM 2001

1. Một số tồn tại, hạn chế của hệ thống giao thông đường bộ Việt Nam hiện nay

Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ hiện nay vẫn còn rất nhiều khó khăn, yếu kém và bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Việc triển khai xây dựng quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông chậm, chất lượng chưa cao, còn dàn trải. Sự phối hợp giữa ban, ngành ở địa phương trong quy hoạch đô thị và tổ chức thực hiện quy hoạch đô thị chưa tốt; sự đan xen trụ sở các cơ quan, tổ chức với khu vực dân cư; các cơ quan, tổ chức, tập trung trong nội thành, nội thị nhất là thủ đô Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và hệ quả tất yếu là ùn tắc giao thông do sự tập trung quá mức mật độ người và phương tiện vào trung tâm đô thị và tạo ra sự đi lại không hợp lý gây tốn kém thời gian, vật chất.

Trong xây dựng chiến lược, quy hoạch còn thiếu đồng bộ giữa phát triển kết cấu hạ tầng với quy hoạch phát triển đô thị, giữa kết cấu hạ tầng giao thông với kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Việc quy hoạch đô thị nói chung và quy hoạch giao thông đô thị nói riêng thiếu ổn định và thời gian chưa đủ dài, không bố trí đủ quỹ đất cho kết cấu hạ tầng đường bộ đô thị. Theo số liệu báo cáo của Sở Giao thông công chính Hà Nội và Sở Giao thông công chính Thành phố Hồ Chí Minh, quỹ đất dành cho giao thông đô thị tại Hà Nội từ 2-3%, tại TP.Hồ Chí Minh là 4,5 %, thấp hơn bình quân các nước trong khu vực (trung bình 22-24%). Việc không quản lý chặt chẽ thực hiện quy hoạch dẫn đến phá vỡ quy hoạch. Tình trạng không tách riêng được khu vực dân cư, khu vực cơ quan, tổ chức tạo ra sự đan xen nhau và dẫn đến vận tải phục vụ xã hội và đi lại của nhân dân không hợp lý, mất thời gian, tốn kém và làm cho kết cấu hạ tầng đường bộ đã thiếu lại càng thiếu. Tiến độ nhiều dự án xây dựng mới, cải tạo nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông chậm. Hệ thống quốc lộ khi vừa cải tạo nâng cấp hoặc xây dựng mới xong đã bị các địa phương tận dụng để quy hoạch, xây dựng trụ sở cơ quan, tổ chức… biến dần thành đường đô thị. Các thành phố, thị xã nhất là những đô thị đặc biệt như thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, trong khi nạn ùn tắc đã xảy ra thì cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền vẫn tiếp tục cấp phép cho mở rộng các cơ sở giáo dục, đào tạo, các bệnh viện, cao ốc văn phòng, trung tâm thương mại ở trung tâm thành phố mà không thấy trước hậu quả tất yếu của việc tập trung cao độ người và phương tiện sẽ dẫn đến bài toán ùn tắc giao thông càng nan giải.

Đến nay, ở Việt Nam chưa có đường cao tốc, chúng ta mới đang triển khai thực hiện các dự án xây dựng đường cao tốc ở các đoạn Sài Gòn-Trung Lương, cầu Giẽ - Ninh Bình. Nhiều quốc lộ, đường tỉnh do thiếu vốn nên việc cải tạo, nâng cấp còn chậm, trong khi đó vốn dành cho bảo trì cũng không đáp ứng yêu cầu; đồng thời quốc lộ, tỉnh lộ bị đô thị hoá nhanh chóng, có những trục chính đã bị đô thị hóa hoàn toàn như QL5, QL51 hoặc một phần như QL1.v.v... Ngoài ra, sự vô ý hoặc cố ý lấn chiếm, vi phạm quy định sử dụng đất dành cho đường bộ, phá hoại công trình giao thông đường bộ xảy ra ở nhiều nơi chưa được ngăn chặn, các nguyên nhân trên kết hợp với nhau dẫn đến cầu đường hư hỏng, xuống cấp nghiêm trọng. Hệ thống báo hiệu đường bộ có khi trở thành nơi quảng cáo cho nhà đầu tư; cổng chào, biển hiệu, áp phích tuyên truyền lấn át báo hiệu đường bộ làm mất tập trung và gây nhiễu sự nhận biết của người điều khiển phương tiện giao thông, gây mất an toàn giao thông; nhiều biển báo hiệu đường bộ bị lấy cắp, gương cầu lồi, dải phân cách bị đập phá. Việc quản lý, sử dụng và bảo vệ hành lang an toàn đường bộ chỉ dựa vào lực lượng quản lý đường bộ, Thanh tra giao thông đường bộ và Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội, trong khi người chịu trách nhiệm chính là chính quyền địa phương thì chưa được quan tâm đúng mức, chưa thực hiện đúng trách nhiệm quản lý và bảo vệ công trình giao thông; hành lang an toàn đường bộ, một số nơi còn buông lỏng hoặc tiếp tay cho vi phạm. Chưa kiên quyết xử lý các tổ chức, cá nhân có công trình vi phạm hành lang an toàn đường bộ. Một số địa phương thậm chí còn giao đất, cho thuê đất, cho xây dựng công trình trong phạm vi hành lang an toàn đường bộ. Việc đấu nối vào các tuyến đường giao thông cũng rất tùy tiện; theo thống kê của Cục Đường bộ Việt Nam, đoạn QL51 và QL55 đi qua tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu dài 97Km đã có 2000 công trình vi phạm với 28160m2 đất, riêng QL51 trên chiều dài 73Km có 543 điểm đấu nối. Theo số liệu thống kê của các Khu Quản lý đường bộ, QL1 từ Lạng Sơn đến Cà Mau dài 2300Km có tới 5666 công trình xây dựng trên đất hành lang an toàn đường bộ; QL5 dài 106Km có 346 điểm đấu nối.

Tình hình xây dựng, nâng cấp, cải tạo đường bộ còn dàn trải, không đồng bộ giữa cầu và đường khá phổ biến, có tuyến chỉ cải tạo, nâng cấp cầu nhưng chưa cải tạo, nâng cấp đường hoặc ngược lại làm cho tải trọng khai thác đường không được nâng cao, hiệu quả đầu tư thấp. Năm 2008, riêng hệ thống quốc lộ còn tồn tại hơn 700 cầu yếu trên tổng số hơn 4.200 cầu.

Công tác bảo trì đường bộ còn chưa bảo đảm được nguồn vốn, năm 2007 là năm cao nhất cũng chỉ đạt 52% nhu cầu vốn đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, dẫn đến việc thực hiện bảo dưỡng thường xuyên không làm đủ công việc theo quy định, sửa chữa định kỳ không đúng kỳ hạn mà chỉ tập trung cho những đoạn hư hỏng nặng và sửa chữa đột suất do thiệt hại thiên tai chỉ làm bước 1 bảo đảm giao thông nên việc quản lý, bảo trì cầu đường không đúng quy định, dẫn đến cầu đường hư hỏng, xuống cấp nhanh hơn. Nguồn vốn cấp cho công tác bảo trì đối với đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường đô thị đã khó khăn thì đối với đường giao thông nông thôn càng khó khăn hơn, nhất là các đường xã nhiều nơi hầu như không có vốn để bảo trì.

Hệ thống tổ chức thực hiện quản lý, bảo trì đường bộ không ổn định, cơ chế quản lý công tác bảo dưỡng thường xuyên không phù hợp, công tác bảo dưỡng thường xuyên có tính đặc thù nhỏ lẻ, phân tán, kéo dài, năng suất không cao, các đơn vị làm bảo dưỡng thường xuyên được hưởng lợi từ lãi tiết kiệm mà không phải lãi như các đơn vị kinh doanh xây dựng khác. Tổ chức quản lý đường bộ ở cấp huyện thì chỉ có 01 đến 02 cán bộ trung cấp hoặc cao đẳng hoặc đại học ngành giao thông nằm chung trong phòng Kết cấu hạ tầng hoặc Kinh tế hạ tầng; tổ chức quản lý đường bộ cấp xã hầu như không có cán bộ chuyên trách dẫn đến các đường liên xã, đường xã không được quan tâm bảo dưỡng thường xuyên dẫn đến hầu hết các đường đã có, kể cả đường vay vốn ODA, sau một vài năm khai thác bị xuống cấp nghiêm trọng.

2. Những tồn tại, hạn chế của quá trình triển khai thực hiện Luật giao thông đường bộ năm 2001

Qua hơn 7 năm triển khai thực hiện Luật Giao thông đường bộ, bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn nhiều tồn tại, yếu kém, cụ thể như sau:

2.1. Về ban hành văn bản hướng dẫn thi hành

Việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật Giao thông đường bộ còn chậm, đến năm 2008 vẫn còn một số văn bản chưa được ban hành, chất lượng một số văn bản thấp.

Trong quá trình thi hành Luật, hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành mới từng bước được ban hành, nhiều văn bản sau 2 đến 3 năm Luật có hiệu lực mới được ban hành, thậm chí đến năm 2008 còn một số văn bản cần thiết để hướng dẫn thi hành luật vẫn chưa được ban hành như Thông tư liên tịch Bộ Giao thông vận tải - Bộ Tài chính - Bộ Xây dựng về chi phí thẩm định an toàn giao thông, Thông tư liên tịch Bộ Giao thông vận tải - Bộ Công an về tổ chức thẩm định an toàn giao thông công trình đường bộ giai đoạn trước khi đưa vào khai thác sử dụng, ngoài ra còn các văn bản quy định về tiêu chuẩn sức khoẻ để đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cho người tàn tật vẫn chưa được ban hành. Chất lượng một số văn bản chưa cao, chưa sát thực tế, thậm chí mâu thuẫn với văn bản pháp luật khác nên phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần như Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Nghị định về điều kiện kinh doanh vận tải.

Nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa ban hành đủ theo quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành, một số tỉnh ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định tốc độ cho xe cơ giới tham gia giao thông trên địa bàn không đúng thẩm quyền. Quy định về tổ chức, hoạt động và thẩm quyền của Thanh tra cấp Cục cũng chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.

2.2. Về công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ mới đạt yêu cầu về diện, thiếu chiều sâu, còn mang tính hình thức, chưa phù hợp với đặc điểm từng đối tượng nên chất lượng, hiệu quả còn hạn chế.

Giao thông đường bộ là một lĩnh vực mang tính xã hội cao, đối tượng tham gia giao thông đa dạng về thành phần, lứa tuổi, trình độ văn hoá. Trong khi đó, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ chưa sâu và chưa thường xuyên, nội dung và hình thức chưa thực sự phù hợp với từng vùng, từng đối tượng, nhất là đồng bào ở nông thôn, vùng sâu vùng xa. Việc tổ chức dạy Luật Giao thông đường bộ trong các trường học còn ít; Chương trình truyền hình đưa tin về trật tự an toàn giao thông trong Bản tin “Chào buổi sáng” nhiều thông tin chưa được chọn lọc, kiểm chứng nên có nhiều tin chưa chính xác và thời gian đưa tin chỉ phù hợp đối tượng cán bộ công chức làm giờ hành chính, cán bộ hưu trí, còn ít tác dụng đối với viên chức, công nhân làm việc ca kíp, học sinh, sinh viên, người làm nghề tự do và người lao động ở khu vực nông thôn. Công tác tuyên truyền mới tập trung thực hiện ở các Bộ, ngành chức năng và một số cơ quan thông tin đại chúng, chưa có sự tham gia tích cực của các tổ chức xã hội. Tại nhiều địa phương, việc tuyên truyền chủ yếu ở UBND cấp tỉnh do Ban An toàn giao thông, Sở Giao thông vận tải (Sở GTCC), Công an tỉnh thực hiện; UBND cấp huyện, cấp xã chưa quan tâm đúng mức nên chưa phát huy được sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội tham gia.

2.3. Công tác đăng ký, quản lý và kiểm định các loại phương tiện giao thông đường bộ

Việc nhập khẩu, đóng mới phương tiện vẫn còn tùy tiện, không căn cứ theo kiểu loại phương tiện đã được Bộ Giao thông vận tải quy định phù hợp với tiêu chuẩn cầu đường Việt Nam, ví dụ trường hợp xe rơ mooc cao, chở Container cao tới 4,35m không phù hợp tiêu chuẩn, kiểu loại phương tiện và tiêu chuẩn kỹ thuật cầu đường quy định.

Theo quy định của Luật Giao thông đường bộ, việc đăng ký, cấp, thu hồi biển số xe cơ giới đường bộ do cơ quan Cảnh sát Giao thông thực hiện, việc kiểm định xác nhận bảo đảm kỹ thuật an toàn và bảo vệ môi trường và xác định phương tiện hết niên hạn sử dụng do các đơn vị trong ngành đăng kiểm thực hiện. Sự phối hợp chưa thường xuyên nên số phương tiện được xác định hết niên hạn sử dụng nhưng chưa thu hồi biển số, giải bản mà tiếp tục được đưa về vùng sâu, vùng xa để sử dụng còn nhiều.

Theo đánh giá của cơ quan giám sát thực hiện pháp luật và báo chí, trong công tác đăng ký, đăng kiểm vẫn còn tiêu cực gây bức xúc trong dư luận; nhiều cơ sở đóng mới, cải tạo phương tiện không đủ điều kiện được cấp phép nhưng vẫn hành nghề, sau kiểm định nhiều chủ phương tiện tự ý thay đổi các thiết bị, phụ tùng, thay đổi kết cấu, nâng trọng tải phương tiện.

Mặc dù Bộ Giao thông vận tải đã có quy định về bảo dưỡng định kỳ phương tiện giao thông đường bộ nhưng việc thực hiện ở các đơn vị, doanh nghiệp vận tải chưa thực sự nghiêm túc. Việc bảo đảm kỹ thuật an toàn phương tiện giữa hai kỳ kiểm định vẫn chủ yếu giao lái xe tự làm. Việc đăng ký xe máy chuyên dùng, đăng ký xe công nông còn chậm, đến nay mới đăng ký được 35.087 xe đạt 62% tổng số xe máy chuyên dùng.

Đến nay, chúng ta vẫn chưa quản lý tốt xe cho người tàn tật; một số loại xe tự lắp ráp như xe lôi, xe ba gác máy, xe mang nhãn hiệu thương binh hoạt động không có đăng ký, không nằm trong sự quản lý của các cơ quan chức năng.

2.4. Công tác đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe

Công tác đào tạo sát hạch cấp giấy phép lái xe còn một số tồn tại, việc quản lý, giáo dục lái xe chưa được coi trọng đúng mức.

Trình độ quản lý, năng lực đội ngũ giáo viên dạy lái xe chưa đồng đều, nhiều nơi công tác quản lý chưa tốt. Hiện tượng cắt xén nội dung, chương trình đào tạo khá phổ biến; do giá xăng dầu tăng cao, một số cơ sở tìm cách giảm chi phí bằng cách khoán chi phí xăng dầu tập lái cho giáo viên dẫn tới giáo viên dạy không đủ km hoặc phải thu thêm tiền của học viên.

Trong công tác sát hạch, việc sát hạch lái xe môtô làm thủ công, phân tán, chất lượng không đồng đều, ở một số nơi chất lượng thấp, có nơi xẩy ra tiêu cực.

Công tác quản lý, giáo dục lái xe thường xuyên chưa được các doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động chú ý đúng mức ; chưa tổ chức phổ biến, tuyên truyền pháp luật định kỳ cho lái xe, chưa bảo đảm các điều kiện làm việc, nghỉ ngơi, khám, chăm sóc sức khỏe, các chế độ bảo hộ, bảo hiểm cho lái xe theo đúng quy định của pháp luật; dẫn đến tình trạng không ít lái xe coi thường kỷ cương pháp luật, cá biệt có lái xe chống người thi hành công vụ, nhiều lái xe nghiện hút ma tuý

2.5. Về quản lý hoạt động vận tải

Trong quản lý hoạt động vận tải còn đơn giản, việc tổ chức các doanh nghiệp còn manh mún, kém hiệu quả, các doanh nghiệp chưa chú trọng áp dụng hệ thống tiêu chuẩn quản lý chất lượng dịch vụ, đăng ký thương hiệu, cạnh tranh lành mạnh bằng nâng cao chất lượng, giá cả và các ưu đãi khác.

Chất lượng dịch vụ vận tải khách chưa được nâng cao đúng mức, hiện tượng chở quá tải, chạy nhanh, vượt ẩu, chở hàng hoá trong khoang hành khách còn nhiều; cá biệt có hiện tượng chở người trên mui, trong khoang chở hành lý.

Chưa hình thành được trạm dừng nghỉ để tổ chức vận tải hợp lý, bảo đảm an toàn; công tác quản lý ở các bến xe chưa tốt, chưa tạo tiện lợi và yên tâm cho xe và khách vào bến khi khởi đầu và kết thúc hành trình.

2.6. Công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về giao thông đường bộ

Do hạn chế về lực lượng, công tác tuần tra, kiểm soát chưa bao quát hết địa bàn được giao và thời gian trong ngày, vì vậy, các hành vi vi phạm pháp luật giao thông như điều khiển xe không có giấy phép lái xe, chở quá khổ, quá tải, quá số người quy định, chở hàng cồng kềnh, đi không đúng phần đường, xâm phạm các công trình giao thông, chiếm dụng lòng đường, vỉa hè … còn diễn ra phổ biến. Công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm vẫn còn chưa đạt mục tiêu: “Mọi vi phạm đều phải được phát hiện, xử lý kịp thời nghiêm minh” quy định trong Luật Giao thông đường bộ. Hiện tượng tiêu cực không xử lý hoặc xử lý không đúng mức trong xử lý vi phạm hành chính còn không ít.

Có sự không thống nhất trong tổ chức lực lượng Thanh tra đường bộ và thẩm quyền xử lý vi phạm trong thời gian dài nên lực lượng Thanh tra đường bộ của Cục Đường bộ Việt Nam trong thời gian từ năm 2003 đến năm 2005 hoạt động hiệu quả không cao. Các Trạm kiểm tra tải trọng xe ngừng hoạt động để hiện đại hoá, củng cố lực lượng nhưng chậm củng cố, hiện đại hóa nên chưa hoạt động được; hiện tượng xe vi phạm quá tải tăng. Quy định Thanh tra đường bộ chỉ được kiểm soát, xử lý vi phạm ở các “điểm giao thông tĩnh” trong khi các vi phạm nhất là vi phạm trong hoạt động vận tải xâm phạm hành lang an toàn giao thông đường bộ lại rất “động” nên rất hạn chế vai trò, tác dụng của lực lượng này.

3. Nguyên nhân của những tồn tai, yếu kém

3.1. Các nguyên nhân khách quan

3.1.1. Trong thời gian qua, hệ thống quốc lộ, đường tỉnh và đường đô thị chủ yếu được đầu tư nâng cấp từ hệ thống đường cũ, đất hành lang an toàn hai bên đường được tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định từ lâu, vì vậy để mở rộng, giải toả đủ bề rộng hành lang an toàn theo cấp đường mới rất khó khăn, tốn kém. Đặc biệt là giao thông đô thị trong điều kiện tăng dân số cơ học rất nhanh, quy mô đô thị tăng 3-4 lần so với trước nhưng đường xá tăng không đáng kể; ngoài ra thiếu sự đồng bộ giữa quy hoạch phát triển kinh tế xã hội ở các đô thị lớn với quy hoạch phát triển giao thông. Quy hoạch đô thị có nhiều điểm không phù hợp khi tập trung mật độ quá cao ở khu vực trung tâm; phân khu chức năng trong quy hoạch đô thị không rõ làm tăng tần xuất đi lại và rất khó tổ chức giao thông.

3.1.2. Chúng ta phát triển từ nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp là chính, lại trải qua thời kỳ dài trong cơ chế bao cấp nên nhiều thói quen, tập quán lạc hậu, cách nghĩ, cách làm bảo thủ, lạc hậu còn tồn tại nhiều, như:

- Thói quen đi lại tự do, tuỳ tiện khá phổ biến.

- Thói quen buôn bán nhỏ, bám mặt đường, chiếm dụng lòng đường vỉa hè còn nhiều.

- Nhiều địa phương chạy theo mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo nhiệm kỳ, giải quyết cấp đất, cho thuê đất dọc theo tuyến đường không quy hoạch thành khu công nghiệp, khu dân cư có tổ chức giao thông rõ ràng.

- Trong xử lý vi phạm nhiều khi cũng còn thiếu nghiêm minh; nhiều người vi phạm khi bị xử lý chưa chấp hành quyết định xử phạt của cơ quan chức năng; thói quen “xe to đền xe nhỏ”, “ người đi xe đền người đi bộ” vẫn còn tồn tại.

3.1.3. Kinh tế phát triển nhanh, phương tiện cơ giới phát triển mạnh, trong những năm qua, lượng xe ôtô tăng trên 10%/năm, xe môtô, xe gắn máy tăng 15-20%/năm; cả nước có trên 1,1 triệu ôtô (tăng 188 % so với năm 2001); trên 21,7 triệu môtô, xe gắn máy (tăng 247 % so với năm 2001) vượt cao hơn mục tiêu kiềm chế xe cá nhân đề ra trong quy hoạch đến năm 2005 là 13 triệu chiếc và giảm số lượng xe máy lưu hành ở các đô thị trong giai đoạn 2006- 2010. Trong khi đó mục tiêu phát triển giao thông đô thị, phát triển đường cao tốc còn xa mới đạt được yêu cầu đề ra.

3.1.4. Vận tải đường bộ đang phải gánh khối lượng quá lớn mà lẽ ra các phương tiện vận tải khác phải giải quyết :

- Ở các đô thị, việc chậm xây dựng tàu điện ngầm, tàu điện trên cao đã làm cho giao thông trên mặt đất không đủ sức giải quyết nhu cầu đi lại của nhân dân nhất là tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh.

- Vận tải đường dài Bắc-Nam phải giải quyết bằng đường sắt, đường biển là chủ yếu thì hiện nay nhu cầu vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường bộ vẫn khá lớn và có một nghịch lý là giá cước vận tải đường bộ hiện nay thấp hơn giá cước đường sắt mà nguyên nhân là do các phương tiện đường bộ cạnh tranh không lành mạnh đã chở quá tải trọng phương tiện, quá tải trọng cầu, đường nhằm hạ chi phí vận chuyển, bù đắp cho giá cước thấp.

3.2. Các nguyên nhân chủ quan

3.2.1. Nguyên nhân chủ quan có tính chất bao trùm là sự yếu kém trong công tác quản lý nhà nước về giao thông vận tải đường bộ (như Nghị quyết 13/2002/NQ-CP và Nghị quyết 32/2007/NQ-CP đã đánh giá).

- Nguyên nhân chậm ban hành các văn bản hướng dẫn là do sự phối hợp giữa các Bộ, ngành chưa tốt, chưa xác định đuợc rõ, đầy đủ danh mục, lộ trình ban hành các văn bản để chỉ đạo thực hiện.

- Công tác tuyên truyền còn nhiều bất cập là do chưa có sự chỉ đạo đúng mức của các cơ quan chức năng; kinh nghiệm qua việc quy định đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng xe môtô, xe gắn máy là minh chứng: đối với các nước, việc đội mũ bảo hiểm là đương nhiên, nhưng ở Việt Nam khi ngành Giao thông triển khai chủ trương bắt buộc đội mũ bảo hiểm đã gặp phản ứng không ủng hộ, kể cả của một số phương tiện thông tin đại chúng làm cho chủ trương này bị chậm lại. Chỉ khi Chính phủ trực tiếp chỉ đạo, yêu cầu các Bộ, ngành, chính quyền địa phương thực hiện quyết liệt, đẩy mạnh tuyên truyền, đến nay người tham gia giao thông bằng phương tiện xe mô tô, xe gắn máy đã chấp hành nghiêm chỉnh.

- Luật Giao thông đường bộ, Luật Đất đai quy định chính quyền địa phương chịu trách nhiệm chính công tác quản lý hành lang an toàn giao thông đường bộ, nhưng hầu hết UBND các cấp ít quan tâm chỉ đạo thực hiện.

- Về quản lý phương tiện, quản lý đào tạo, sát hạch, cấp Giấy phép lái xe, quản lý vận tải, tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm là do các cơ quan, lực lượng chức năng của nhà nước hoặc các đơn vị dịch vụ cùng thực hiện nhưng còn những tồn tại, yếu kém, thậm chí tiêu cực do công tác quản lý giáo dục Cán bộ công chức, cơ chế quản lý, giám sát, kiểm tra, xử lý người vi phạm làm chưa đúng mức, chưa thường xuyên và chưa nghiêm minh.

3.2.2. Trong xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông do một số nguyên nhân:

- Hiện nay, trên các tuyến đường bộ, chúng ta chưa giải tỏa hành lang an toàn giao thông theo bề rộng quy định, hoặc chỉ giải tỏa một phần, sau đó giao cho chính quyền địa phương chịu trách nhiệm quản lý; trong khi tổ chức, cá nhân đã được giao sử dụng đất ổn định, lâu dài, chính quyền địa phương thiếu kiên quyết. Vì vậy rất khó khăn cho việc ngăn cấm xây dựng, cơi nới nhất là đối với đất thổ cư.

- Nhiều địa phương cấp đất cho doanh nghiệp xây dựng khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ hoặc cấp đất cho dân làm nhà ở nhưng không theo quy hoạch và không chuẩn bị trước kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ kể cả đường đấu nối với đường bộ hiện có, dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất hành lang để đấu nối, phá vỡ tiêu chuẩn kỹ thuật của đường bộ hiện có, gây mất an toàn giao thông.

- Các tuyến giao thông nông thôn xây dựng hiện nay chủ yếu là nâng cấp mặt đường trên cơ sở đường cũ, các yếu tố kỹ thuật nhất là tầm nhìn không bảo đảm; mật độ xe gắn máy ở nông thôn ngày càng tăng, nguy cơ gia tăng tại nạn xe máy ở vùng nông thôn đã thấy rõ.

- Trách nhiệm quản lý, bảo trì, sửa chữa hệ thống giao thông đường bộ chưa được các Khu quản Quản lý đường bộ thực hiện tốt. Các tuyến đường huyện, Giao thông nông thôn hầu như chưa có đơn vị quản lý, bảo trì; hệ thống An toàn giao thông thiếu nghiêm trọng; kinh phí cho công tác quản lý, bảo trì không đáp ứng yêu cầu.

- Các dự án xây dựng đường bộ còn dàn trải, nhiều tuyến chưa xây dựng đồng bộ giữa cầu và đường dấn đến hạn chế khả năng khai thác, không phát huy hiệu quả vốn đầu tư.

3.2.3. Chưa có quy định về trách nhiệm cụ thể và chế tài xử lý các đơn vị quản lý vận tải trong thực hiện các quy định của Luật Giao thông đường bộ năm 2001:

- Luật Giao thông đường bộ quy định lái xe không được lái quá 10 giờ trong ngày, không được lái quá 4 giờ liên tục; Luật Lao động quy định chế độ bảo hiểm, khám sức khoẻ định kỳ cho người lái xe. Tuy nhiên rất ít các doanh nghiệp thực hiện quy định này.

- Cần có định hướng để các doanh nghiệp vận tải cạnh tranh lành mạnh theo hướng nhà nước công bố tiêu chuẩn dịch vụ vận tải khách, các doanh nghiệp đăng ký chất lượng phục vụ, xây dựng thương hiệu, bảo vệ quyền lợi và chịu sự giám sát của hành khách. Nhà nước tăng cường kiểm tra, thanh tra việc thực hiện ở các doanh nghiệp.

3.2.4. Chưa nêu cao vai trò của Hiệp hội vận tải ôtô, của các Công đoàn cơ sở, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lái xe; đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực của lực lượng tuần tra, kiểm soát; với các việc làm không đúng của chủ doanh nghiệp; không chở hàng quá tải, không phóng nhanh để rút ngắn thời gian quay vòng.

4. Sự cần thiết và quan điểm chỉ đạo xây dựng, ban hành Luật Giao thông đường bộ năm 2008

Quá trình phát triển của nền kinh tế và hệ thống phát luật Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra yêu cầu phải xây dựng, củng cố và không ngừng hoàn thiện mạng lưới giao thông và hệ thống pháp luật về giao thông, trong đó có giao thông đường bộ như xây dựng mạng lưới giao thông hiện đại, tổ chức giao thông hợp lý, nâng cao ý thức chấp hành luật của người tham gia giao thông, bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn, hiệu quả. Đối với giao thông đường bộ, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ này cần phải sửa đổi, bổ sung Luật Giao thông đường bộ năm 2001, thay thế Luật này bằng một đạo lụât mới. Đây là yêu cầu cấp thiết và là lý do của việc ra đời Luật Giao thông đường bộ năm 2008.

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 được xây dựng, ban hành dựa trên quan điểm quán triệt đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các nguyên tắc sau:

- Bảo đảm tính kế thừa các nội dung phù hợp của Luật năm 2001, bổ sung những nội dung chưa được Luật năm 2001 điều quy định hoặc quy định chưa rõ, không phù hợp; bãi bỏ những quy định không còn phù hợp với thực tiễn và xu thế phát triển, hội nhập của ngành giao thông vận tải.

- Đáp ứng nhu cầu phát triển, hội nhập theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần đắc lực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

- Bảo đảm tính phù hợp, thống nhất với Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam.

- Bảo đảm tuân thủ các Điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên, đồng thời vận dụng quy định của các điều ước, tập quán quốc tế và luật nước ngoài phù hợp với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam và xu thế, thực tiễn của hoạt động giao thông vận tải đường bộ trong nước.


 

Phần thứ hai

BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN

CỦA LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ NĂM 2008

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, có hiệu lực từ ngày 01/7/2009; gồm 8 Chương với 89 điều.

Trong số 89 Điều Luật chỉ có 03 Điều của Luật Giao thông đường bộ năm 2001 được giữ nguyên (chiếm 3.37%); có 68 Điều bổ sung, sửa đổi (chiếm 76.40%) và 18 Điều mới (chiếm 20.23%).

1. Chương I. Những quy định chung, gồm 8 Điều (từ Điều 1 đến Điều 8)

Chương này quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; nguyên tắc hoạt động, chính sách phát triển, quy hoạch giao thông vận tải đường bộ; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ và các hành vi bị nghiêm cấm.

1.1. Về phạm vi điều chỉnh

Luật giao thông đường bộ năm 2008 tại Điều 1 quy định:“Luật này quy định về quy tắc giao thông đường bộ; kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; phương tiện và người tham gia giao thông đường bộ; vận tải đường bộ và quản lý nhà nước về giao thông đường bộ”

Quy định phạm vi điều chỉnh theo hướng liệt kê tên Chương để thể hiện đầy đủ các lĩnh vực điều chỉnh của Luật giao thông đường bộ năm 2008, không chỉ tập trung vào vấn đề an toàn giao thông đường bộ như Luật giao thông đường bộ năm 2001 mà còn điều chỉnh về quản lý vận tải, phương tiện giao thông đường bộ, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, đầu tư, xây dựng, khai thác, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông.

1.2. Về nguyên tắc hoạt động

Với phạm vi điều chỉnh như vậy, tại Điều 4, nguyên tắc hoạt động giao thông đường bộ cũng được quy định rõ và bổ sung một số nguyên tắc cho phù hợp với phạm vi điều chỉnh toàn diện hoạt động giao thông vận tải đường bộ thể hiện ở các khoản 1, 2 và khoản 3 Điều 4:

“1. Hoạt động giao thông đường bộ phải bảo đảm thông suốt, trật tự, an toàn, hiệu quả; góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.

2. Phát triển giao thông đường bộ theo quy hoạch, từng bước hiện đại và đồng bộ; gắn kết phương thức vận tải đường bộ với các phương thức vận tải khác.

3. Quản lý hoạt động giao thông đường bộ được thực hiện thống nhất trên cơ sở phân công, phân cấp trách nhiệm, quyền hạn cụ thể, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp.”

1.3. Về giải thích từ ngữ

Điều 3 - Giải thích từ ngữ với 32 khái niệm được giải thích, so với Luật giao thông đường bộ năm 2001 có thêm 11 từ ngữ mới được giải thích cũng thể hiện sự mở rộng hơn phạm vi điều chỉnh của Luật giao thông đường bộ năm 2008. Các từ ngữ mới được bổ sung chủ yếu thuộc lĩnh vực kết cấu hạ tầng đường bộ và vận tải đường bộ, bao gồm:

“11. Nơi đường giao nhau cùng mức (sau đây gọi là nơi đường giao nhau) là nơi hai hay nhiều đường bộ gặp nhau trên cùng một mặt phẳng, gồm cả mặt bằng hình thành vị trí giao nhau đó.

13. Đường chính là đường bảo đảm giao thông chủ yếu trong khu vực.

14. Đường nhánh là đường nối vào đường chính.

15. Đường ưu tiên là đường mà trên đó phương tiện tham gia giao thông đường bộ được các phương tiện giao thông đến từ hướng khác nhường đường khi qua nơi đường giao nhau, được cắm biển báo hiệu đường ưu tiên.

16. Đường gom là đường để gom hệ thống đường giao thông nội bộ của các khu đô thị, công nghiệp, kinh tế, dân cư, thương mại - dịch vụ và các đường khác vào đường chính hoặc vào đường nhánh trước khi đấu nối vào đường chính.

26. Hành khách là người được chở trên phương tiện vận tải hành khách đường bộ, có trả tiền.

27. Hành lý là vật phẩm mà hành khách mang theo trên cùng phương tiện hoặc gửi theo phương tiện khác.

28. Hàng hóa là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên liệu, hàng tiêu dùng, động vật sống và các động sản khác được vận chuyển bằng phương tiện giao thông đường bộ.

30. Vận tải đường bộ là hoạt động sử dụng phương tiện giao thông đường bộ để vận chuyển người, hàng hóa trên đường bộ.

31. Người vận tải là tổ chức, cá nhân sử dụng phương tiện giao thông đường bộ để thực hiện hoạt động vận tải đường bộ.

32. Cơ quan quản lý đường bộ là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành thuộc Bộ Giao thông vận tải; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện); Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã).”

Bên cạnh những từ ngữ mới được giải thích, một số khái niệm cũng được bổ sung, chỉnh sửa cho phù hợp với sự phát triển của hoạt động giao thông đường bộ và yêu cầu của công tác quản lý nhà nước hiện nay, cụ thể:

- Tại khoản 2 quy định: “Công trình đường bộ gồm đường bộ, nơi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu, rào chắn, đảo giao thông, dải phân cách, cột cây số, tường, kè, hệ thống thoát nước, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí và các công trình, thiết bị phụ trợ đường bộ khác.”

Như vậy đã bổ sung thêm một số công trình: vạch kẻ đường, rào chắn, đảo giao thông, cột cây số, tường, kè, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí.

- Tại khoản 3 quy định “Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ gồm công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ.”

Theo Luật giao thông đường bộ năm 2001, khái niệm “kết cấu hạ tầng giao thông” nằm ở Chương III - Kết cấu hạ tầng giao thông. Luật giao thông đường bộ năm 2008 đã chuyển khái niệm này lên Điều 3 - Giải thích từ ngữ vì đây là khái niệm được sử dụng nhiều, đồng thời cũng bổ sung thêm đối tượng thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ gồm “trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông” .

- Tại khoản 4 quy định: “Đất của đường bộ là phần đất trên đó công trình đường bộ được xây dựng và phần đất dọc hai bên đường bộ để quản lý, bảo trì, bảo vệ công trình đường bộ”.

Với quy định này, khái niệm “đất của đường bộ” có sự thay đổi về cơ bản. Với diễn biến phức tạp của việc lấn chiếm hành lang an toàn đường bộ, trước yêu cầu bảo vệ an toàn cho công trình đường bộ, Luật giao thông đường bộ năm 2008 đã quy định đất của đường bộ không chỉ là “phần đất trên đó công trình đường bộ được xây dựng” như quy định tại Luật năm 2001, mà còn thêm “phần đất dọc hai bên đường bộ để quản lý, bảo trì, bảo vệ công trình đường bộ”. Như vậy, khái niệm “đất của đường bộ” đã mở rộng hơn so với quy định của Luật giao thông đường bộ năm 2001.

- Tại khoản 5 quy định: “Hành lang an toàn đường bộ là dải đất dọc hai bên đất của đường bộ, tính từ mép ngoài đất của đường bộ ra hai bên để bảo đảm an toàn giao thông đường bộ

Khoản này bổ sung quy định về cách tính: “tính từ mép ngoài đất của đường bộ ra hai bên”, bảo đảm sự thống nhất, rõ ràng trong cách xác định phạm vi đất hành lang an toàn đường bộ.

- Tại khoản 12 quy định: “Đường cao tốc là đường dành cho xe cơ giới, có dải phân cách chia đường cho xe chạy hai chiều riêng biệt; không giao nhau cùng mức với một hoặc các đường khác; được bố trí đầy đủ trang thiết bị phục vụ, bảo đảm giao thông liên tục, an toàn, rút ngắn thời gian hành trình và chỉ cho xe ra, vào ở những điểm nhất định.”

Hiện nay, tại Việt Nam chưa có đường cao tốc và trong thời gian tới, một số dự án xây dựng đường cao tốc đầu tiên tại Việt Nam mới đang được triển khai, vì vậy, việc xác định chính xác khái niệm đường cao tốc là rất cần thiết để tạo cách hiểu thống nhất, làm căn cứ xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật cho đường cao tốc. Vì vậy, Luật giao thông đường bộ năm 2008 đã bổ sung, làm rõ khái niệm “đường cao tốc”, sử dụng những thuật ngữ chính xác hơn, bổ sung một số quy định thể hiện rõ hơn bản chất, những đặc điểm riêng để phân biệt đường cao tốc với các loại đường khác, đó là “không giao nhau cùng mức với một hoặc các đường khác; được bố trí đầy đủ trang thiết bị phục vụ, bảo đảm giao thông liên tục, an toàn, rút ngắn thời gian hành trình và chỉ cho xe ra, vào ở những điểm nhất định.”

- Tại khoản 18 quy định “Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.”

Khoản 19 quy định “Phương tiện giao thông thô sơ đường bộ (sau đây gọi là xe thô sơ) gồm xe đạp (kể cả xe đạp máy), xe xích lô, xe lăn dùng cho người khuyết tật, xe súc vật kéo và các loại xe tương tự.”

Như vậy, khái niệm “phương tiện giao thông cơ giới đường bộ” được bổ sung đối tượng là “rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo” và “xe máy điện”; khái niệm “Phương tiện giao thông thô sơ đường bộ ” được bổ sung đối tượng là “xe đạp máy” và “xe lăn dùng cho người khuyết tật”. Việc bổ sung như vậy để kịp thời xây dựng hành lang pháp lý cho những loại hình phương tiện giao thông chưa được điều chỉnh rõ ràng trong hệ thống pháp luật về giao thông đường bộ như “xe máy điện” và “xe đạp máy”…

Riêng đối với “xe đạp máy”, mặc dù là phương tiện có gắn động cơ nhưng do có tốc độ thiết kế thấp (chỉ khoảng 25-30km/h) và khi không dùng động cơ có thể sử dụng như xe đạp nên Luật giao thông đường bộ năm 2008 đã xếp loại hình này vào phương tiện giao thông thô sơ đường bộ.

1.4. Về chính sách phát triển giao thông đường bộ, tại Điều 5 Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định:

“Điều 5. Chính sách phát triển giao thông đường bộ

1. Nhà nước tập trung các nguồn lực phát triển giao thông đường bộ, ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở vùng kinh tế trọng điểm, các thành phố, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số; có chính sách huy động các nguồn lực để quản lý, bảo trì đường bộ.

2. Nhà nước có chính sách ưu tiên phát triển vận tải hành khách công cộng; hạn chế sử dụng phương tiện giao thông cá nhân ở các thành phố.

3. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài đầu tư, kinh doanh khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và hoạt động vận tải đường bộ; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến và đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực giao thông đường bộ.”

So với Luật giao thông đường bộ năm 2001, Luật giao thông đường bộ năm 2008 đã bổ sung một số nội dung mới như “có chính sách huy động các nguồn lực để quản lý, bảo trì đường bộ”, “Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài đầu tư, kinh doanh khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và hoạt động vận tải đường bộ” để đáp ứng nhu cầu phát triển giao thông đường bộ hiện nay.

Ngoài ra, chính sách hạn chế sử dụng phương tiện giao thông cá nhân ở các thành phố lớn theo quy định của Luật giao thông đường bộ năm 2001 cũng được mở rộng hơn ở Luật giao thông đường bộ 2008 thành “hạn chế sử dụng phương tiện giao thông cá nhân ở các thành phố”. Như vậy, không chỉ các thành phố lớn mà đối với các thành phố nói chung, chính sách của nhà nước ta là ưu tiên phát triển vận tải hành khách công cộng; hạn chế sử dụng phương tiện giao thông cá nhân. Việc hạn chế sử dụng phương tiện giao thông cá nhân ở các thành phố không có nghĩa là cấm mua, đăng ký, sử dụng phương tiện mà là thông qua việc thực hiện các chính sách phù hợp về thuế, phí và tổ chức phát triển mạng lưới giao thông công cộng thuận tiện, văn minh để thu hút người dân sử dụng.

1.5. Về quy hoạch giao thông vận tải đường bộ

Luật giao thông đường bộ năm 2008 bổ sung một Điều mới (Điều 6) về quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ

Điều 6. Quy hoạch giao thông vận tải đường bộ

1. Quy hoạch giao thông vận tải đường bộ là quy hoạch lĩnh vực chuyên ngành, gồm quy hoạch kết cấu hạ tầng, quy hoạch phương tiện giao thông và vận tải đường bộ.

2. Quy hoạch giao thông vận tải đường bộ được lập trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế, đồng bộ với quy hoạch ngành, lĩnh vực; gắn kết chặt chẽ với quy hoạch các chuyên ngành giao thông vận tải khác.

3. Quy hoạch giao thông vận tải đường bộ được lập cho ít nhất 10 năm và định hướng phát triển cho ít nhất 10 năm tiếp theo; được điều chỉnh phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn. Việc điều chỉnh quy hoạch phải bảo đảm tính kế thừa của các quy hoạch đã được phê duyệt.

Quy hoạch giao thông vận tải đường bộ sau khi được phê duyệt phải được công bố để cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan biết, thực hiện và tham gia giám sát.

4. Quy hoạch giao thông vận tải đường bộ phải xác định rõ mục tiêu, quan điểm, tính chất và quy mô phát triển; nhu cầu sử dụng đất, nhu cầu vốn, nguồn vốn, nguồn nhân lực; xác định danh mục các dự án, dự án ưu tiên; đánh giá tác động của quy hoạch; xác định cơ chế, chính sách và giải pháp thực hiện quy hoạch.

5. Bộ Giao thông vận tải lập quy hoạch giao thông vận tải đường bộ trong phạm vi cả nước, liên vùng, vùng; quy hoạch quốc lộ, đường cao tốc trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt sau khi có ý kiến của các bộ, cơ quan ngang bộ và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan.

6. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định quy hoạch giao thông vận tải đường bộ do địa phương quản lý, trước khi trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định phải có ý kiến của Bộ Giao thông vận tải.

Đối với quy hoạch giao thông vận tải đường bộ của thành phố trực thuộc trung ương loại đô thị đặc biệt thì Uỷ ban nhân dân thành phố lập, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua và phải có ý kiến của Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xây dựng trước khi trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

7. Quy hoạch các công trình kỹ thuật hạ tầng khác phải phù hợp, đồng bộ với quy hoạch kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

8. Nhà nước bảo đảm vốn ngân sách nhà nước và có chính sách huy động các nguồn vốn khác cho công tác lập quy hoạch giao thông vận tải đường bộ.”

Điều này được phát triển từ nội dung của Điều 38 - Quy hoạch kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ của Luật giao thông đường bộ năm 2001, mở rộng hơn để quy định không chỉ quy hoạch kết cấu hạ tầng mà là quy hoạch giao thông vận tải nói chung, trong đó bao gồm cả vận tải đường bộ, với các quy định mang tính nguyên tắc trong việc xác định loại hình, mục tiêu, căn cứ, trình tự lập quy hoạch, phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước liên quan trong công tác này.

1.6. Về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ:

Tại khoản 2 Điều 7 Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định “Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ tại địa phương, có hình thức tuyên truyền, phổ biến phù hợp đến đồng bào các dân tộc thiểu số.”

So với Luật giao thông đường bộ năm 2001, Luật giao thông đường bộ năm 2008 đã bổ sung quy định về việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ đến đồng bào các dân tộc thiểu số. Quy định này đòi hỏi phải có chương trình, nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp với đặc điểm văn hoá, ngôn ngữ của đồng bào dân tộc để nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục, bảo đảm các quy định của pháp luật đi vào đời sống, đến được với mọi đối tượng trong xã hội vì đây là một Luật có tính xã hội hóa cao, ảnh hưởng trực tiếp đến người dân.

1.7. Về các hành vi bị nghiêm cấm

Đối với các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008 bổ sung nhiều hành vi gây mất trật tự, an toàn giao thông nghiêm trọng đang diễn ra trên thực tế, gây bức xúc trong dư luận xã hội mà chưa bị quy định nghiêm cấm tại Luật giao thông đường bộ năm 2001, điển hình như các hành vi:

- “đặt, rải vật nhọn, đổ chất gây trơn trên đường; để trái phép vật liệu, phế thải, thải rác ra đường; mở đường, đấu nối trái phép vào đường chính, sử dụng trái phép đất của đường bộ, tự ý tháo mở nắp cống” (khoản 2);

- “Điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ không có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng.” (khoản 9);

- “Giao xe cơ giới, xe máy chuyên dùng cho người không đủ điều kiện để điều khiển xe tham gia giao thông đường bộ.” (khoản 10);

- “giành đường, vượt ẩu.” (khoản 11);

- “Lắp đặt, sử dụng còi, đèn không đúng thiết kế của nhà sản xuất đối với từng loại xe cơ giới; sử dụng thiết bị âm thanh gây mất trật tự an toàn giao thông, trật tự công cộng.” (khoản 13);

- “Vận chuyển hàng cấm lưu thông, động vật hoang dã.” (khoản 14);

- “Đe dọa, xúc phạm, tranh giành, lôi kéo hành khách; bắt ép hành khách sử dụng dịch vụ ngoài ý muốn; xuống khách hoặc các hành vi khác nhằm trốn tránh phát hiện xe chở quá số người quy định.” (khoản 15);

- “Kinh doanh vận tải bằng xe ô tô khi không đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh theo quy định.” (khoản 16);

- “Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của người bị nạn và người gây tai nạn.” (khoản 19);

- “Sản xuất, sử dụng trái phép hoặc mua, bán biển số xe cơ giới, xe máy chuyên dùng” (khoản 22).

Đặc biệt, với mục tiêu tăng cường bảo đảm an toàn giao thông, Luật giao thông đường bộ năm 2008 cũng có quy định chặt chẽ hơn đối với hành vi sử dụng đồ uống có cồn (rượu, bia) của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông, cụ thể:

Tại khoản 8 quy định nghiêm cấm “Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.

Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.”

Tham khảo quy định của 83 nước trên thế giới về nồng độ cồn trong máu và khí thở đối với người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới, có 35 quốc gia quy định mức 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở. Ngoài ra, bên cạnh quy định nồng độ cồn trong máu của người lái xe, một số quốc gia còn quy định trường hợp xảy ra tai nạn giao thông thì người lái xe có nồng độ cồn nhỏ hơn mức quy định vẫn có lỗi; người mới có bằng lái xe trong thời gian 2 năm đầu và người có bằng lái xe dưới 21 tuổi thì nồng độ cồn trong máu khi điều khiển phương tiện bằng 0. Nhìn chung, các quy định này mang tính yêu cầu cao hơn đối với người lái xe ít kinh nghiệm, đối với người lái xe thương mại, lái xe chuyên nghiệp, đặc biệt là xe chở khách công cộng, xe tải hạng nặng, xe chở hàng nguy hiểm…

Như vậy, theo quy định của Luật giao thông đường bộ năm 2008, với những đối tượng điều khiển ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường, do mức độ nguy hiểm cao hơn và nếu gây tai nạn thì hậu quả nghiêm trọng hơn nên bị nghiêm cấm hoàn toàn việc sử dụng đồ uống có cồn (rượu, bia...). Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy trên đường, tuy Luật giao thông đường bộ năm 2008 không cấm sử dụng đồ uống có cồn nhưng quy định nồng độ cồn thấp hơn nhiều so với quy định của Luật giao thông đường bộ năm 2001 và là mức 35 nước trên thế giới áp dụng.

Về quy định cấm sử dụng chất ma túy tại khoản 7 Điều 8: trong quá trình xây dựng Luật, có ý kiến cho rằng trên thực tế, nhiều trường hợp vì lý do chữa bệnh mà phải sử dụng các loại thuốc có chứa chất mà túy và đây là những trường hợp sử dụng chất ma túy hợp pháp, vì vậy cần có quy định loại trừ đối với những trường hợp này. Tuy nhiên, Luật giao thông đường bộ năm 2008 vẫn giữ nguyên quy định của Luật giao thông đường bộ năm 2001 là nghiêm cấm hành vi “Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy”. Quy định này nghiêm cấm người lái xe sử dụng chất ma túy mà không phân biệt được phép sử dụng hay sử dụng trái phép vì khi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đòi hỏi người điều khiển phải rất tỉnh táo, luôn làm chủ được hành vi của mình, do đó cần phải cấm triệt để tất cả những người đang điều khiển phương tiện giao thông sử dụng chất ma tuý.

2. Chương II. Quy tắc giao thông đường bộ, gồm 30 Điều (từ Điều 9 đến Điều 38)

Chương này quy định về quy tắc giao thông đường bộ (gồm hệ thống báo hiệu đường bộ; chấp hành báo hiệu đường bộ; tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe; sử dụng làn đường; vượt xe; chuyển hướng xe; lùi xe; tránh xe đi ngược chiều; dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, đường phố; xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ; trường hợp chở người trên xe ô tô chở hàng; quyền ưu tiên của một số loại xe; qua phà, qua cầu phao; nhường đường tại nơi đường giao nhau; đi trên đoạn đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; giao thông trên đường cao tốc, giao thông trong hầm đường bộ; tải trọng và khổ giới hạn của đường bộ; xe kéo xe và xe kéo rơ-moóc; người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp, xe thô sơ khác; người đi bộ, người tàn tật, người già yếu tham gia giao thông; người dẫn dắt súc vật đi trên đường bộ; sử dụng đường phố và các hoạt động khác trên đường phố; tổ chức giao thông và điều khiển giao thông, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi xảy ra tai nạn giao thông).

2.1. Về quy tắc giao thông

So với Luật GTĐB năm 2001, Luật GTĐB năm 2008 bổ sung một số quy định về quy tắc giao thông đường bộ cho phù hợp với tình hình phát triển của xã hội, bảo đảm an toàn giao thông như:

- “Tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường.

Những nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường bảo đảm an toàn.” (khoản 4 Điều 11)

Bên cạnh quy định trách nhiệm của người đi bộ, Luật GTĐB năm 2008 đã bổ sung quy định về việc nhường đường của người điều khiển phương tiện đối với người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường, bảo đảm quyền được đi lại an toàn của người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật.

- “Khi dừng xe, không được tắt máy và không được rời khỏi vị trí” (điểm e khoản 3 Điều 18).

Quy định này cùng với việc bổ sung quy định về khái niệm “Dừng xe là trạng thái đứng yên tạm thời của phương tiện giao thông trong một khoảng thời gian cần thiết đủ để cho người lên, xuống phương tiện, xếp dỡ hàng hóa hoặc thực hiện công việc khác.” (khoản 1 Điều 18) và “Đỗ xe là trạng thái đứng yên của phương tiện giao thông không giới hạn thời gian.” (khoản 2 Điều 18) đã phân biệt rõ hơn sự khác nhau cơ bản của hành vi “dừng xe” và “đỗ xe”, theo đó được coi là “dừng xe” khi xe đứng yên trong một khoảng thời gian ngắn, xe không được tắt máy và người lái xe không được rời khỏi vị trí lái, còn khi xe đứng yên trong khoảng thời gian dài, xe tắt máy thì được coi là “đỗ xe” và người lái xe trong trường hợp này được rời khỏi vị trí lái. Khái niệm này được xây dựng trên cơ sở tham khảo Điều 1 Chương I Công ước quốc tế về giao thông đường bộ (sau đây viết tắt là Công ước Viên).

Với sự phân biệt rõ ràng giữa hai hành vi này, việc áp dụng các quy định về dừng xe và đỗ xe được hiểu một cách thống nhất, tạo thuận lợi trong quá trình thực hiện của người lái xe cũng như công tác xử phạt vi phạm của cơ quan có thẩm quyền.

- “Sau khi đỗ xe, nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết” (điểm d khoản 3 Điều 18).

Quy định này mới được bổ sung, áp dụng trong trường hợp vì lý do đột xuất, xe bị hỏng hóc giữa đường, không thể đưa xe vào lề đường thì người lái xe “phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe”. Như vậy, các loại xe (chủ yếu là ô tô, máy kéo) khi đi trên đường luôn luôn phải mang theo 02 biển báo nguy hiểm như một trong những thiết bị an toàn bắt buộc. Căn cứ quy định này, các quy định về tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông trên đường bộ cũng sẽ được bổ sung cho phù hợp.

- “Người đi bộ, xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô và máy kéo; xe máy chuyên dùng có tốc độ thiết kế nhỏ hơn 70 km/h không được đi vào đường cao tốc, trừ người, phương tiện, thiết bị phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc trừ người, phương tiện, thiết bị phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc.” (khoản 4 Điều 26).

Theo định nghĩa, bản chất của đường cao tốc là đường có tiêu chuẩn kỹ thuật cao, dành cho xe cơ giới đi với tốc độ cao để rút ngắn thời gian hành trình mà vẫn bảo đảm an toàn. Vì vậy, những đối tượng là xe thô sơ hoặc xe cơ giới nhưng không bảo đảm tốc độ và độ an toàn nhất định hoặc không thực hiện các công việc quản lý, bảo trì đường cao tốc thì không được đi vào đường cao tốc, bao gồm người đi bộ, xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô, máy kéo và đối với xe máy chuyên dùng, Luật chỉ khống chế những loại xe có tốc độ thiết kế nhỏ hơn 70 km/h mới không được đi vào đường cao tốc, những xe máy chuyên dùng có tốc độ thiết kế từ 70km/h trở lên vẫn được đi vào đường cao tốc.

- Người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe gắn máy chỉ được chở một người, trừ những trường hợp sau thì được chở tối đa hai người:

a) Chở người bệnh đi cấp cứu;

b) Áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;

c) Trẻ em dưới 14 tuổi.” (khoản 1 Điều 30)

- “Người điều khiển xe đạp chỉ được chở một người, trừ trường hợp chở thêm một trẻ em dưới 7 tuổi thì được chở tối đa hai người.” (khoản 1 Điều 31)

Để bảo đảm an toàn giao thông, tạo cơ sở thống nhất cho việc ban hành các văn bản dưới luật về xử phạt vi phạm hành chính, căn cứ vào tình hình thực tế, Luật Giao thông đường bộ đã quy định cụ thể về độ tuổi của trẻ em được chở thêm trên xe mô tô, xe gắn máy là dưới 14 tuổi và xe đạp là dưới 7 tuổi (Luật năm 2001 không quy định độ tuổi cụ thể).

Như vậy, người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe gắn máy, xe đạp chỉ được chở tối đa 2 người và ít nhất một trong hai người đó phải là trẻ em dưới 14 tuổi (đối với xe mô tô, xe gắn máy) hoặc trẻ em dưới 7 tuổi (đối với xe đạp). Các trường hợp chở từ 2 người lớn trở lên (trừ trường hợp xe mô tô hai bánh, xe gắn máy chở người bệnh đi cấp cứu hoặc áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật) đều là hành vi vi phạm, không phụ thuộc vào tuổi của người được chở (kể cả chở 03 trẻ em vẫn bị coi là hành vi vi phạm).

- “Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy phải đội mũ bảo hiểm có cài quai đúng quy cách.” (khoản 2 Điều 30), “Người điều khiển, người ngồi trên xe đạp máy phải đội mũ bảo hiểm có cài quai đúng quy cách.” (khoản 2 Điều 31).

Việc bổ sung quy định đội mũ bảo hiểm “có cài quai đúng quy cách” để làm căn cứ xử phạt những hành vi đội mũ bảo hiểm mang tính hình thức, không cài quai hoặc cài quai ngược, làm mất tính chất bảo vệ của mũ bảo hiểm, mất ý nghĩa bảo đảm an toàn cho người tham gia giao thông của điều luật.

Một điểm đáng chú ý là ngoài quy định người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy phải đội mũ bảo hiểm có cài quai đúng quy cách, Luật GTĐB năm 2008 còn bổ sung quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm đối với người điều khiển, người ngồi trên xe đạp máy. Mặc dù theo quy định tại Điều 3, xe đạp máy được xếp vào loại xe thô sơ do có tốc độ thiết kế chỉ khoảng 25-30km/h, loại xe này không phải đăng ký để cấp biển số, người điều khiển không cần có giấy phép lái xe và khi tham gia giao thông trên đường phải đi vào làn xe thô sơ nhưng với tốc độ như trên vẫn nguy hiểm nên để bảo vệ tính mạng của người điều khiển, người ngồi trên xe, Luật quy định người điều khiển loại xe này phải đội mũ bảo hiểm.

Trong quá trình xây dựng Luật GTĐB năm 2008, cũng có ý kiến cho rằng nên cân nhắc quy định việc đội mũ bảo hiểm đối với một số chức sắc tôn giáo, người dân tộc có thói quen đội khăn, phụ nữ một số dân tộc búi tóc ở đỉnh đầu khi tham gia giao thông...Tuy nhiên, Hiến pháp đã quy định mọi công dân bình đẳng trước pháp luật, nên Luật không thể quy định trường hợp ngoại trừ, hơn nữa, việc đội mũ bảo hiểm là nhằm bảo vệ tính mạng, sức khoẻ cho người tham gia giao thông.

Nhiều quy định về quy tắc giao thông đường bộ khác cũng được bổ sung như:

- “Trong trường hợp tín hiệu vàng nhấp nháy là được đi nhưng phải giảm tốc độ, chú ý quan sát, nhường đường cho người đi bộ qua đường.” (khoản 3 Điều 10);

- “Không được quay đầu xe ở đường dốc…” (khoản 4 Điều 15);

- “Không được dừng xe, đỗ xe trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước.” (khoản 2 Điều 19);

- “Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng trên đường cao tốc... không được cho xe chạy ở làn dừng xe khẩn cấp” (điểm c khoản 1 Điều 26);

- “Người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy không được sử dụng thiết bị âm thanh, trừ thiết bị trợ thính” (khoản 3 Điều 30);

- “Người điều khiển xe súc vật kéo phải có biện pháp bảo đảm vệ sinh trên đường” (khoản 3 Điều 31).

- “Không đu bám vào phương tiện giao thông đang chạy; khi mang vác vật cồng kềnh phải bảo đảm an toàn và không gây trở ngại cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.” (khoản 4 Điều 32);

- “Không được lắp đặt biển hiệu, biển quảng cáo hoặc thiết bị khác làm giảm sự chú ý, gây nhầm lẫn nội dung biển báo hiệu hoặc gây cản trở người tham gia giao thông” (điểm e khoản 2 Điều 35), “Không được sử dụng bàn trượt, pa-tanh, các thiết bị tương tự trên phần đường xe chạy” (điểm h khoản 2 Điều 35)

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng đã pháp điển hóa một số quy định tại Nghị định số 14/2003/NĐ-CP ngày 19/2/2003 của Chính phủ và một số quy định tại các văn bản dưới luật khác quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Giao thông đường bộ năm 2001 ( đã được thực hiện ổn định trong thực tế ) nâng chúng lên thành một số quy định tại các điều, khoản của Luật, cụ thể:

- Quy định cụ thể vị trí dừng xe, đỗ xe trên đường phố “bánh xe gần nhất không được cách xa lề đường, hè phố quá 0,25 mét và không gây cản trở, nguy hiểm cho giao thông.” (khoản 1 Điều 19)

- Bổ sung 2 Điều mới quy định về việc xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ (Điều 20) và quy định các trường hợp được phép chở người trên xe ô tô chở hàng (Điều 21):

“Điều 20. Xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ

1. Hàng hóa xếp trên xe phải gọn gàng, chằng buộc chắc chắn, không để rơi vãi dọc đường, không kéo lê hàng hóa trên mặt đường và không cản trở việc điều khiển xe.

2. Khi xếp hàng hóa vượt phía trước và phía sau xe thì ban ngày phải có cờ báo hiệu màu đỏ, ban đêm hoặc khi trời tối phải có đèn đỏ báo hiệu.

3. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể việc xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ.

Điều 21. Trường hợp chở người trên xe ô tô chở hàng

1. Chỉ được chở người trên xe ô tô chở hàng trong các trường hợp sau đây:

a) Chở người đi làm nhiệm vụ phòng, chống thiên tai hoặc thực hiện nhiệm vụ khẩn cấp; chở cán bộ, chiến sĩ của lực lượng vũ trang nhân dân đi làm nhiệm vụ; chở người bị nạn đi cấp cứu;

b) Chở công nhân duy tu, bảo dưỡng đường bộ; chở người đi thực hành lái xe trên xe tập lái; chở người diễu hành theo đoàn;

c) Giải tỏa người ra khỏi khu vực nguy hiểm hoặc trong trường hợp khẩn cấp khác theo quy định của pháp luật.

2. Xe ô tô chở người trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này phải có thùng cố định, bảo đảm an toàn khi tham gia giao thông.”

- Quy định cụ thể việc tổ chức hoạt động văn hóa, thể thao, diễu hành, lễ hội trên đường bộ phải có sự thống nhất của cơ quan quản lý đường bộ, được thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và có phương án tổ chức giao thông, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông.

"Tổ chức hoạt động văn hóa, thể thao, diễu hành, lễ hội trên đường bộ thực hiện theo quy định sau đây:

a) Cơ quan, tổ chức có nhu cầu sử dụng đường bộ để tiến hành hoạt động văn hóa, thể thao, diễu hành, lễ hội phải được cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền thống nhất bằng văn bản về phương án bảo đảm giao thông trước khi xin phép tổ chức các hoạt động trên theo quy định của pháp luật;

b) Trường hợp cần hạn chế giao thông hoặc cấm đường thì cơ quan quản lý đường bộ phải ra thông báo phương án phân luồng giao thông; cơ quan, tổ chức có nhu cầu sử dụng đường bộ quy định tại điểm a khoản 1 Điều này phải thực hiện việc đăng tải thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và thực hiện các biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ;

c) Ủy ban nhân dân nơi tổ chức hoạt động văn hóa, thể thao, diễu hành, lễ hội có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan chức năng của địa phương tổ chức việc phân luồng, bảo đảm giao thông tại khu vực diễn ra hoạt động văn hóa, thể thao, diễu hành, lễ hội.” (khoản 1 Điều 35)

2.2. Về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước

- Đối với quy định về tải trọng và khổ giới hạn của đường bộ, Luật Giao thông đường bộ năm 2001 giao Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải công bố tải trọng, khổ giới hạn của đường bộ nói chung. Tuy nhiên, trên thực tế, quy định này nảy sinh nhiều bất cập vì Bộ Giao thông vận tải chỉ quản lý quốc lộ, còn hệ thống đường địa phương do Ủy ban nhân dân quản lý, như vậy, Ủy ban nhân dân là cơ quan quản lý đường địa phương, nắm rõ tính chất, tình trạng của đường nhưng lại không có thẩm quyền công bố tải trọng, khổ giới hạn của đường. Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã có quy định mới, phân biệt trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc công bố về tải trọng, khổ giới hạn của đường bộ. Theo đó, “Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải công bố về tải trọng, khổ giới hạn của quốc lộ” (khoản 3 Điều 28) còn “Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố về tải trọng, khổ giới hạn của đường bộ do địa phương quản lý.” (khoản 4 Điều 28).

- Đối với việc giải quyết tai nạn giao thông, Luật GTĐB năm 2008 đã chỉ rõ Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra tai nạn là cơ quan đầu tiên chịu trách nhiệm giải quyết vụ tai nạn giao thông (Luật GTĐB năm 2001 không quy định cụ thể Uỷ ban nhân dân cấp nào), đồng thời quy định cụ thể trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc giải quyết tai nạn giao thông:

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra tai nạn có trách nhiệm kịp thời thông báo cho cơ quan công an, y tế đến để xử lý, giải quyết vụ tai nạn; tổ chức cứu chữa, giúp đỡ người bị nạn, bảo vệ hiện trường, bảo vệ tài sản của người bị nạn; trường hợp có người chết mà không rõ tung tích, không có thân nhân hoặc thân nhân không có khả năng chôn cất thì sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã hoàn tất các công việc theo quy định của pháp luật và đồng ý cho chôn cất, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức chôn cất.

Trường hợp vụ tai nạn vượt quá khả năng giải quyết, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải kịp thời báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp trên.” (khoản 5 Điều 38).

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng bổ sung quy định việc cơ quan y tế có trách nhiệm đến ngay hiện trường nơi xảy ra tai nạn để giải quyết (Luật Giao thông đường bộ năm 2001 chỉ quy định đối với cơ quan công an). Ngoài ra cũng bổ sung quy định tại khoản 6 Điều 38:

“ Bộ Công an có trách nhiệm thống kê, tổng hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về tai nạn giao thông đường bộ, cung cấp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.”

Quy định này giao trách nhiệm cụ thể cho Bộ Công an trong việc thống kê thông tin về tai nạn giao thông, khắc phục tình trạng các số liệu thống kê không thống nhất, thiếu chính xác, việc các cơ quan tìm kiếm thông tin về tình hình tai nạn giao thông để phục vụ công tác cũng gặp nhiều khó khăn. Với quy định này, việc xây dựng được một cơ sở dữ liệu thông tin về tai nạn giao thông do Bộ Công an quản lý sẽ bảo đảm đầu mối thống nhất, nâng cao chất lượng, tính chính xác của số liệu thống kê tai nạn giao thông đường bộ phục vụ công tác tổng hợp, nghiên cứu, xây dựng chính sách đề ra các giải pháp phòng ngừa tai nạn giao thông của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như yêu cầu thu thập thông tin của các tổ chức, cá nhân.

3. Chương III. Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, gồm 14 Điều (từ Điều 39 đến Điều 52)

Chương này quy định về phân loại đường bộ; đặt tên, số hiệu đường bộ; tiêu chuẩn kỹ thuật đường bộ; quỹ đất dành cho kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, phạm vi đất dành cho đường bộ; bảo đảm yêu cầu kỹ thuật và an toàn giao thông của công trình đường bộ; công trình báo hiệu đường bộ; đầu tư xây dựng, khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; thi công công trình trên đường bộ đang khai thác; quản lý, bảo trì đường bộ; nguồn tài chính cho quản lý, bảo trì đường bộ; xây dựng đoạn đường giao nhau cùng mức giữa đường bộ với đường sắt; bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí đường bộ; bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

Đây là Chương có nhiều quy định được nâng lên từ văn bản dưới Luật Giao thông đường bộ năm 2001 đã được thực hiện ổn định trong thực tế (Nghị định số 186/2004/NĐ-CP ngày 05/11/2004 của Chính phủ quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ), thể hiện sự quan tâm đến việc đầu tư xây dựng, quản lý và đặc biệt là bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

3.1. Về phân loại đường bộ

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã tách Điều 37-Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và phân loại đường bộ của Luật Giao thông đường bộ năm 2001 thành 03 Điều, cụ thể: Điều 39-Phân loại đường bộ, Điều 40-Đặt tên, số hiệu đường bộ và Điều 41- Tiêu chuẩn kỹ thuật đường bộ để quy định cụ thể hơn về việc phân loại, đặt tên, số hiệu và tiêu chuẩn kỹ thuật của đường bộ, thay vì giao Chính phủ quy định như Luật Giao thông đường bộ năm 2001.

So với Luật Giao thông đường bộ năm 2001, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 bổ sung quy định việc phân loại đường bộ, theo đó, mạng lưới đường bộ gồm 6 hệ thống (quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị, đường chuyên dùng) với các quy định cụ thể để phân biệt các loại đường (khoản 1 Điều 39):

“a) Quốc lộ là đường nối liền Thủ đô Hà Nội với trung tâm hành chính cấp tỉnh; đường nối liền trung tâm hành chính cấp tỉnh từ ba địa phương trở lên; đường nối liền từ cảng biển quốc tế, cảng hàng không quốc tế đến các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính trên đường bộ; đường có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng, khu vực;

b) Đường tỉnh là đường nối trung tâm hành chính của tỉnh với trung tâm hành chính của huyện hoặc trung tâm hành chính của tỉnh lân cận; đường có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh;

c) Đường huyện là đường nối trung tâm hành chính của huyện với trung tâm hành chính của xã, cụm xã hoặc trung tâm hành chính của huyện lân cận; đường có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện;

d) Đường xã là đường nối trung tâm hành chính của xã với các thôn, làng, ấp, bản và đơn vị tương đương hoặc đường nối với các xã lân cận; đường có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của xã;

đ) Đường đô thị là đường trong phạm vi địa giới hành chính nội thành, nội thị;

e) Đường chuyên dùng là đường chuyên phục vụ cho việc vận chuyển, đi lại của một hoặc một số cơ quan, tổ chức, cá nhân.”

Đồng thời chia theo cấp kỹ thuật gồm có đường cao tốc và các cấp kỹ thuật khác (cấp I, II, III, IV, V và cấp VI).

Tương ứng với các loại đường đó, Luật GTĐB năm 2008 cũng bổ sung quy định cụ thể, làm rõ thẩm quyền trong việc phân loại và điều chỉnh các hệ thống đường bộ của Bộ Giao thông vận tải (đối với quốc lộ) và của Uỷ ban nhân dân (đối với đường địa phương):

“2. Thẩm quyền phân loại và điều chỉnh các hệ thống đường bộ quy định như sau:

a) Hệ thống quốc lộ do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định;

b) Hệ thống đường tỉnh, đường đô thị do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sau khi thỏa thuận với Bộ Giao thông vận tải (đối với đường tỉnh) và thỏa thuận với Bộ Giao thông vận tải và Bộ Xây dựng (đối với đường đô thị);

c) Hệ thống đường huyện, đường xã do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định sau khi được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng ý;

d) Hệ thống đường chuyên dùng do cơ quan, tổ chức, cá nhân có đường chuyên dùng quyết định sau khi có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải đối với đường chuyên dùng đấu nối vào quốc lộ; ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với đường chuyên dùng đấu nối vào đường tỉnh, đường đô thị, đường huyện; ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với đường chuyên dùng đấu nối vào đường xã.”

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng bổ sung một số quy định mang tính nguyên tắc trong việc đặt tên, số hiệu đường bộ, làm căn cứ để Chính phủ quy định cụ thể tại Điều 40.

Về trách nhiệm của các cơ quan trong việc ban hành, hướng dẫn tiêu chuẩn kỹ thuật đường bộ, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định:

3. Trách nhiệm của các bộ quy định như sau:

a) Bộ Giao thông vận tải xây dựng, hướng dẫn thực hiện tiêu chuẩn kỹ thuật các cấp đường;

b) Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia các cấp đường.” (khoản 3 Điều 41)

Như vậy, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã giao Bộ Giao thông vận tải là cơ quan có trách nhiệm xây dựng, hướng dẫn tiêu chuẩn kỹ thuật tất cả các cấp đường, kể cả đường đô thị mà không tách phần đường đô thị giao cho Bộ Xây dựng như trong Nghị định số 186/2004/NĐ-CP ngày 19/02/2004 của Chính phủ quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Quy định như vậy để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Bộ Giao thông vận tải, bảo đảm tính thống nhất trong quản lý nhà nước về giao thông vận tải trong phạm vi cả nước.

3.2. Về tỷ lệ quỹ đất giao thông đô thị so với đất xây dựng đô thị

Tại khoản 2 Điều 38 Luật Giao thông đường bộ năm 2001 chỉ quy định chung: “Quỹ đất dành cho xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đô thị phải bảo đảm tỷ lệ thích hợp, đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài của giao thông đô thị”. Trong thực tế thời gian qua, quy định không cụ thể này đã dẫn đến tình trạng quy hoạch đô thị chưa dành tỷ lệ quỹ đất thích đáng cho kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đô thị để đáp ứng được yêu cầu giao thông đô thị ngày càng phát triển, tỷ lệ đất giao thông đô thị so với đất xây dựng đô thị ở nước ta là rất thấp, tỷ lệ này tại Hà Nội là 2-3%, TP Hồ Chí Minh là 4,5% trong khi quỹ đất bình quân dành cho giao thông đô thị của các nước trong khu vực là 22-24%. Từ đó dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông tại các thành phố lớn, đặc biệt là tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Để đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài của giao thông đô thị, rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực, cần quy định cụ thể tỷ lệ đất dành cho giao thông đường bộ trong các đô thị. Tham khảo quy định tại Thông tư số 02/2002/TTLT-BXD-TCCBCP ngày 08/03/2002 của Bộ Xây dựng và Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ hướng dẫn Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị, Luật GTĐB năm 2008 tại khoản 2 Điều 42 đã quy định “Tỷ lệ quỹ đất giao thông đô thị so với đất xây dựng đô thị phải bảo đảm từ 16% đến 26%. Chính phủ quy định cụ thể tỷ lệ quỹ đất phù hợp với loại đô thị”. Căn cứ quy định này, Chính phủ sẽ quy định cụ thể tỷ lệ quỹ đất phù hợp với từng cấp, loại đô thị.

3.3. Về phạm vi đất dành cho đường bộ

Với mục đích tăng cường bảo vệ công trình đường bộ, hành lang an toàn giao thông đường bộ, Luật GTĐB năm 2008 quy định theo hướng liệt kê cụ thể các công trình được phép xây dựng trong phạm vi đất dành cho đường bộ:

“2. Trong phạm vi đất dành cho đường bộ, không được xây dựng các công trình khác, trừ một số công trình thiết yếu không thể bố trí ngoài phạm vi đó nhưng phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép, gồm công trình phục vụ quốc phòng, an ninh, công trình phục vụ quản lý, khai thác đường bộ, công trình viễn thông, điện lực, đường ống cấp, thoát nước, xăng, dầu, khí.(khoản 2 Điều 43);

Đồng thời quy định rõ trường hợp được sử dụng tạm thời đất hành lang an toàn đường bộ “Trong phạm vi đất hành lang an toàn đường bộ, ngoài việc thực hiện quy định tại khoản 2 Điều này, được tạm thời sử dụng vào mục đích nông nghiệp, quảng cáo nhưng không được làm ảnh hưởng đến an toàn công trình, an toàn giao thông đường bộ” (khoản 3 Điều 43) thay cho những quy định chung của Luật GTĐB năm 2001. Các trường hợp này đều phải được sự cho phép của cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền “Việc đặt biển quảng cáo trên đất hành lang an toàn đường bộ phải được cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản.” (khoản 3 Điều 43).

3.4. Về vấn đề bảo đảm yêu cầu kỹ thuật và an toàn giao thông của công trình đường bộ

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định:

“1. Công trình đường bộ xây dựng mới, nâng cấp và cải tạo phải bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện an toàn giao thông cho người, phương tiện tham gia giao thông đường bộ, trong đó có người đi bộ và người khuyết tật. Đường đô thị xây dựng phải có hè phố, phần đường, cầu vượt, hầm và tổ chức giao thông cho người đi bộ, người khuyết tật đi lại an toàn, thuận tiện.” (khoản 1 Điều 44);

Việc bổ sung yêu cầu đối với đường đô thị “phải có hè phố, phần đường, cầu vượt, hầm chui và tổ chức giao thông cho người đi bộ, người khuyết tật đi lại an toàn, thuận tiện.” thể hiện định hướng xây dựng hệ thống giao thông hiện đại, đồng bộ, phục vụ tốt nhu cầu đi lại của mọi đối tượng, đặc biệt quan tâm đến đối tượng là người đi bộ, người khuyết tật;

Các khoản 3, 4, 5 Điều 44 quy định:

“3. Khu đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu dân cư, khu thương mại - dịch vụ và công trình khác phải có hệ thống đường gom được xây dựng ngoài hành lang an toàn đường bộ; bảo đảm khoảng cách với quốc lộ theo quy định của Chính phủ.

4. Việc đấu nối được quy định như sau:

a) Trường hợp có đường nhánh thì đường gom phải nối vào đường nhánh;

b) Trường hợp đường nhánh, đường gom nối trực tiếp vào đường chính thì điểm đấu nối phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về đường bộ cho phép từ khi lập dự án và thiết kế;

c) Việc đấu nối các đường từ khu đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu dân cư, khu thương mại - dịch vụ và công trình khác vào đường bộ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.

5. Bên cạnh tuyến quốc lộ đi qua khu dân cư phải có đường gom để phục vụ yêu cầu dân sinh.”

Việc bổ sung quy định cụ thể về đấu nối, quy định phải xây dựng đường gom nằm ngoài hành lang an toàn đường bộ cho các khu đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu dân cư, khu thương mại, dịch vụ để bảo đảm an toàn giao thông, bảo vệ công trình đường bộ; khắc phục tình trạng hiện nay, do thiếu hệ thống đường gom phục vụ yêu cầu dân sinh dẫn đến tình trạng quốc lộ biến thành đường đô thị, gây khó khăn trong việc bảo vệ hành lang an toàn đường bộ, làm mất an toàn giao thông.

Ngoài ra, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 còn quy định “Công trình đường bộ phải được thẩm định về an toàn giao thông từ khi lập dự án, thiết kế, thi công, trước và trong quá trình khai thác. Người quyết định đầu tư, chủ đầu tư có trách nhiệm tiếp thu kết quả thẩm định an toàn giao thông để phê duyệt bổ sung vào dự án.” (khoản 2 Điều 44). Như vậy, so với Luật Giao thông đường bộ năm 2001, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định thêm công trình đường bộ phải được thẩm định về an toàn giao thông trước quá trình khai thác để nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư và nhà thầu thi công, cũng như phát huy hiệu quả của công tác thẩm định an toàn giao thông (Luật Giao thông đường bộ năm 2001 không quy định việc thẩm định trước quá trình khai thác).

Tham khảo Công ước Viên, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 bổ sung quy định chặt chẽ đối với việc quản lý công trình báo hiệu đường bộ là “Không được gắn vào công trình báo hiệu đường bộ các nội dung không liên quan tới ý nghĩa, mục đích của công trình báo hiệu đường bộ.” (khoản 3 Điều 45).

Với quy định này, việc một số doanh nghiệp xin treo ghép lô gô quảng cáo trên trụ biển báo hiệu đường bộ như hiện nay đang thực hiện tại một số tỉnh, thành phố sẽ phải dừng lại, các lô gô quảng cáo đã được treo, ghép trên trụ biển báo hiệu đường bộ sẽ phải tháo dỡ khi Luật Giao thông đường bộ năm 2008 có hiệu lực từ ngày 01/7/2009. Quy định này cũng phù hợp với các công ước và hiệp định về đường bộ mà Việt Nam là thành viên.

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng bổ sung 1 Điều mới (Điều 46 - Đầu tư xây dựng, khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ) trên cơ sở tham khảo các Luật chuyên ngành giao thông vận tải khác quy định mang tính nguyên tắc đối với việc đầu tư xây dựng, khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ:

Điều 46. Đầu tư xây dựng, khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

1. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là việc đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

2. Việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ phải phù hợp với quy hoạch giao thông vận tải đường bộ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; tuân thủ trình tự quản lý đầu tư xây dựng và các quy định khác của pháp luật; bảo đảm cấp kỹ thuật đường bộ, cảnh quan, bảo vệ môi trường.

3. Tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài được đầu tư xây dựng, kinh doanh khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ theo quy định của pháp luật.

4. Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền chủ trì tổ chức giải phóng mặt bằng theo đúng quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng, kinh doanh khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

5. Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sau khi xây dựng, nâng cấp, cải tạo phải được cơ quan có thẩm quyền nghiệm thu, quyết định đưa vào khai thác theo quy định.”

Một điểm mới trong quy định về thi công công trình trên đường bộ đang khai thác là việc bổ sung quy định “Đơn vị thi công không thực hiện các biện pháp bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn theo quy định, để xảy ra tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.” (khoản 4 Điều 47) để ràng buộc, nâng cao trách nhiệm của đơn vị thi công trên đường bộ trong việc giữ gìn trật tự, an toàn giao thông, vệ sinh môi trường trong quá trình thi công, làm căn cứ để xử phạt đối với các đơn vị thi công vi phạm quy định này nhằm từng bước khắc phục tình trạng hiện nay, nhiều đơn vị thi công trên đường bộ không quan tâm đến công tác giữ gìn trật tự, an toàn giao thông, vệ sinh môi trường trong quá trình thi công dẫn đến tình trạng ùn tắc, tai nạn giao thông và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận xã hội.

3.5. Về công tác quản lý, bảo trì đường bộ

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã bổ sung, làm rõ khái niệm bảo trì đường bộ “Bảo trì đường bộ là thực hiện các công việc bảo dưỡng và sửa chữa đường bộ nhằm duy trì tiêu chuẩn kỹ thuật của đường đang khai thác.” (khoản 1 Điều 48) và có quy định cụ thể nội dung bảo trì đường bộ:

“2. Đường bộ đưa vào khai thác phải được quản lý, bảo trì với các nội dung sau đây:

a) Theo dõi tình trạng công trình đường bộ; tổ chức giao thông; kiểm tra, thanh tra việc bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;

b) Bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa định kỳ và sửa chữa đột xuất.” (khoản 2 Điều 48).

Trên cơ sở xác định nội dung cũng như tầm quan trọng của công tác quản lý, bảo trì đường bộ, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã có quy định cụ thể hơn về nguồn tài chính cho quản lý, bảo trì đường bộ, cụ thể:

Theo quy định tại Điều 44 Luật Giao thông đường bộ năm 2001, nguồn tài chính dành cho công tác bảo trì đường bộ từ ngân sách nhà nước cấp và từ các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong những năm qua, nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước cấp cho công tác quản lý, bảo trì còn rất hạn chế, mức kinh phí từ ngân sách cấp cho quản lý, bảo trì hệ thống quốc lộ hàng năm chỉ đạt từ 40-50% yêu cầu thực tế, cấp cho hệ thống đường địa phương còn thấp hơn nhiều và chưa huy động được các nguồn thu ngoài ngân sách cho nhu cầu quản lý, bảo trì đường bộ. vì vậy hệ thống đường bộ không được quản lý, bảo trì đúng quy định, bị xuống cấp nhanh. Ở nhiều nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Lào v.v… để có đủ nguồn kinh phí đầu tư cho quản lý và bảo trì đường bộ đều đã lập quỹ bảo trì đường bộ và đã phát huy hiệu quả tốt. Việc huy động nguồn lực của xã hội đầu tư cho quản lý, bảo trì đường bộ là xu hướng chung. Theo các chuyên gia, nếu chi 1USD cho công tác bảo trì để bảo đảm cầu đường luôn tốt, an toàn sẽ tiết kiệm được 3 USD trong hoạt động khai thác vận tải do tiết kiệm nhiên liệu, giảm hao mòn xe và nâng cao năng suất phương tiện, giảm thời gian đi lại; hoặc nếu chi thiếu 1 USD cho công tác bảo trì sẽ phải chi 4 USD cho công tác phục hồi, xây dựng lại công trình. Các tổ chức quốc tế như ADB, WB, JICA cũng đã khuyến nghị Việt Nam cần thành lập quỹ nhằm bảo đảm nguồn vốn duy trì hệ thống đường bộ. Theo kinh nghiệm của các nước, nguồn thu có liên quan đến sử dụng đường bộ có thể huy động vào Quỹ như:

+ Phí sử dụng cầu đường;

+ Phụ thu phí bảo trì đường bộ thông qua kiểm định phương tiện cơ giới đường bộ, cấp giấy phép lái xe;

+ Thu phí bảo trì đường bộ khi cấp giấy phép vận chuyển hàng quá khổ giới hạn, quá tải trọng cầu đường; tiền xử phạt vi phạm hành chính đối với xe vận chuyển hàng quá khổ giới hạn, quá tải trọng cầu đường;

+ Thu phí bảo trì đường bộ đối với dịch vụ quảng cáo dọc hai bên đường;

+ Tổ chức bán đấu giá công khai những biển số đẹp theo yêu cầu của người sử dụng khi đăng ký xe cơ giới v.v…

Các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật như: đóng góp của các tổ chức kinh doanh bảo hiểm liên quan đến sử dụng đường bộ, các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân...

Tham khảo kinh nghiệm của 55 nước trên thế giới có Quỹ bảo trì đường bộ hoặc Quỹ phát triển đường bộ, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 tại Điều 49, đã sửa lại theo hướng quy định việc hình thành Quỹ bảo trì đường bộ (từ nguồn ngân sách nhà nước, các nguồn thu liên quan đến sử dụng đường bộ và các nguồn thu khác):

Điều 49. Nguồn tài chính cho quản lý, bảo trì đường bộ

1. Nguồn tài chính để quản lý, bảo trì hệ thống quốc lộ và đường địa phương được bảo đảm từ quỹ bảo trì đường bộ.

Nguồn tài chính để quản lý, bảo trì đường chuyên dùng, đường không do Nhà nước quản lý khai thác, đường được đầu tư xây dựng không bằng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước do tổ chức, cá nhân quản lý khai thác chịu trách nhiệm.

2. Quỹ bảo trì đường bộ được hình thành từ các nguồn sau đây:

a) Ngân sách nhà nước phân bổ hàng năm;

b) Các nguồn thu liên quan đến sử dụng đường bộ và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định cụ thể việc lập, quản lý và sử dụng quỹ bảo trì đường bộ ở trung ương và địa phương.”

Quy định hình thành Quỹ bảo trì đường bộ để quản lý, bảo trì hệ thống quốc lộ và đường địa phương nhằm mục đích bảo đảm kinh phí, nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo trì đường bộ, tạo cơ sở pháp lý để huy động các nguồn lực cho việc bảo trì hệ thống đường bộ. Nếu việc quản lý, bảo trì được chú trọng đúng mức thì sẽ tăng tuổi thọ của công trình, từ đó góp phần tiết kiệm chi phí đầu tư, xây dựng mới hệ thống đường bộ. Ngoài ra, bảo đảm việc quản lý, sử dụng nguồn tiền theo kế hoạch thống nhất sẽ tăng hiệu quả cho công tác quản lý, bảo trì đường bộ, đồng thời bảo đảm 2 nguyên tắc là thu từ đường quay trở lại đường và người sử dụng đường phải có trách nhiệm đóng góp bảo trì đường.

3.6. Luật Giao thông đường bộ năm 2008 bổ sung làm rõ khái niệm cũng như quy định mang tính nguyên tắc đối với trạm thu phí, trạm kiểm tra tải trọng xe tại khoản 3 và khoản 4 Điều 51:

“3. Trạm thu phí là nơi thực hiện việc thu phí phương tiện tham gia giao thông đường bộ, được xây dựng theo quy hoạch hoặc dự án đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Hoạt động của trạm thu phí phải bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn.

4. Trạm kiểm tra tải trọng xe là nơi cơ quan quản lý đường bộ thực hiện việc thu thập, phân tích, đánh giá tác động của tải trọng xe, khổ giới hạn xe đến an toàn đường bộ; kiểm tra, xử lý vi phạm đối với xe quá khổ giới hạn, quá tải trọng cho phép của đường bộ và xe bánh xích lưu hành trên đường bộ, được xây dựng theo quy hoạch do Bộ Giao thông vận tải lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Trường hợp cần thiết, để bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định thành lập trạm kiểm tra tải trọng xe tạm thời.”

Đồng thời, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng giao “Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về quy chuẩn kỹ thuật bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, trạm thu phí, trạm kiểm tra tải trọng xe; quy định về tổ chức, hoạt động của trạm thu phí, trạm kiểm tra tải trọng xe” (khoản 5 Điều 51).

Việc bổ sung những quy định này để điều chỉnh đầy đủ, tạo sự thống nhất nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu lực công tác quản lý đối với các công trình đường bộ.

Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là bộ phận thiết yếu của kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, không chỉ cần được đầu tư, xây dựng mới mà trong quá trình khai thác, sử dụng, công trình đường bộ cần phải được bảo vệ, bảo trì theo yêu cầu kỹ thuật mới bảo đảm thời gian sử dụng an toàn, hiệu quả. Tại Điều 52 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã bổ sung quy định cụ thể việc bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, đặc biệt quy định cụ thể nhằm nâng cao trách nhiệm của từng cơ quan quản lý nhà nước liên quan:

“3. Đơn vị quản lý công trình đường bộ có trách nhiệm bảo đảm an toàn kỹ thuật của công trình, liên đới chịu trách nhiệm đối với tai nạn giao thông xảy ra do chất lượng quản lý, bảo trì công trình; trường hợp phát hiện công trình bị hư hỏng hoặc có nguy cơ gây mất an toàn giao thông thì phải xử lý, sửa chữa kịp thời, có biện pháp phòng, chống và khắc phục kịp thời hậu quả do thiên tai gây ra đối với công trình đường bộ.

4. Trách nhiệm bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ quy định như sau:

a) Bộ Giao thông vận tải tổ chức và hướng dẫn thực hiện việc bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;

b) Bộ Công an chỉ đạo, hướng dẫn lực lượng công an kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ theo thẩm quyền;

c) Uỷ ban nhân dân các cấp tổ chức bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ trong phạm vi địa phương; bảo vệ hành lang an toàn giao thông đường bộ theo quy định của pháp luật;

d) Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;

đ) Chính phủ quy định việc phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân về bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.”

4. Chương IV. Phương tiện tham gia giao thông đường bộ, gồm 5 Điều (từ Điều 53 đến Điều 57)

Chương này quy định về điều kiện tham gia giao thông đường bộ của các loại phương tiện, cấp, thu hồi đăng ký và biển số xe cơ giới; quy định về chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ.

4.1. Về điều kiện tham gia giao thông của xe cơ giới

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã quy định cụ thể các điều kiện để xe cơ giới được tham gia giao thông đường bộ tại Điều 53:

Điều 53. Điều kiện tham gia giao thông của xe cơ giới

1. Xe ô tô đúng kiểu loại được phép tham gia giao thông phải bảo đảm các quy định về chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường sau đây:

a) Có đủ hệ thống hãm có hiệu lực;

b) Có hệ thống chuyển hướng có hiệu lực;

c) Tay lái của xe ô tô ở bên trái của xe; trường hợp xe ô tô của người nước ngoài đăng ký tại nước ngoài có tay lái ở bên phải tham gia giao thông tại Việt Nam thực hiện theo quy định của Chính phủ;

d) Có đủ đèn chiếu sáng gần và xa, đèn soi biển số, đèn báo hãm, đèn tín hiệu;

đ) Có bánh lốp đúng kích cỡ và đúng tiêu chuẩn kỹ thuật của từng loại xe;

e) Có đủ gương chiếu hậu và các trang bị, thiết bị khác bảo đảm tầm nhìn cho người điều khiển;

g) Kính chắn gió, kính cửa là loại kính an toàn;

h) Có còi với âm lượng đúng quy chuẩn kỹ thuật;

i) Có đủ bộ phận giảm thanh, giảm khói và các trang bị, thiết bị khác bảo đảm khí thải, tiếng ồn theo quy chuẩn môi trường;

k) Các kết cấu phải đủ độ bền và bảo đảm tính năng vận hành ổn định.

2. Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy đúng kiểu loại được phép tham gia giao thông phải bảo đảm các quy định về chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, h, i và k khoản 1 Điều này.

3. Xe cơ giới phải đăng ký và gắn biển số do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

4. Chính phủ quy định niên hạn sử dụng đối với xe cơ giới.

5. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe cơ giới được phép tham gia giao thông, trừ xe cơ giới của quân đội, công an sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh.”

Như vậy, một xe cơ giới muốn tham gia giao thông đường bộ phải bảo đảm các quy định về chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, được đăng ký, gắn biển số và bảo đảm niên hạn sử dụng theo quy định.

So với Luật Giao thông đường bộ năm 2001, trong các điều kiện về chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, Luật GTĐB năm 2008 đã bổ sung quy định về việc cho phép xe ô tô của người nước ngoài đăng ký tại nước ngoài có tay lái bên phải tham gia giao thông tại Việt Nam theo quy định của Chính phủ (điểm c khoản 1 Điều 53). Trong Nghị định của Chính phủ sẽ quy định chi tiết các trường hợp, điều kiện cho phép xe ô tô có tay lái bên phải của các nước được vào Việt Nam.

Luật Giao thông đường bộ năm 2001 không giao thẩm quyền này cho Chính phủ nên cơ quan có thẩm quyền cho phép xe ô tô có tay lái bên phải của các nước được vào Việt Nam là Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, vì vậy thủ tục xin phép phải mất nhiều thời gian. Với quy định mới giao quyền cho Chính phủ sẽ tạo sự linh hoạt, thuận lợi hơn trong tiến hành các thủ tục để cho phép xe ô tô có tay lái bên phải (chủ yếu là xe du lịch) của các nước được vào Việt Nam, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, cải cách thủ tục hành chính . Việc bổ sung quy định này cũng để phù hợp với các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO và một số Hiệp định Việt Nam đã ký kết (Hiệp định ASEAN về tạo thuận lợi cho vận tải quá cảnh, Hiệp định Tạo thuận lợi cho người và hàng hóa qua lại biên giới giữa các nước Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (Hiệp định GMS), Thoả thuận giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Chính phủ nước CHDCND Lào và Chính phủ Vương quốc Thái Lan về hoạt động vận tải du lịch đường bộ) cho phép xe tay lái bên phải của một số nước vào Việt Nam, đồng thời để đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của phát triển du lịch.

Đối với quy định về niên hạn sử dụng xe, Luật Giao thông đường bộ năm 2001 chỉ giao Chính phủ quy định niên hạn sử dụng đối với các loại xe ô tô kinh doanh vận tải. Tuy nhiên, với mục tiêu bảo đảm an toàn giao thông, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã quy định “Chính phủ quy định niên hạn sử dụng đối với xe cơ giới.” (khoản 4 Điều 53). Như vậy, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 không chỉ hạn chế quy định niên hạn đối với xe ô tô hoạt động kinh doanh vận tải mà mở rộng hơn, giao Chính phủ quy định niên hạn đối với xe cơ giới nói chung (bao gồm các loại ô tô, máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy…) tùy thuộc vào tình hình phát triển kinh tế-xã hội trong từng thời kỳ mà quy định niên hạn hoặc chưa quy định niên hạn sử dụng cho từng loại phương tiện cụ thể.

Đối với quy định về việc gắn biển số xe cơ giới, tại Điều 54 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định:

Điều 54. Cấp, thu hồi đăng ký và biển số xe cơ giới

1. Xe cơ giới có nguồn gốc hợp pháp, bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định của Luật này được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký và biển số.

2. Bộ trưởng Bộ Công an quy định và tổ chức cấp, thu hồi đăng ký, biển số các loại xe cơ giới; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định và tổ chức cấp, thu hồi đăng ký, biển số các loại xe cơ giới của quân đội sử dụng vào mục đích quốc phòng.”

Luật Giao thông đường bộ năm 2001 giao Chính phủ quy định cụ thể việc thu hồi đăng ký và biển số các loại xe cơ giới. Tuy nhiên, nhằm tạo sự thống nhất trong công tác quản lý các loại xe cơ giới, xe máy chuyên dùng, nâng cao vai trò của Bộ quản lý chuyên ngành, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã sửa đổi, chuyển giao thẩm quyền quy định và tổ chức việc thu hồi đăng ký, biển số các loại xe cơ giới cho Bộ Công an, việc thu hồi đăng ký, biển số các loại xe cơ giới của quân đội sử dụng vào mục đích quốc phòng cho Bộ Quốc phòng, bảo đảm nguyên tắc cơ quan nào cấp thì cơ quan đó thu hồi.

4.2. Về điều kiện tham gia giao thông của xe thô sơ

Điều 56 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định:

Điều 56. Điều kiện tham gia giao thông của xe thô sơ

1. Khi tham gia giao thông, xe thô sơ phải bảo đảm điều kiện an toàn giao thông đường bộ.

2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể điều kiện, phạm vi hoạt động của xe thô sơ tại địa phương mình.”

So với Luật Giao thông đường bộ năm 2001, Lụật Giao thông đường bộ năm 2008 đã giao trực tiếp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể điều kiện, phạm vi hoạt động của xe thô sơ tại địa phương mình thay vì quy định phải “Căn cứ vào nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh” như Luật Giao thông đường bộ năm 2001 nhằm nâng cao trách nhiệm của Ủy ban nhân dân trong việc bảo đảm trật tự, an toàn giao thông tại địa phương mình, đồng thời Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng bỏ quy định về việc đăng ký và cấp biển số các loại xe thô sơ.

4.3. Về điều kiện tham gia giao thông của xe máy chuyên dùng

Tương tự đối với xe cơ giới, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng chuyển giao thẩm quyền quy định và tổ chức việc thu hồi đăng ký, biển số xe máy chuyên dùng cho Bộ Giao thông vận tải.

Ngoài ra, Chương này cũng được sửa đổi một số nội dung cho phù hợp với Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

5. Chương V. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, gồm 6 Điều (từ Điều 58 đến Điều 63)

Chương này quy định về điều kiện của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông; giấy phép lái xe; tuổi và sức khỏe của người lái xe; đào tạo lái xe, sát hạch, cấp giấy phép lái xe.

5.1. Về điều kiện của người lái xe tham gia giao thông

Điều 58 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định:

Điều 58. Điều kiện của người lái xe tham gia giao thông

1. Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khoẻ quy định tại Điều 60 của Luật này và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

Người tập lái xe ô tô khi tham gia giao thông phải thực hành trên xe tập lái và có giáo viên bảo trợ tay lái.

2. Người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo các giấy tờ sau:

a) Đăng ký xe;

b) Giấy phép lái xe đối với người điều khiển xe cơ giới quy định tại Điều 59 của Luật này;

c) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới quy định tại Điều 55 của Luật này;

d) Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.”

Như vậy, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã bổ sung quy định về các loại giấy tờ mà người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải mang theo khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông, cụ thể người lái xe phải mang Đăng ký xe, Giấy phép lái xe (đối với người điều khiển xe ô tô, xe mô tô), Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (đối với người điều khiển xe ô tô), Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Luật Giao thông đường bộ năm 2001 không có quy định này.

Hiện nay, căn cứ các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đường bộ (Nghị định số 146/2007/NĐ-CP ngày 14/9/2007 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ), lực lượng cảnh sát giao thông đã phạt vi phạm đối với hành vi của người lái xe không mang theo Đăng ký xe, Giấy phép lái xe (đối với người điều khiển xe ô tô, xe mô tô), Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (đối với người điều khiển xe ô tô). Luật năm 2008 bổ sung quy định này trong Giao thông đường bộ năm 2008 theo hướng quy định cụ thể và mở rộng hơn các loại giấy tờ mà người lái xe phải mang theo (bổ sung Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới) nhằm hoàn thiện căn cứ pháp lý cùng với các quy định về xử phạt vi phạm hành chính, tăng cường kiểm soát sự tuân thủ pháp luật của người tham gia giao thông, bảo đảm các quy định của pháp luật được thực hiện nghiêm túc.

5.2. Về Giấy phép lái xe

Điều 59 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định:

Điều 59. Giấy phép lái xe

1. Căn cứ vào kiểu loại, công suất động cơ, tải trọng và công dụng của xe cơ giới, giấy phép lái xe được phân thành giấy phép lái xe không thời hạn và giấy phép lái xe có thời hạn.

2. Giấy phép lái xe không thời hạn bao gồm các hạng sau đây:

a) Hạng A1 cấp cho người lái xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 đến dưới 175 cm3;

b) Hạng A2 cấp cho người lái xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh từ 175 cm3 trở lên và các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng A1;

c) Hạng A3 cấp cho người lái xe mô tô ba bánh, các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng A1 và các xe tương tự.

3. Người khuyết tật điều khiển xe mô tô ba bánh dùng cho người khuyết tật được cấp giấy phép lái xe hạng A1.

4. Giấy phép lái xe có thời hạn gồm các hạng sau đây:

a) Hạng A4 cấp cho người lái máy kéo có trọng tải đến 1.000 kg;

b) Hạng B1 cấp cho người không hành nghề lái xe điều khiển xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg;

c) Hạng B2 cấp cho người hành nghề lái xe điều khiển xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg;

d) Hạng C cấp cho người lái xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải từ 3.500 kg trở lên và các loại xe quy định cho các giấy phép lái xe hạng B1, B2;

đ) Hạng D cấp cho người lái xe ô tô chở người từ 10 đến 30 chỗ ngồi và các loại xe quy định cho các giấy phép lái xe hạng B1, B2, C;

e) Hạng E cấp cho người lái xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi và các loại xe quy định cho các giấy phép lái xe hạng B1, B2, C, D;

g) Giấy phép lái xe hạng FB2, FD, FE cấp cho người lái xe đã có giấy phép lái xe hạng B2, D, E để lái các loại xe quy định cho các giấy phép lái xe hạng này khi kéo rơ moóc hoặc xe ô tô chở khách nối toa; hạng FC cấp cho người lái xe đã có giấy phép lái xe hạng C để lái các loại xe quy định cho hạng C khi kéo rơ moóc, đầu kéo kéo sơ mi rơ moóc.

5. Giấy phép lái xe có giá trị sử dụng trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam và lãnh thổ của nước hoặc vùng lãnh thổ mà Việt Nam ký cam kết công nhận giấy phép lái xe của nhau.”

Như vậy, Giấy phép lái xe gồm hai loại: có thời hạn và không thời hạn. Giấy phép lái xe không thời hạn cấp cho người điều khiển xe môtô có dung tích xi-lanh từ 50 cm3, so với Luật GTĐB năm 2001, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã bổ sung quy định “Người khuyết tật điều khiển xe mô tô ba bánh dùng cho người khuyết tật được cấp giấy phép lái xe hạng A1.”. Đây là quy định mới nhằm bảo đảm quyền tham gia giao thông của người khuyết tật, đồng thời cũng làm cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước thực hiện quản lý đối tượng là người khuyết tật điều khiển xe mô tô ba bánh dùng cho người khuyết tật, bảo đảm an toàn giao thông.

Giấy phép lái xe có thời hạn cấp cho người điều khiển xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo. So với Luật Giao thông đường bộ năm 2001, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định nâng hạng giấy phép lái xe đối với người lái xe kéo sơ mi rơ moóc từ giấy phép lái xe hạng C lên giấy phép lái xe hạng FC nhằm mục đích bảo đảm an toàn giao thông, xuất phát từ yêu cầu thực tế.

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng phân biệt rõ hai loại giấy phép lái xe cấp cho người điều khiển xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg:

“b) Hạng B1 cấp cho người không hành nghề lái xe điều khiển xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg;

c) Hạng B2 cấp cho người hành nghề lái xe điều khiển xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg; ”

Như vậy, sự khác nhau của giấy phép lái xe hạng B1 và B2 là ở tính chất chuyên nghiệp của người lái xe. Cùng điều khiển một loại xe nhưng những người có nhu cầu sinh sống bằng nghề lái xe sẽ đăng ký để được đào tạo, cấp giấy phép hạng B2 với hình thức đào tạo tập trung, nội dung đào tạo có thêm môn học nghiệp vụ vận tải, chi phí đào tạo cao hơn và chỉ những trường hợp có giấy phép lái xe hạng B2 mới được phép chuyển cấp lên hạng giấy phép lái xe cao hơn, còn những người chỉ có nhu cầu lái xe cá nhân, không sinh sống bằng nghề lái xe được đào tạo để cấp giấy phép hạng B1 và giấy phép lái xe hạng này không được chuyển cấp lên hạng C, D.

Ngoài ra, để phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và yêu cầu thực tế, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng bổ sung quy định về phạm vi sử dụng của giấy phép lái xe, theo đó ngoài lãnh thổ Việt Nam, Giấy phép lái xe còn có giá trị sử dụng trong phạm vi lãnh thổ của nước hoặc vùng lãnh thổ mà Việt Nam ký cam kết công nhận giấy phép lái xe của nhau.

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng đã bỏ nội dung quy định tại khoản 5 Điều 54 của Luật Giao thông đường bộ năm 2001 “Giấy phép lái xe bị thu hồi có thời hạn hoặc thu hồi vĩnh viễn theo quy định của Chính phủ.”, đồng thời giao lại thẩm quyền quy định và tổ chức việc thu hồi giấy phép lái xe cho Bộ Giao thông vận tải “Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định hình thức, nội dung, chương trình đào tạo; sát hạch và cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe” (khoản 10 Điều 61).

5.3. Về tuổi và sức khỏe của người lái xe

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định:

Điều 60. Tuổi, sức khỏe của người lái xe

1. Độ tuổi của người lái xe quy định như sau:

a) Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy có dung tích xi-lanh dưới 50 cm3;

b) Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg; xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi;

c) Người đủ 21 tuổi trở lên được lái xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải từ 3.500 kg trở lên; lái xe hạng B2 kéo rơ moóc (FB2);

d) Người đủ 24 tuổi trở lên được lái xe ô tô chở người từ 10 đến 30 chỗ ngồi; lái xe hạng C kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc (FC);

đ) Người đủ 27 tuổi trở lên được lái xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi; lái xe hạng D kéo rơ moóc (FD);

e) Tuổi tối đa của người lái xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi là 50 tuổi đối với nữ và 55 tuổi đối với nam.

2. Người lái xe phải có sức khỏe phù hợp với loại xe, công dụng của xe. Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về tiêu chuẩn sức khỏe của người lái xe, việc khám sức khỏe định kỳ đối với người lái xe ô tô và quy định về cơ sở y tế khám sức khoẻ của người lái xe.

Với quy định này, độ tuổi tối thiểu của người lái xe ô tô chở người từ 10-30 chỗ ngồi tăng từ 21 tuổi (theo Luật Giao thông đường bộ năm 2001) lên là 24 tuổi, tuổi tối thiểu của người lái xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi tăng từ 25 tuổi (theo Luật Giao thông đường bộ năm 2001) lên là 27 tuổi và quy định nâng hạng giấy phép lái xe đối với người lái xe tải kéo sơ mi rơ moóc, nâng từ giấy phép lái xe hạng C (21 tuổi) lên giấy phép lái xe hạng FC (24 tuổi). Quy định như vậy nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ lái xe, những người đóng vai trò quyết định trong việc bảo đảm an toàn giao thông, đặc biệt là lái xe ô tô chở nhiều người (từ 10 chỗ ngồi trở lên) để bảo đảm an toàn, bảo vệ tính mạng cho người đi xe. Cơ sở để đưa ra quy định này là để bảo đảm an toàn giao thông, nhất là đối với vận tải hành khách, việc nâng độ tuổi, thâm niên của lái xe ô tô chở người là cần thiết nhằm bảo đảm người lái có tâm lý ổn định, có kinh nghiệm để xử lý các tình huống giao thông trên đường và ứng xử với khách. Ngoài ra, khoảng cách tuổi tối thiểu của các hạng giấy phép lái xe là 03 năm, đây là khoảng thời gian đủ để người lái xe ở hạng thấp hơn tích lũy kinh nghiệm và tiếp cận dần với việc điều khiển phương tiện ở hạng cao hơn.

Cũng với mục đích nâng cao chất lượng đội ngũ lái xe, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng đã bổ sung nội dung giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Giao thông vận tải “quy định về cơ sở y tế khám sức khoẻ của người lái xe”.

5.4. Đối với công tác đào tạo, sát hạch để cấp giấy phép lái xe

Bên cạnh các quy định mới về giấy phép lái xe, tuổi, sức khỏe của người lái xe, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng quan tâm đến công tác đào tạo, sát hạch để cấp giấy phép lái xe và có một số quy định bổ sung, sửa đổi:

Điều 61. Đào tạo lái xe, sát hạch để cấp giấy phép lái xe

1. Cơ sở đào tạo lái xe là loại hình cơ sở dạy nghề, phải có đủ điều kiện về lớp học, sân tập lái, xe tập lái, đội ngũ giáo viên, giáo trình, giáo án và phải được cấp giấy phép theo quy định.

2. Cơ sở đào tạo lái xe phải thực hiện đúng nội dung và chương trình quy định cho từng loại, hạng giấy phép lái xe.

3. Người có nhu cầu được cấp giấy phép lái xe hạng A1, A2, A3, A4, B1 phải được đào tạo. Người có nhu cầu được cấp giấy phép lái xe hạng B2, C, D, E và các giấy phép lái xe hạng F phải được đào tạo tập trung tại cơ sở đào tạo.

4. Việc đào tạo để nâng hạng giấy phép lái xe thực hiện cho những trường hợp sau đây:

a) Nâng hạng giấy phép lái xe từ hạng B1 lên hạng B2;

b) Nâng hạng giấy phép lái xe từ hạng B2 lên hạng C hoặc lên hạng D;

c) Nâng hạng giấy phép lái xe từ hạng C lên hạng D hoặc lên hạng E;

d) Nâng hạng giấy phép lái xe từ hạng D lên hạng E;

đ) Nâng hạng giấy phép lái xe từ các hạng B2, C, D, E lên các hạng giấy phép lái các xe tương ứng có kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc.

5. Người có nhu cầu được đào tạo nâng hạng giấy phép lái xe theo quy định tại khoản 4 Điều này còn phải có đủ thời gian và số ki-lô-mét lái xe an toàn quy định cho từng hạng giấy phép lái xe; người có nhu cầu được đào tạo nâng hạng giấy phép lái xe lên hạng D, E tối thiểu phải có trình độ văn hóa trung học cơ sở.

6. Việc đào tạo lái xe ô tô chở người từ 10 chỗ ngồi trở lên và lái xe kéo rơ moóc chỉ được thực hiện bằng hình thức đào tạo nâng hạng với các điều kiện quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều này.

7. Việc sát hạch để cấp giấy phép lái xe ô tô phải thực hiện tại các trung tâm sát hạch lái xe. Các trung tâm sát hạch lái xe phải được xây dựng theo quy hoạch, có đủ cơ sở vật chất - kỹ thuật đáp ứng yêu cầu sát hạch lái xe theo quy định.

8. Người sát hạch lái xe phải có thẻ sát hạch viên theo quy định và phải chịu trách nhiệm về kết quả sát hạch của mình.

9. Người đã qua đào tạo và đạt kết quả kỳ sát hạch được cấp giấy phép lái xe đúng hạng đã trúng tuyển.

Trường hợp giấy phép lái xe có thời hạn, trước khi hết thời hạn sử dụng người lái xe phải khám sức khỏe và làm các thủ tục theo quy định để được đổi giấy phép lái xe.

10. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định điều kiện, tiêu chuẩn và cấp giấy phép cho cơ sở đào tạo; quy định hình thức, nội dung, chương trình đào tạo; sát hạch và cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định về cơ sở đào tạo, tổ chức đào tạo, sát hạch và cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe cho lực lượng quân đội, công an làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.”

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã có quy định chặt chẽ đối với cơ sở đào tạo lái xe, đưa ra khái niệm rõ ràng “Cơ sở đào tạo lái xe là loại hình cơ sở dạy nghề” và quy định cơ sở đào tạo lái xe “phải được giấy cấp phép” , đồng thời giao “Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định điều kiện, tiêu chuẩn và cấp giấy phép cho cơ sở đào tạo”. Những quy định này nhằm góp phần nâng cao chất lượng của các cơ sở đào tạo lái xe, khắc phục tình trạng hiện nay, nhiều cơ sở đào tạo lái xe chưa đáp ứng đủ yêu cầu về trang thiết bị, điều kiện vật chất phục vụ công tác giảng dạy, đặc biệt chưa đáp ứng được yêu cầu thực hành của học viên là một khâu rất quan trọng trong đào tạo nghề lái xe, gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đào tạo.

So với Luật Giao thông đường bộ năm 2001, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng đã bổ sung quy định người có nhu cầu được đào tạo nâng hạng giấy phép lái xe lên hạng D, E tối thiểu phải có trình độ văn hoá trung học cơ sở. Quy định trình độ văn hóa tối thiểu của người lái xe để nâng cao nhận thức của người lái xe, bảo đảm những người này phải có một trình độ nhất định để nhận thức về pháp luật và nhận thức về kỹ thuật trong đào tạo nghề lái xe từ đó nâng cao chất lượng đào tạo nghề lái xe.

5.5. Về điều kiện của người điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông

Tương tự quy định về điều kiện của người lái xe, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng bổ sung quy định người điều khiển xe máy chuyên dùng khi tham gia giao thông phải mang theo Đăng ký xe, Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường:

“2. Người điều khiển xe máy chuyên dùng khi tham gia giao thông phải mang theo các giấy tờ sau đây:

a) Đăng ký xe;

b) Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng;

c) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe máy chuyên dùng quy định tại Điều 57 của Luật này.” (khoản 2 Điều 62)

6. Chương VI. Vận tải đường bộ, gồm 20 Điều (từ Điều 64 đến Điều 83)

Chương này quy định về hoạt động vận tải đường bộ, kinh doanh vận tải bằng xe ô tô; quyền và nghĩa vụ của người kinh doanh vận tải, người lái xe và nhân viên phục vụ trên ô tô vận tải hành khách, hành khách; người thuê vận tải hàng hoá, người nhận hàng; vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng; vận chuyển động vật sống; vận chuyển hàng nguy hiểm; hoạt động vận tải đường bộ trong đô thị; vận tải đa phương thức; dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ; tổ chức, hoạt động của bến xe ô tô, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ.

Đây là Chương được sửa đổi, bổ sung về cơ bản với mục đích tăng cường công tác quản lý, đặc biệt đối với xe ô tô chở khách, đáp ứng yêu cầu thực tế, bảo đảm an toàn giao thông, phục vụ nhu cầu phát triển của kinh tế quốc dân.

Theo quy định của Luật Giao thông đường bộ năm 2001, hoạt động vận tải và các dịch vụ hỗ trợ vận tải được hiểu chung là hoạt động vận tải đường bộ, không có sự phân biệt rõ ràng dẫn đến những bất cập trên thực tế, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước. Để giải quyết vấn đề này, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã phân biệt, làm rõ hai loại hình hoạt động: vận tải đường bộ và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, do đó chia Chương này thành 2 Mục: Hoạt động vận tải đường bộ và Dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ và có định nghĩa rõ ràng đối với từng loại hình.

6.1. Về hoạt động vận tải đường bộ

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã đưa ra định nghĩa rõ ràng về hoạt động vận tải đường bộ, trong đó phân loại gồm hoạt động vận tải không kinh doanh và hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ, trong hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ cũng phân thành kinh doanh vận tải hành khách, kinh doanh vận tải hàng hóa:

“Điều 64. Hoạt động vận tải đường bộ

1. Hoạt động vận tải đường bộ gồm hoạt động vận tải không kinh doanh và hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ. Kinh doanh vận tải đường bộ là ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật.

2. Kinh doanh vận tải đường bộ gồm kinh doanh vận tải hành khách, kinh doanh vận tải hàng hóa.”

Đồng thời tại Điều 66 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng quy định phân loại rất cụ thể hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô:

Điều 66. Kinh doanh vận tải bằng xe ô tô

1. Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe ô tô bao gồm:

a) Kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định có xác định bến đi, bến đến với lịch trình, hành trình nhất định;

b) Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe buýt theo tuyến cố định có các điểm dừng đón, trả khách và xe chạy theo biểu đồ vận hành với cự ly, phạm vi hoạt động nhất định;

c) Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi có lịch trình và hành trình theo yêu cầu của hành khách; cước tính theo đồng hồ tính tiền;

d) Kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng không theo tuyến cố định được thực hiện theo hợp đồng vận tải;

đ) Kinh doanh vận tải khách du lịch theo tuyến, chương trình và địa điểm du lịch.

2. Kinh doanh vận tải hàng hóa bằng xe ô tô bao gồm:

a) Kinh doanh vận tải hàng hóa thông thường;

b) Kinh doanh vận tải hàng hóa bằng xe taxi tải;

c) Kinh doanh vận tải hàng hóa siêu trường, siêu trọng;

d) Kinh doanh vận tải hàng nguy hiểm.

3. Chính phủ quy định cụ thể về kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

Những quy định phân loại cụ thể, rõ ràng như vậy là rất cần thiết để củng cố lại và tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động vận tải đường bộ đang ngày càng phát triển, đa dạng về hình thức và tăng rất nhanh về số lượng.

Riêng hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã khẳng định đây là “ngành nghề kinh doanh có điều kiện” do đó cần phải được quản lý chặt chẽ nhằm bảo đảm an toàn giao thông, bảo vệ tính mạng cũng như bảo đảm quyền lợi của hành khách đi xe. Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng đã đưa ra những điều kiện chặt chẽ đối với hoạt động kinh doanh vận tải, cụ thể:

“Điều 67. Điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô

1. Doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Đăng ký kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của pháp luật;

b) Bảo đảm số lượng, chất lượng và niên hạn sử dụng của phương tiện phù hợp với hình thức kinh doanh; phương tiện kinh doanh vận tải phải gắn thiết bị giám sát hành trình của xe theo quy định của Chính phủ;

c) Bảo đảm số lượng lái xe, nhân viên phục vụ trên xe phù hợp với phương án kinh doanh và phải có hợp đồng lao động bằng văn bản; nhân viên phục vụ trên xe phải được tập huấn nghiệp vụ kinh doanh vận tải, an toàn giao thông; không được sử dụng người lái xe đang trong thời kỳ bị cấm hành nghề theo quy định của pháp luật;

d) Người trực tiếp điều hành hoạt động vận tải của doanh nghiệp, hợp tác xã phải có trình độ chuyên môn về vận tải;

đ) Có nơi đỗ xe phù hợp với quy mô của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, bảo đảm yêu cầu về trật tự, an toàn, phòng, chống cháy nổ và vệ sinh môi trường.

2. Chỉ các doanh nghiệp, hợp tác xã mới được kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định, kinh doanh vận tải hành khách bằng xe buýt, bằng xe taxi và phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Có bộ phận quản lý các điều kiện về an toàn giao thông;

c) Đăng ký tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ vận tải hành khách với cơ quan có thẩm quyền và phải niêm yết công khai.

3. Chỉ các doanh nghiệp, hợp tác xã mới được kinh doanh vận tải hàng hóa bằng công-ten-nơ và phải có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều này.

4. Chính phủ quy định cụ thể điều kiện và việc cấp giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.”

Với quy định này, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã đưa ra những điều kiện tương đối toàn diện mà đơn vị kinh doanh phải đáp ứng, bao gồm không chỉ điều kiện về chất lượng phương tiện, người điều khiển mà còn quy định về trình độ của người điều hành trực tiếp, tiêu chuẩn của nhân viên phục vụ trên xe…

Trong các điều kiện quy định tại Điều 67, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 có bổ sung quy định đơn vị kinh doanh vận tải hành khách phải đăng ký tiêu chuẩn, chất lượng dịch vụ vận tải hành khách với cơ quan có thẩm quyền và phải niêm yết công khai nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải hành khách, tạo điều kiện cho cơ quan quản lý và hành khách giám sát việc thực hiện tiêu chuẩn, chất lượng dịch vụ đã đăng ký của người kinh doanh vận tải hành khách. Đặc biệt có quy định “phương tiện kinh doanh vận tải phải gắn thiết bị giám sát hành trình của xe theo quy định của Chính phủ”. Đây là quy định mang tính đột phá trong việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào công tác quản lý hoạt động kinh doanh vận tải. Thiết bị giám sát hành trình của xe (hộp đen) là công cụ hữu hiệu để quản lý hành trình của xe, kiểm soát được việc tuân thủ pháp luật của lái xe (như việc chấp hành quy định về thời gian lái xe trên đường không quá 4 giờ liên tục, chấp hành quy định về tốc độ, các điểm dừng, đỗ xe để đón, trả khách…), cho phép can thiệp hoặc hỗ trợ kịp thời khi xe gặp sự cố. Thực hiện tốt quy định này sẽ nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh vận tải, đặc biệt là vận tải khách công cộng, tăng cường bảo đảm an toàn giao thông, bảo vệ quyền lợi của hành khách, tăng cường công tác quản lý của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, với số lượng lớn xe đang hoạt động kinh doanh vận tải hiện nay, cùng với yêu cầu phải quản lý chất lượng của thiết bị giám sát hành trình, việc lắp đặt thiết bị này cần được thực hiện theo lộ trình để bảo đảm tính khả thi. Do đó, Luật đã giao Chính phủ quy định cụ thể phạm vi, đối tượng, lộ trình thực hiện cho phù hợp với tình hình thực tế.

Ngoài ra, để bảo đảm an toàn giao thông, nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh vận tải, đặc biệt đối với những loại hình kinh doanh có nguy cơ gây mất an toàn cao, ảnh hưởng lớn đến trật tự, an toàn giao thông, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định hạn chế “Chỉ các doanh nghiệp, hợp tác xã mới được kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định, kinh doanh vận tải hành khách bằng xe buýt, bằng xe taxi ” và “Chỉ các doanh nghiệp, hợp tác xã mới được kinh doanh vận tải hàng hóa bằng công-ten-nơ ”. Như vậy, muốn hoạt động kinh doanh những loại hình này đòi hỏi đơn vị kinh doanh phải có tổ chức, có trình độ quản lý và quy mô nhất định để đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, đặc biệt là yêu cầu về bảo đảm an toàn giao thông.

Để tiếp tục triển khai quy định của Luật GTĐB năm 2008 và thực hiện quản lý chặt chẽ việc tuân thủ các quy định về điều kiện kinh doanh, Luật đã giao Chính phủ quy định cụ thể điều kiện và đặc biệt là việc cấp giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô. Hiện nay, hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô chưa được cấp giấy phép kinh doanh, cơ quan quản lý nhà nước quản lý hoạt động kinh doanh này bằng nhiều loại giấy phép riêng cho từng nội dung quản lý. Với quy định cấp giấy phép kinh doanh sẽ đạt được hai mục tiêu: vừa củng cố, tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ, vừa tạo thuận lợi cho hoạt động của đơn vị kinh doanh do giảm các giấy phép nhỏ lẻ từ đó giảm thủ tục hành chính.

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng bổ sung quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của của từng đối tượng tham gia trong hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ, đó là người kinh doanh vận tải, người lái xe và nhân viên phục vụ trên ô tô vận tải hành khách, hành khách, người thuê vận tải, người nhận hàng, cụ thể:

- Đối với người kinh doanh vận tải, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 bổ sung 02 Điều quy định quyền và nghĩa vụ của người kinh doanh vận tải:

Điều 69. Quyền và nghĩa vụ của người kinh doanh vận tải hành khách

1. Người kinh doanh vận tải hành khách có các quyền sau đây:

a) Thu cước, phí vận tải;

b) Từ chối vận chuyển trước khi phương tiện rời bến xe, rời vị trí đón, trả hành khách theo hợp đồng vận chuyển những người đã có vé hoặc người trong danh sách hợp đồng có hành vi gây rối trật tự công cộng, gây cản trở công việc của người kinh doanh vận tải, ảnh hưởng đến sức khoẻ, tài sản của người khác, gian lận vé hoặc hành khách đang bị dịch bệnh nguy hiểm.

2. Người kinh doanh vận tải hành khách có các nghĩa vụ sau đây:

a) Thực hiện đầy đủ các cam kết về chất lượng vận tải, hợp đồng vận tải;

b) Mua bảo hiểm cho hành khách; phí bảo hiểm được tính vào giá vé hành khách;

c) Giao vé, chứng từ thu cước, phí vận tải cho hành khách;

d) Bồi thường thiệt hại do người làm công, người đại diện gây ra trong khi thực hiện công việc được người kinh doanh vận tải giao;

đ) Chịu trách nhiệm về hậu quả mà người làm công, người đại diện gây ra do thực hiện yêu cầu của người kinh doanh vận tải trái quy định của Luật này.

3. Bộ trưởng Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về vé và chứng từ thu cước, phí vận tải hành khách.”

và:

“Điều 73. Quyền và nghĩa vụ của người kinh doanh vận tải hàng hóa

1. Người kinh doanh vận tải hàng hóa có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu người thuê vận tải cung cấp thông tin cần thiết về hàng hóa để ghi vào giấy vận chuyển và có quyền kiểm tra tính xác thực của thông tin đó;

b) Yêu cầu người thuê vận tải thanh toán đủ cước, phí vận tải và chi phí phát sinh; yêu cầu người thuê vận tải bồi thường thiệt hại do vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng;

c) Từ chối vận chuyển nếu người thuê vận tải không giao hàng hóa theo thỏa thuận trong hợp đồng;

d) Yêu cầu giám định hàng hóa khi cần thiết.

2. Người kinh doanh vận tải hàng hóa có các nghĩa vụ sau đây:

a) Cung cấp phương tiện đúng loại, thời gian, địa điểm và giao hàng hóa cho người nhận hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng;

b) Hướng dẫn xếp, dỡ hàng hóa trên phương tiện;

c) Bồi thường thiệt hại cho người thuê vận tải do mất mát, hư hỏng hàng hóa xảy ra trong quá trình vận tải từ lúc nhận hàng đến lúc giao hàng, trừ trường hợp miễn bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;

d) Bồi thường thiệt hại do người làm công, người đại diện gây ra trong khi thực hiện công việc được người kinh doanh vận tải giao;

đ) Chịu trách nhiệm về hậu quả mà người làm công, người đại diện gây ra do thực hiện yêu cầu của người kinh doanh vận tải trái quy định của Luật này.

3. Chính phủ quy định giới hạn trách nhiệm của người kinh doanh vận tải hàng hóa.”

Trong các quy định này, đặc biệt có quy định về nghĩa vụ của người kinh doanh vận tải phải “Bồi thường thiệt hại do người làm công, người đại diện gây ra trong khi thực hiện công việc được người kinh doanh vận tải giao” và “Chịu trách nhiệm về hậu quả mà người làm công, người đại diện gây ra do thực hiện yêu cầu của người kinh doanh vận tải trái quy định của Luật này”. Đây là một quy định mới, rất thiết thực để bảo vệ quyền lợi của hành khách cũng như những người bị hại nói chung. Xuất phát từ thực tế hiện nay, tình trạng người kinh doanh vận tải vì mục đích lợi nhuận mà không bảo đảm điều kiện làm việc cho người lái xe, thậm chí ép lái xe phải làm trái quy định về an toàn giao thông để giảm chi phí đang diễn ra khá phổ biến. Những vi phạm chủ yếu là làm việc quá thời gian quy định, ép thời gian hành trình dẫn đến tình trạng phóng nhanh vượt ẩu, đón trả khách không đúng nơi quy định, chở hàng trong khoang chở hành khách… đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn giao thông, làm giảm chất lượng dịch vụ vận tải, xâm hại đến quyền lợi và gây tâm lý hoang mang cho hành khách đi xe. Quy định như vậy để ràng buộc trách nhiệm của người kinh doanh vận tải, bảo đảm quyền lợi của hành khách đi xe, đồng thời cũng bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người lái xe, thể hiện sự công bằng của pháp luật. Ngoài ra, quy định nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là của người kinh doanh vận tải, là người có khả năng tài chính, cũng bảo đảm thiệt hại được bồi thường kịp thời, đầy đủ, bảo vệ quyền lợi của người bị hại. Quy định này cũng phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 tại Điều 622 - Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra.

- Đối với hành khách đi xe, Điều 71 Luật GTĐB năm 2008 cũng có quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của hành khách:

Điều 71. Quyền và nghĩa vụ của hành khách

1. Hành khách có các quyền sau đây:

a) Được vận chuyển theo đúng hợp đồng vận tải, cam kết của người kinh doanh vận tải về chất lượng vận tải;

b) Được miễn cước hành lý với trọng lượng không quá 20 kg và với kích thước phù hợp với thiết kế của xe;

c) Được từ chối chuyến đi trước khi phương tiện khởi hành và được trả lại tiền vé theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.

2. Hành khách có các nghĩa vụ sau đây:

a) Mua vé và trả cước, phí vận tải hành lý mang theo quá mức quy định;

b) Có mặt tại nơi xuất phát đúng thời gian đã thỏa thuận; chấp hành quy định về vận chuyển; thực hiện đúng hướng dẫn của lái xe, nhân viên phục vụ trên xe về các quy định bảo đảm trật tự, an toàn giao thông;

c) Không mang theo hành lý, hàng hóa mà pháp luật cấm lưu thông.”

Đáng chú ý trong Điều này là quy định quyền của hành khách được “từ chối chuyến đi trước khi phương tiện khởi hành và được trả lại tiền vé theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.

Quy định này là căn cứ để Bộ Giao thông vận tải quy định chi tiết các trường hợp hành khách được trả lại tiền vé, mức tiền được trả lại…thể hiện sự quan tâm đến quyền lợi của hành khách, nâng cao chất lượng dịch vụ kinh doanh vận tải.

- Đối với nhân viên phục vụ trên ô tô vận tải hành khách, Luật GTĐB năm 2008 chú trọng đến quy định thái độ phục vụ hành khách, việc bảo đảm an toàn tính mạng cho hành khách và giữ gìn vệ sinh môi trường, vì vậy đã bổ sung những nội dung này tại Điều 70:

Điều 70. Trách nhiệm của người lái xe và nhân viên phục vụ trên xe ô tô vận tải hành khách

1. Kiểm tra các điều kiện bảo đảm an toàn của xe trước khi khởi hành.

2. Có thái độ văn minh, lịch sự, hướng dẫn hành khách ngồi đúng nơi quy định.

3. Kiểm tra việc sắp xếp, chằng buộc hành lý, hàng hóa bảo đảm an toàn.

4. Có biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của hành khách đi xe, giữ gìn trật tự, vệ sinh trong xe.

5. Đóng cửa lên xuống của xe trước và trong khi xe chạy.”

- Đối với người tham gia trong hoạt động kinh doanh vận tải hàng hóa, Luật GTĐB năm 2008 đã đưa những quy định từ Nghị định số 110/2006/NĐ-CP ngày 28/9/2006 về điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô lên thành Luật thể hiện ở các Điều 73-Quyền và nghĩa vụ của người kinh doanh vận tải hàng hóa, Điều 74-Quyền và nghĩa vụ của người thuê vận tải hàng hóa, Điều 75-Quyền và nghĩa vụ của người nhận hàng. Trong đó đáng chú ý có quy định mới giao “Chính phủ quy định giới hạn trách nhiệm của người kinh doanh vận tải hàng hóa.” (khoản 3 Điều 73), quy định này trên cơ sở tham khảo Công ước quốc tế về vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ (Công ước CMR). Căn cứ quy định này, Chính phủ sẽ quy định cụ thể trách nhiệm, giới hạn mức bồi thường của người kinh doanh vận tải trong trường hợp hai bên không thỏa thuận được mức bồi thường thiệt hại với mục đích tạo thuận lợi cho việc giải quyết những tranh chấp phát sinh giữa người vận tải và người thuê vận tải, bảo đảm công bằng, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.

Để bảo đảm yêu cầu tham gia giao thông của người khuyết tật, Luật GTĐB năm 2008 cũng quy định tại Điều 79 khoản 5: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể về hoạt động vận tải đường bộ trong đô thị và tỷ lệ phương tiện vận tải hành khách đáp ứng nhu cầu đi lại của người khuyết tật.”. Với quy định này, căn cứ tình hình tại địa phương mình, Ủy ban nhân dân các tỉnh sẽ quy định con số cụ thể về tỷ lệ các phương tiện vận tải hành khách phải được thiết kế hoặc lắp đặt các trang thiết bị hỗ trợ người khuyết tật, bảo đảm người khuyết tật có thể đi lại thuận tiện.

Ngoài ra, những nội dung được quy định và thực hiện ổn định từ một số Nghị định của Chính phủ cũng đã được đưa lên thành Luật, thể hiện ở một số Điều mới như:

Điều 77. Vận chuyển động vật sống

1. Tùy theo loại động vật sống, người kinh doanh vận tải yêu cầu người thuê vận tải bố trí người áp tải để chăm sóc trong quá trình vận tải.

2. Người thuê vận tải chịu trách nhiệm về việc xếp, dỡ động vật sống theo hướng dẫn của người kinh doanh vận tải; trường hợp người thuê vận tải không thực hiện được thì phải trả cước, phí xếp, dỡ cho người kinh doanh vận tải.

3. Việc vận chuyển động vật sống trên đường phải tuân theo quy định của pháp luật về vệ sinh, phòng dịch và bảo vệ môi trường.”

“Điều 81. Vận tải đa phương thức

1. Vận tải đa phương thức quy định trong Luật này là việc vận chuyển hàng hóa từ địa điểm nhận hàng đến địa điểm trả hàng cho người nhận hàng bằng ít nhất hai phương thức vận tải, trong đó có phương thức vận tải bằng đường bộ trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương thức.

2. Chính phủ quy định cụ thể về vận tải đa phương thức.”

Việc bổ sung các quy định này thể hiện phạm vi điều chỉnh toàn diện hơn đối với các vấn đề liên quan đến hoạt động vận tải đường bộ của Luật GTĐB năm 2008 so với Luật GTĐB năm 2001.

6.2. Về dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ

Đây là loại hình kinh doanh không có điều kiện, khác so với kinh doanh vận tải đường bộ là loại hình kinh doanh có điều kiện.

Để phân biệt rõ ràng giữa hoạt động vận tải đường bộ và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, tạo thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước đối với hai loại hình dịch vụ này, Luật Giao thông đường năm 2008 đã liệt kê chi tiết các dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ bao gồm: “dịch vụ tại bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, đại lý vận tải, đại lý bán vé, dịch vụ thu gom hàng, dịch vụ chuyển tải, dịch vụ kho hàng, dịch vụ cứu hộ vận tải đường bộ.” (khoản 1 Điều 82)

Trong các dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, Luật Giao thông đường năm 2008 đặc biệt chú trọng loại hình dịch vụ của bến xe ô tô, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ. Đây là những dịch vụ có liên hệ mật thiết, ảnh hưởng lớn đến hoạt động vận tải. Để tăng cường sự quản lý của nhà nước, bảo đảm các hoạt động này diễn ra trật tự, an toàn, phát triển lành mạnh và hỗ trợ có hiệu quả cho hoạt động vận tải đường bộ, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các đơn vị kinh doanh các loại hình dịch vụ này:

Điều 83. Tổ chức hoạt động của bến xe ô tô, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ

1. Hoạt động của bến xe ô tô khách, bến xe ô tô hàng, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ phải bảo đảm trật tự, an toàn, vệ sinh môi trường, phòng, chống cháy nổ và chịu sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ở địa phương.

2. Doanh nghiệp, hợp tác xã khai thác bến xe ô tô khách có quyền, nghĩa vụ sắp xếp nơi bán vé hoặc tổ chức bán vé cho hành khách theo hợp đồng với người kinh doanh vận tải; sắp xếp xe ô tô có đủ điều kiện kinh doanh vận tải vào bến đón, trả khách đúng tuyến.

3. Doanh nghiệp, hợp tác xã khai thác bến xe ô tô hàng có quyền, nghĩa vụ sắp xếp xe ô tô vào bến xếp dỡ hàng hóa, dịch vụ kho bãi, ký gửi, đóng gói, bảo quản hàng hóa.

4. Doanh nghiệp, hợp tác xã khai thác bãi đỗ xe có quyền, nghĩa vụ tổ chức dịch vụ trông giữ phương tiện.

5. Doanh nghiệp, hợp tác xã khai thác trạm dừng nghỉ có quyền, nghĩa vụ tổ chức dịch vụ phục vụ người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ; thực hiện công việc theo hợp đồng ủy thác với người vận tải.

6. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào loại bến xe ô tô để quy định giá dịch vụ xe ra, vào bến xe ô tô.”

7. Chương VII. Quản lý nhà nước, gồm 4 Điều (từ Điều 84 đến Điều 87)

Chương này quy định nội dung quản lý nhà nước về giao thông đường bộ, trách nhiệm quản lý nhà nước về giao thông đường bộ; thanh tra đường bộ; tuần tra, kiểm soát của cảnh sát giao thông đường bộ.

7.1. Về nội dung quản lý nhà nước về giao thông đường bộ

Luật Giao thông đường năm bộ năm 2008 có quy định cụ thể những nội dung quản lý nhà nước về giao thông đường bộ:

Điều 84. Nội dung quản lý nhà nước về giao thông đường bộ

1. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển giao thông đường bộ; xây dựng và chỉ đạo thực hiện chương trình quốc gia về an toàn giao thông đường bộ.

2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giao thông đường bộ; quy chuẩn, tiêu chuẩn về giao thông đường bộ.

3. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ.

4. Tổ chức quản lý, bảo trì, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

5. Đăng ký, cấp, thu hồi biển số phương tiện giao thông đường bộ; cấp, thu hồi giấy chứng nhận chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện giao thông đường bộ.

6. Quản lý đào tạo, sát hạch lái xe; cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ

7. Quản lý hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải; tổ chức cứu nạn giao thông đường bộ.

8. Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ về giao thông đường bộ; đào tạo cán bộ và công nhân kỹ thuật giao thông đường bộ.

9. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ.

10. Hợp tác quốc tế về giao thông đường bộ.”

So với Luật Giao thông đường bộ năm 2001, một trong những nội dung quản lý nhà nước quan trọng được bổ sung tại khoản 7 Điều 84 là “Quản lý hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải” thể hiện quan điểm củng cố, tăng cường quản lý nhà nước để lập lại trật tự trong hoạt động vận tải đường bộ và dịch vụ hỗ trợ vận tải và “tổ chức cứu nạn giao thông đường bộ”. Hiện nay, công tác cứu nạn giao thông đường bộ thường bị lẫn với dịch vụ cứu hộ. Với quy định trên đã phân biệt rõ việc cứu nạn giao thông đường bộ là nội dung quản lý nhà nước, do cơ quan nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện, khác với dịch vụ cứu hộ có thu tiền.

Trên cơ sở những những nội dung quản lý nhà nước cụ thể, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước về giao thông đường bộ của các cơ quan quản lý nhà nước liên quan, trong đó có bổ sung trách nhiệm phối hợp của Bộ Giao thông vận tải và Bộ Công an, hai cơ quan đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý hoạt động giao thông vận tải đường bộ, bảo đảm an toàn giao thông:

Điều 85. Trách nhiệm quản lý nhà nước về giao thông đường bộ

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giao thông đường bộ.

2. Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giao thông đường bộ.

3. Bộ Công an thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về giao thông đường bộ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; thực hiện các biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; phối hợp với Bộ Giao thông vận tải bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

Bộ Công an, Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm phối hợp trong việc cung cấp số liệu đăng ký phương tiện giao thông đường bộ, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe.

4. Bộ Quốc phòng thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về giao thông đường bộ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

5. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Giao thông vận tải thực hiện quản lý nhà nước về giao thông đường bộ.

6. Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về giao thông đường bộ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan trong phạm vi địa phương.”

7.2. Về hoạt động thanh tra đường bộ

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định:

Điều 86. Thanh tra đường bộ

1. Thanh tra đường bộ thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về giao thông đường bộ.

2. Thanh tra đường bộ có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

a) Thanh tra, phát hiện, ngăn chặn và xử phạt vi phạm hành chính trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật của công trình đường bộ; trường hợp cấp thiết, để kịp thời ngăn chặn hậu quả có thể xảy ra đối với công trình đường bộ, được phép dừng phương tiện giao thông và yêu cầu người điều khiển phương tiện thực hiện các biện pháp để bảo vệ công trình theo quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về quyết định đó;

b) Thanh tra, phát hiện, ngăn chặn và xử phạt vi phạm hành chính trong việc chấp hành các quy định về hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải tại các điểm dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí và tại cơ sở kinh doanh vận tải đường bộ;

c) Thanh tra, phát hiện, ngăn chặn và xử phạt vi phạm hành chính trong việc đào tạo, sát hạch, cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe cơ giới đường bộ, hoạt động kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới. Việc thanh tra đào tạo, sát hạch, cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe của lực lượng quân đội, công an do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định;

d) Thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật về thanh tra.

3. Tổ chức và hoạt động của Thanh tra đường bộ thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về thanh tra.

Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra đường bộ.”

Với quy định trên, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra đường bộ để nâng cao vai trò, hiệu quả của lực lượng này, kịp thời ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật như được phép dừng phương tiện giao thông và yêu cầu người điều khiển phương tiện thực hiện các biện pháp để bảo vệ công trình giao thông”, “ phát hiện, ngăn chặn và xử phạt vi phạm hành chính trong việc chấp hành các quy định về hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải tại các điểm dừng xe, đỗ xe trên đường bộ; bến xe, bãi đỗ xe; trạm dừng nghỉ, trạm kiểm tra tải trọng xe và tại cơ sở kinh doanh vận tải”, “phát hiện, ngăn chặn và xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới.”... Đặc biệt, để nâng cao trách nhiệm của Thanh tra đường bộ khi quyết định việc dừng phương tiện giao thông đường bộ, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã bổ sung quy định thanh tra đường bộ chỉ được phép dừng phương tiện trong trường hợp cần thiết, để kịp thời ngăn chặn hậu quả có thể xảy ra đối với công trình đường bộ và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

So với Luật Giao thông đường bộ năm 2001, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã bỏ khái niệm “giao thông tĩnh” vì khái niệm này không bao quát hết được phạm vi hoạt động của thanh tra đường bộ (ví dụ còn hoạt động thanh tra việc chấp hành các quy định về hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải). Hiện nay các vi phạm về công trình giao thông, hành lang an toàn đường bộ diễn biến phức tạp trên dọc các tuyến đường; đặc biệt vi phạm quy định về điều kiện kinh doanh vận tải, hiện tượng xe chở quá tải, "bến cóc", "xe dù" xảy ra ở khắp mọi nơi. Qua tổng kết 6 năm thực hiện Luật Giao thông đường bộ năm 2001 (2001-2007), do Luật Giao thông đường bộ năm 2001 quy định về phạm vi hoạt động của Thanh tra đường bộ (trước đây gọi là Thanh tra giao thông đường bộ) chỉ cho phép lực lượng này xử lý vi phạm tại các vị trí giao thông tĩnh và không quy định việc kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính về điều kiện kinh doanh vận tải đã hạn chế vai trò, tác dụng của lực lượng này, không đáp ứng yêu cầu quản lý và yêu cầu về bảo đảm trật tự an toàn giao thông.

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã quy định theo hướng liệt kê cụ thể trách nhiệm và quyền hạn của thanh tra đường bộ để làm rõ phạm vi hoạt động của lực lượng này, bảo đảm không chồng chéo với chức năng, nhiệm vụ của lực lượng cảnh sát giao thông đường bộ.

7.3. Về công tác tuần tra, kiểm soát của Cảnh sát giao thông

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định:

Điều 87. Tuần tra, kiểm soát của cảnh sát giao thông đường bộ

1. Cảnh sát giao thông đường bộ thực hiện việc tuần tra, kiểm soát để kiểm soát người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ; xử lý vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ đối với người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình; phối hợp với cơ quan quản lý đường bộ phát hiện, ngăn chặn hành vi vi phạm quy định bảo vệ công trình đường bộ và hành lang an toàn đường bộ.

2. Bộ trưởng Bộ Công an quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát của cảnh sát giao thông đường bộ.

3. Chính phủ quy định việc huy động các lực lượng cảnh sát khác và công an xã phối hợp với cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong trường hợp cần thiết.”

Điểm đáng chú ý trong Điều này là việc bổ sung quy định trách nhiệm của cảnh sát giao thông trong việc “phối hợp với cơ quan quản lý đường bộ phát hiện, ngăn chặn hành vi vi phạm quy định bảo vệ công trình đường bộ và hành lang an toàn đường bộ” nhằm tăng cường công tác bảo vệ công trình đường bộ và hành lang an toàn đường bộ, đây là yêu cầu cấp thiết trong thực tế hiện nay.

Cũng xuất phát từ yêu cầu thực tế, khi tình hình an toàn giao thông diễn biến phức tạp, lực lượng cảnh sát giao thông còn mỏng, yêu cầu bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn đòi hỏi ngày càng cao nhất là trong các đợt cao điểm, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 bổ sung quy định việc huy động các lực lượng cảnh sát khác và công an xã phối hợp với cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự an toàn giao thông đường bộ trong trường hợp cần thiết theo quy định của Chính phủ.

Với những quy định về việc bổ sung chức năng cũng như tăng cường các lực lượng tham gia tuần tra, kiểm soát, bảo đảm an toàn giao thông trên đường sẽ góp phần phát hiện, ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm, tạo sự phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau một cách có hiệu quả trong điều kiện các lực lượng này còn mỏng, tình hình trật tự, an toàn giao thông còn diễn biến phức tạp.

Bên cạnh đó, để tránh sự chồng chéo về trách nhiệm của các lực lượng trên, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng đã quy định, theo đó, các lực lượng hỗ trợ chỉ phối hợp trong việc phát hiện, ngăn chặn hành vi vi phạm chứ không có thẩm quyền xử phạt vi phạm.

7.4. Với quan điểm đổi mới trong việc xây dựng luật, so với Luật Giao thông đường bộ năm 2001, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã bỏ Chương Khen thưởng, xử lý vi phạm, đồng thời bỏ một số điều đã được quy định cụ thể tại các Luật khác như quy định về quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra (đã được quy định tại Luật Thanh tra), quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện (đã được quy định tại Luật Khiếu nại, tố cáo).

8. Chương VIII. Điều khoản thi hành, gồm 2 Điều (Điều 88, Điều 89)

Chương này quy định về hiệu lực thi hành của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009 và thay thế Luật Giao thông đường bộ ngày 29 tháng 6 năm 2001.


 

Phần thứ ba

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. DANH MỤC CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ NĂM 2001

1. Văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

STT

SỐ VĂN BẢN

CQ BAN HÀNH

HÌNH THỨC VB

TÊN VĂN BẢN

NGÀY BAN HÀNH

1

14/2003/NĐ-CP

Chính phủ

Nghị định

Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Giao thông đường bộ

05/11/2004

2

13/2003/NĐ-CP

Chính phủ

Nghị định

Quy định danh mục hàng nguy hiểm và vận chuyển hàng nguy hiểm bằng đường bộ

05/11/2004

3

15/2003/NĐ-CP

Chính phủ

Nghị định

Quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

19/02/2003

4

152/2005/NĐ-CP

Chính phủ

Nghị định

Quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

15/12/2005

5

146/2007/NĐ-CP

Chính phủ

Nghị định

Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

14/9/2007

6

168/2003/NĐ-CP

Chính phủ

Nghị định

Quy định nguồn tài chính và quản lý, sử dụng nguồn tài chính cho quản lý, bảo trì đường bộ.

24/12/2003

7

186/2004/NĐ-CP

Chính phủ

Nghị định

Về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

19/02/2003

8

136/2004/NĐ-CP

Chính phủ

Nghị định

Quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra giao thông vận tải

16/6/2004

9

91/2005/NĐ-CP

Chính phủ

Nghị định

Về việc ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng.

11/7/2005

10

23/2004/NĐ-CP

Chính phủ

Nghị định

Quy định niên hạn sử dụng của xe ô tô tải và ô tô chở người.

13/01/2004

11

92/2001/NĐ-CP

Chính phủ

Nghị định

Quy định về điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô.

11/12/2001

12

110/2006/NĐ-CP

Chính phủ

Nghị định

Quy định về điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô.

28/9/2006

13

125/2003/NĐ-CP

Chính phủ

Nghị định

Về vận tải đa phương thức Quốc tế.

29/10/2003

14

146/2007/NĐ-CP

Chính phủ

Nghị định

Quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

14/9/2007

15

13/2002/NQ-CP

Chính phủ

Nghị quyết

Về các giải pháp kiềm chế gia tăng và tiến tới giảm dần tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông.

19/11/2002

16

32/2007/NQ-CP

Chính phủ

Nghị quyết

Về các giải pháp cấp bách, kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông.

29/6/2007

17

566/2007/QĐ-TTg

Thủ tướng Chính phủ

Quyết định

Phê duyệt quy hoạch hệ thống đường ra biên giới khu vực miền Trung

08/05/2007

18

567/2007/QĐ-TTg

Thủ tướng Chính phủ

Quyết định

Phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống đường ra biên giới, đường hành lang biên giới Việt -Trung

08/05/2007

19

128/2007/QĐ-TTg

Thủ tướng Chính phủ

Quyết định

Về chỉ tiêu giảm số thiệt hại về người do tai nạn giao thông năm 2007

29/01/2007

20

238/2006/QĐ-TTg

Thủ tướng Chính phủ

Quyết định

Ban hành Quy định về việc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong hoạt động tuần tra, kiểm soát về trật tự, an toàn giao thông

24/10/2006

21

344/2005/QĐ-TTg

Thủ tướng Chính phủ

Quyết định

Phương hướng, nhiệm vụ và kế hoạch phát triển giao thông vận tải vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

26/12/2005

22

334/2005/QĐ-TTg

Thủ tướng Chính phủ

Quyết định

Phê duyệt Đề án "Tăng cường biên chế, trang thiết bị và đào tạo cho lực lượng Cảnh sát giao thông đường bộ"

19/12/2005

23

249/2005/QĐ-TTg

Thủ tướng Chính phủ

Quyết định

Quy định lộ trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải đối với phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

10/10/2005

24

206/2004/QĐ-TTg

Thủ tướng Chính phủ

Quyết định

Phê duyệt Chiến lược Phát triển giao thông vận tải Việt Nam đến năm 2020

10/12/2004

25

162/2002/QĐ-TTg

Thủ tướng Chính phủ

Quyết định

Về phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

15/11/2002

26

40/2004/CT-TTg

Thủ tướng Chính phủ

Chỉ thị

Về tăng cường công tác quản lý, bảo vệ hành lang an toàn đường Hồ Chí Minh.

26/11/2004

27

46/2004/CT-TTg

Thủ tướng Chính phủ

Chỉ thị

Về quản lý xe công nông tham gia giao thông đường bộ

09/12/2004

28

12/2004/CT-TTg

Thủ tướng Chính phủ

Chỉ thị

Tăng cường thực hiện công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông năm 2004

30/03/2004

29

01/2004/CT-TTg

Thủ tướng Chính phủ

Chỉ thị

Về chấn chỉnh hoạt động vận tải khách liên tỉnh bằng ô tô

02/01/2004

30

04/2003/CT-TTg

Thủ tướng Chính phủ

Chỉ thị

Triển khai thực hiện Chỉ thị số 22/CT-TW ngày 24 tháng 02 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 13/2002/NQ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ về các giải pháp kiềm chế gia tăng, tiến tới giảm dần tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông

12/03/2003

2. Văn bản của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải

Quyết định

STT

SỐ KÝ HIỆU

TÊN VĂN BẢN

THỜI GIAN BAN HÀNH

1

63/2007/QĐ-BGTVT

Ban hành quy định về vận chuyển hàng siêu trường siêu trọng và lưu hành xe bánh xích gây hư hại mặt đường, xe quá tải trọng, quá khổ giới hạn của đường bộ trên đường bộ

28/12/2007

2

62/2007/QĐ-BGTVT

Ban hành quy định tạm thời về kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe mô tô, xe gắn máy ba bánh dùng cho người tàn tật đã sử dụng trước ngày 01/01/2008

28/12/2007

3

60/2007/QĐ-BGTVT

Ban hành quy định về giới hạn xếp hàng của xe ô tô tải tham gia giao thông trên đường bộ và công bố tải trọng của đường bộ

07/12/2007

4

58/2007/QĐ-BGTVT

Ban hành quy định về kiểm tra chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trong sản xuất, lắp ráp xe mô tô, xe gắn máy

21/11/2007

5

57/2007/QĐ-BGTVT

Ban hành quy định về kiểm tra chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe mô tô, xe gắn máy nhập khẩu và động cơ nhập khẩu sử dụng để sản xuất, lắp ráp xe mô tô, xe gắn máy.

21/11/2007

6

56/2007/QĐ-BGTVT

Ban hành Chương trình đào tạo lái xe cơ giới đường bộ

07/11/2007

7

55/2007/QĐ-BGTVT

Ban hành Quy chế quản lý đào tạo lái xe cơ giới đường bộ

07/11/2007

8

54/2007/QĐ-BGTVT

Ban hành Quy chế quản lý sát hạch, cấp GPLX cơ giới đường bộ

07/11/2007

9

39/2007/QĐ-BGTVT

Sửa đổi, bổ sung một số điều của “ Quy định về việc kiểm tra định kỳ an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với phương tiện giao thông cơ giới đường bộ” ban hành kèm theo Quyết định số 4105/2001/QĐ-BGTVT ngày 04/12/2001 của Bộ trưởng Bộ GTVT

22/08/2007

10

29/2007/QĐ-BGTVT

Quyết định về Xếp loại đường để xác định cước vận tải đường bộ năm 2007

26/06/2007

11

23/2007/QĐ-BGTVT

Quyết định Ban hành Quy định về thẩm định an toàn giao thông đường bộ

07/05/2007

12

15/2007/QĐ-BGTVT

Quyết định sửa đổi, bổ sung một số điều khoản trong Quy định về bến ô tô khách ban hành kèm theo Quyết định số 08/2005/QĐ-BGTVT ngày 10/01/2005 của Bộ trưởng BGTVT

26/03/2007

13

16/2007/QĐ-BGTVT

Ban hành Quy định vận tải khách bằng ô tô theo tuyến cố định, hợp đồng và vận tải khách du lịch bằng ôtô

26/03/2007

14

17/2007/QĐ-BGTVT

Ban hành quy định về vận tải khách bằng taxi

23/03/2007

15

05/2007/QĐ-BGTVT

Quyết định ban hành Quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới tham gia giao thông trên đường bộ

02/02/2007

16

01/2007/QĐ-BGTVT

Quyết định về việc bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn

17/01/2007

17

54/2006/QĐ-BGTVT

Ban hành Tiêu chuẩn ngành 22 TCN 354-06 "Tiêu chuẩn vật liệu nhũ tương nhựa đường gốc a xít-Yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thí nghiệm"

29/12/2006

18

52/2006/QĐ-BGTVT

Quyết định về việc ban hành Tiêu chuẩn ngành 22 TCN 211 - 06 “Áo đường mềm - Các yêu cầu và chỉ dẫn thiết kế”

28/12/2006

19

44/2006/QĐ-BGTVT

Quyết định về việc ban hành tiêu chuẩn ngành 22 TCN 356-06 "Quy trình công nghệ thi công và nghiệm thu mặt đường bê tông nhựa sử dụng nhựa đường Polime"

19/12/2006

20

36/2006/QĐ-BGTVT

Ban hành Quy chế bồi dưỡng kiến thức pháp luật giao thông đường bộ cho người điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ

31/10/2006

21

34/2006/QĐ-BGTVT

Ban hành Quy định về quản lý vận tải khách công cộng bằng xe buýt

16/10/2006

22

24/2006/QĐ-BGTVT

Ban hành Tiêu chuẩn ngành: “Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ - ô tô – yêu cầu an toàn chung” 22 TCN 307– 06

10/05/2006

23

19/2006/QĐ-BGTVT

Về việc công bố Danh mục hàng hoá theo quy định tại Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ

04/05/2006

24

18/2006/QĐ-BGTVT

Ban hành Tiêu chuẩn ngành 22 TCN 346-06 "Quy trình thí nghiệm xác định độ chặt nền, móng đường bằng

19/04/2006

25

17/2006/QĐ-BGTVT

Ban hành Tiêu chuẩn ngành 22 TCN 345 - 06 "Quy trình công nghệ thi công và nghiệm thu lớp phủ mỏng bê tông nhựa có độ nhóm cao" 22 TCN 345 - 06

19/04/2006

26

15/2006/QÐ-BGTVT

Quyết định Ban hành Điều lệ đường ngang;Điều lệ đường ngang;Phụ bản

30/03/2006

27

13/2006/QĐ-BGTVT

Ban hành Tiêu chuẩn Ngành "Quy trình đầm nén đất, đá dăm trong phòng thí nghiệm"

20/02/2006

28

04/2006/QÐ-BGTVT

Ban hành Quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công công trình trong phạm vi đất dành cho đường bộ

09/01/2006

29

72/2005/QĐ-BGTVT

Ban hành quy chế quản lý sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ. Quyết định này thay thế Quyết định số 4352/2001/QĐ-BGTVT ngày 18 tháng 12 năm 2001 của Bộ Trưởng Bộ Giao thông vận tải

28/12/2005

30

45 /2005/QĐ-BGTVT

Về việc quy định điều kiện thành lập và hoạt động của Trung tâm Đăng kiểm xe cơ giới

23/09/2005

31

42/2005/QĐ-BGTVT

Quyết định ban hành Quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới tham gia giao thông trên đường bộ

16/09/2005

32

38 /2005/QĐ-BGTVT

Ban hành Quy chế cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh dịch vụ thiết kế phương tiện vận tải

09/08/2005

33

35 /2005/QĐ-BGTVT

Ban hành Quy định về kiểm tra chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới nhập khẩu vào Việt Nam

21/07/2005

34

34 /2005/QĐ-BGTVT

Ban hành Quy định về kiểm tra chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trong sản xuất, lắp ráp xe cơ giới

21/07/2005

35

36 /2005/QĐ-BGTVT

Quy định về việc đặt tên hoặc số hiệu đường bộ

21/07/2005

36

32 / 2005/QĐ-BGTVT

Ban hành Quy định về xếp loại đường để xác định cước vận tải đường bộ

17/06/2005

37

28 /2005/QĐ-BGTVT

Quy định về cờ hiệu, trang phục, phù hiệu, cấp hiệu, biển hiệu; phương tiện, thiết bị kỹ thuật của Thanh tra giao thông vận tải các cấp

18/05/2005

38

25 /2005/QĐ-BGTVT

Ban hành Quy định về việc áp dụng tiêu chuẩn trong xây dựng công trình giao thông

13/05/2005

39

21 /2005/QĐ-BGTVT

về việc bổ sung biển báo hiệu vào Điều lệ báo hiệu đường bộ 22 TCN 237 - 01

30/03/2005

40

15 /2005/QĐ-BGTVT

ban hành Quy định về việc cải tạo phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

15/02/2005

41

13/2005/QĐ-BGTVT

Ban hành "Quy định về việc xác định và xử lý vị trí nguy hiểm thường xảy ra tai nạn giao thông trên đường bộ đang khai thác"

02/02/2005

42

10/2004/QĐ-BGTVT

Bổ sung "Quy chế quản lý sát hạch cấp Giấy phép lái xe cơ giới đường bộ" ban hành kèm theo Quyết định số 4352/2001/QĐ-BGTVT ngày 18 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.

12/01/2005

43

09 /2005/QĐ-BGTVT

Ban hành "Quy định vận tải khách bằng ôtô theo tuyến cố định và vận tải khách bằng ôtô theo hợp đồng"

10/01/2005

44

08 /2005/QĐ-BGTVT

Ban hành "Quy định về bến xe ôtô khách"

10/01/2005

45

05 /2005/QĐ-BGTVT

Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Thanh tra Cục Đường bộ Việt Nam

04/01/2005

46

38/2004/QĐ-BGTVT

QĐ thay thế Quyết định 1510/2003/QĐ-BGTVT về việc ban hành quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân khi vi phạm trong quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

24/12/2004

47

17/2004/QĐ-BGTVT

Quyết định ban hành Quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới tham gia giao thông trên đường bộ

30/09/2004

48

16/2004/QĐ-BGTVT

Về việc sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 4 Quy chế quản lý, sử dụng, khai thác đảm bảo an toàn giao thông đường Hồ Chí Minh - giai đoạn I

30/09/2004

49

12/2004/QĐ-BGTVT

QĐ thay thế Quyết định 318/2003/QĐ-BGTVT Về việc ban hành Quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân khi vi phạm về quản lý, điều hành hoạt động thu phí trên quốc lộ do Nhà nước quản lý

50

11/2004/QĐ-GTVT

Ban hành Qui chế quản lý, điều hành, sử dụng hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý hoạt động vận tải khách liên tỉnh bằng ôtô.

14/07/2004

51

09/2004/QĐ-BGTVT

Về việc quy định tạm thời tốc độ và chiều cao xe vận chuyển container

23/06/2004

52

2525/2003/QĐ-BGTVT

Ban hành “Quy định thi công công trình trên đường bộ đang khai thác”.

28/08/2003

53

3633/2003/QĐ-BGTVT

Ban hành quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân khi vi phạm trong quản lý điều hành và hoạt động kinh doanh vận tải khách bằng ô tô

02/12/2003

54

2112/2003/QĐ-BGTVT

Về việc bổ sung, sửa đổi một số điều của Quy định vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng bằng đường bộ (ban hành kèm theo Quyết định số 824/2002/QĐ-BGTVT ngày 25/3/2002 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải)

21/07/2003

55

2074/2003/QĐ-BGTVT

Về tải trọng và khổ giới hạn đường bộ các quốc lộ

16/07/2003

56

2002/2003/QĐ-BGTVT

Ban hành tiêu chuẩn ngành số hiệu 22 TCN 307 - 03.

10/07/2003

57

1943 /2003/QĐ-BGTVT

Ban hành Quy chế quản lý, sử dụng, khai thác đảm bảo an toàn giao thông đoạn Lạng Sơn - Hà Nội QL1 mới

04/07/2003

58

1944/2003/QĐ-BGTVT

Ban hành Quy chế quản lý, sử dụng, khai thác đảm bảo an toàn giao thông đường Hồ Chí Minh - giai đoạn 1

04/07/2003

59

1527/2003/QĐ-BGTVT

Ban hành Tiêu chuẩn ngành bảo dưỡng thường xuyên đường bộ 22TCN 306-03

28/05/2003

60

1510/2003/QĐ-BGTVT

Về việc ban hành quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân khi vi phạm trong quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

27/05/2003

61

1467/2003/QĐ-BGTVT

Về việc quy định tạm thời trách nhiệm của tổ chức, cá nhân và hình thức xử lý vi phạm đối với cá nhân trong hoạt động thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa

22/05/2003

62

1378/2003/QĐ-BGTVT

Ban hành quy định tạm thời về việc kiểm tra chất lượng mô tô, xe gắn máy nhập khẩu và động cơ nhập khẩu sử dụng để sản xuất, lắp ráp mô tô, xe gắn máy

15/05/2003

63

1040/2003/QĐ-BGTVT

Bổ sung "Quy chế quản lý sát hạch cấp Giấy phép lái xe cơ giới đường bộ" Ban hành kèm theo Quyết định số 4352/2001/QĐ-BGTVT ngày 18/12/2001 của Bộ trưởng Bộ GTVT

15/04/2003

64

992/2003/QĐ-BGTVT

Ban hành quy định bảo dưỡng kỹ thuật, sửa chữa ôtô

09/04/2003

65

318 /2003/QĐ-BGTVT

Về việc ban hành Quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân khi vi phạm về quản lý, điều hành hoạt động thu phí trên quốc lộ do Nhà nước quản lý

30/01/2003

66

294 /2003/QĐ-BGTVT

Ban hành Quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân khi vi phạm về quản lý, điều hành hoạt động của Trạm kiểm tra tải trọng xe cơ giới đường bộ

28/01/2003

67

4455/2002/QĐ-BGTVT

Ban hành quy định trách nhiệm và xử lý khi vi phạm về quản lý, kiểm tra chất lượng và an toàn kỹ thuật phương tiện giao thông vận tải

31/12/2002

68

4391/2002/QĐ-BGTVT

Ban hành quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân khi vi phạm về quản lý, bảo đảm chất lượng các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông

27/12/2002

69

4480/2002/QĐ-BGTVT

Ban hành quy định trách nhiệm và xử lý khi vi phạm trong công tác quản lý đào tạo, sát hạch cấp GPLX cơ giới đường bộ

21/12/2002

70

4193/2002/QĐ-BGTVT

Sửa đổi, bổ sung Quy chế quản lý sát hạch, cấp GPLX cơ giới đường bộ ban hành kèm theo Quyết định số 4352/2001/QĐ-BGTVT ngày 18/12/2001

13/12/2002

71

3165/ 2002/QĐ-BGTVT

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về Tiêu chuẩn, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn, khen thưởng và kỷ luật đối với cán bộ đăng kiểm tại các đơn vị đăng kiểm phương tiện cơ giới đường bộ được ban hành kèm theo Quyết định 1643/1998/QĐ-BGTVT ngày 6-7-1998 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.

02/10/2002

72

2557/ 2002/ QĐ-BGTVT

Ban hành quy định về việc kiểm tra chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trong sản xuất, lắp ráp các loại mô tô, xe gắn máy

16/08/2002

73

2047/2002/QĐ-BGTVT

Ban hành quy chế quản lý, sử dụng, khai thác đảm bản an toàn giao thông đường Pháp Vân - Cầu Giẽ

02/07/2002

74

824/2002/QĐ-BGTVT

Quy định vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng bằng đường bộ

25/03/2002

75

4597/2001/QĐ-BGTVT

Quy định kiểu loại phương tiện giao thông cơ giới đường bộ được phép tham gia giao thông

28/12/2001

76

4596/2001/QĐ-BGTVT

Quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới chạy trên đường bộ

28/12/2001

77

4393/2001/QĐ-BGTVT

Ban hành “Điều lệ báo hiệu đường bộ”

20/12/2001

78

4392/2001/QĐ-BGTVT

Ban hành “Tiêu chuẩn trung tâm sát hạch lái xe”

20/12/2001

79

4381/2001/QĐ-BGTVT

Quy định cấp đăng ký, biển số, kiểm tra an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe máy chuyên dùng tham gia GTĐB

19/12/2001

80

4368/2001/QĐ-BGTVT

Ban hành “Tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ”

19/12/2001

81

4353/2001/QĐ-BGTVT

Ban hành “Quy chế quản lý đào tạo lái xe cơ giới đường bộ”

18/12/2001

82

4352/2001/QĐ-BGTVT

Ban hành “Quy chế quản lý sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ”

18/12/2001

83

4213/2001/QĐ-BGTVT

Ban hành “Quy định về thi công công trình trên đường đang khai thác”

10/12/2001

84

4212/2001/QĐ-BGTVT

Quy định về tổ chức và hoạt động của trạm kiểm tra tải trọng xe

10/12/2001

85

4211/2001/QĐ-BGTVT

Công bố tải trọng trên các quốc lộ

10/12/2001

86

4170/2001/QĐ-BGTVT

Ban hành “Chương trình đào tạo nghề lái xe cơ giới đường bộ”

07/12/2001

87

4128/2001/QĐ-BGTVT

Ban hành”Quy định về bến xe ô tô khách”

05/12/2001

88

4127/2001/QĐ-BGTVT

Ban hành “Quy định về tuyến vận tải khách và quản lý, khai thác tuyến vận tải khách bằng ô tô”

05/12/2001

89

4126/2001/QĐ-BGTVT

Ban hành “Quy định về vận chuyển khách bằng taxi”

05/12/2001

90

4134/2001/QĐ-BGTVT

Ban hành Tiêu chuẩn ngành “Tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện giao thông cơ giới đường bộ”

05/12/2001

91

4135/2001/QĐ-BGTVT

Ban hành Tiêu chuẩn ngành “Tiêu chuẩn trạm đăng kiểm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ”

05/12/2001

92

4105/2001/QĐ-BGTVT

Ban hành quy định về việc kiểm tra định kỳ an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

04/12/2001

93

2988/2001/QĐ-BGTVT

Ban hành quy chế phòng, chống, khắc phục hậu quả bão lụt trong ngành đường bộ

12/9/2001

Thông tư

94

04/2007/QĐ-BGTVT

Hướng dẫn hoạt động thanh tra giao thông vận tải

13/03/2007

95

10/2006/TT-BGTVT

Hướng dẫn thi hành một số điều của Hiệp định và Nghị định thư thực hiện Hiệp định vận tải đường bộ giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hoàng gia Campuchia

01/11/2006

96

09/2006/TT-BGTVT

Hướng dẫn thực hiện việc điều chỉnh báo hiệu đường bộ trên các tuyến đường tham gia Hiệp định tạo thuận lợi vận tải người và hàng hóa qua lại biên giới giữa các nước tiểu vùng Mê Công mở rộng (Hiệp định GMS)

20/09/2006

97

13 /2005/TT-BGTVT

Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 186/2004/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ Quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

07/11/2005

98

11 /2005/TT-BGTVT

Hướng dẫn về công tác thẩm định an toàn giao thông đường bộ

05/09/2005

99

12 /2004/TT- BGTVT

Hướng dẫn thanh tra giao thông thực hiện chỉ thị số 01/2004/CT- TTg của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh hoạt động vận tải khách liên tỉnh bằng ôtô

01/07/2004

100

10/2004/TT-BGTVT

Hướng dẫn thi hành Nghị định số 125/2003/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về vận tải đa phương thức quốc tế

23/06/2004

101

06 /2004/TT-BGTVT

Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 23/2004/NĐ-CP của Chính phủ về quy định niên hạn sử dụng của ô tô tải và ô tô chở người

31/03/2004

102

01/2003/TT-BGTVT

Hướng dẫn đội mũ bảo hiểm khi đi xe mô tô, xe gắn máy

08/01/2003

103

03 /2002/TT-BGTVT

Hướng dẫn việc sử dụng xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh và các loại xe tương tự để vận chuyển khách, hàng

27/02/2002

104

21/2001/TT-BGTVT

Thông tư hướng dẫn việc lưu hành xe quá tải, quá khổ và xe bánh xích trên đường bộ

10/12/2001

Chi thị

105

07/2007/CT-BGTVT

Về vịêc tiếp tục nâng cao chất lượng công tác đào tạo, sát hạch và cấp giấy phép lái xe

30/5/2007

106

21 /2003/CT-BGTVT

Về việc tổ chức kiểm tra và thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn giao thông tại các đường ngang

15/09/2003

107

12/2003/CT-BGTVT

Về chấn chỉnh công tác tổ chức vận tải khách liên tỉnh bằng ô tô

22/05/2003

108

27/2002/CT-TTg

Về việc thực hiện Nghị định 92/2001/NĐ-CP quy định điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô

27/12/2002

109

25/2002/CT-BGTVT

Về việc tăng cường kiểm tra và chấn chỉnh công tác kiểm định phương tiện cơ giới đường bộ

19/12/2002

110

22 /2002/ CT- BGTVT

Về việc cán bộ, công nhân viên ngành giao thông vận tải gưng mẫu thực hiện Nghị quyết số 13/2002/NQ - CP ngày 19 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ

29/11/2002

111

20 /2002/CT-BGTVT

Về việc tiếp tục nâng cao trách nhiệm quản lý đào tạo sát hạch và cấp giấy phép lái xe

11/11/2002

112

14/2002/CT-BGTVT

Về việc tăng cường hoạt động của lực lượng Thanh tra giao thông

09/08/2002

113

13/2002/CT-BGTVT

Về việc tăng cường quản lý hoạt động các trạm kiểm tra tải trọng xe

02/08/2002

3. Văn bản của Bộ trưởng Bộ Tài Chính.

STT

SỐ, KÝ HIỆU

HÌNH THỨC VĂN BẢN

TÊN VĂN BẢN

THỜI GIAN BAN HÀNH

1

89/2007/TT-BTC

Thông tư

Hướng dẫn việc thu, nộp tiền phạt, quản lý và sử dụng tiền thu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt và đường thuỷ nội địa

25/07/2007

2

78/2007/TT-BTC

Thông tư

Hướng dẫn việc thu nộp tiền phạt, quản lý và sử dụng tiền thu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt và đường thuỷ nội địa

06/07/2007

3

53/2007/TT-BTC

Thông tư

Hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sát hạch lái xe cơ giới đường bộ

21/05/2007

4

26/2007/TT-BTC

Thông tư

Hướng dẫn mức thu học phí, quản lý và sử dụng học phí đào tạo lái xe cơ giới đường bộ

03/04/2007

5

106/2004/TT-BTC

Thông tư

Về sử dụng kinh phí bảo đảm TTATGT do ngân sách TW cấp.

09/11/2004

6

25/2003/TT-BTC

Thông tư

Hướng dẫn việc thu, nộp tiền phạt, quản lý và sử dụng tiền thu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực TTATGT.

28/03/2003

7

47/2007/TT-BTC

Thông tư

Thông tư số 47/2003/TT-BTC của Bộ tài chính sử đổi, bổ sung Thông tư 25/2003/TT-BTC

15/5/2003

8

15/2003/TT-BTC

Thông tư

Hướng dẫn về phí trông giữ xe đạp, xe máy, ô tô bị tạm giữ do vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông

07/03/2003

9

02/2003/TT-BTC

Thông tư

Hướng dẫn bổ sung Thông tư số 109/2002/TT-BTC ngày 6/12/2002 của Bộ Tài chính về việc quy định chế độ thu nộp và quản lý sử dụng phí sử dụng đường bộ

18/02/2003

10

10/2003/QĐ-BTC

Quyết định

Ban hành mức thu phí kiểm định an toàn kỹ thuật và chất lượng xe cơ giới và các loại thiết bị, xe máy chuyên dùng

24/01/2003

11

01/2003/TT-BTC

Thông tư

Sửa đổi mức thu phí sử dụng đường bộ đối với xe quân sự của Bộ Quốc Phòng

07/01/2003

12

109/2002/TT-BTC

Thông tư

Quy định chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí sử dụng đường bộ

06/12/2002

13

77/2002/QĐ-BTC

Quyết định

Về việc tạm thời thực hiện thu và miễn, giảm phí sử dụng cầu, đường bộ, đò, phà.

10/06/2002

4. Văn bản của Bộ trưởng Bộ Công an

STT

SỐ, KÝ HIỆU

HÌNH THỨC VĂN BẢN

TÊN VĂN BẢN

THỜI GIAN BAN HÀNH

1

174/2000/QĐ-BCA(C11)

Quyết định

Ban hành quy trình tuần tra kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ.

25/2/2000

2

18/2002/QĐ-BCA(C11)

Quyết định

Ban hành quy định về việc đăng ký cấp biển số xe máy chuyên dùng và kiểm tra định kỳ an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe ô tô và xe máy chuyên dùng của Ngành Công an.

07/01/2002

3

359/2002/QĐ- BCA

Quyết định

Về nhiệm vụ, quyền hạn tuần tra, kiểm soát của Cảnh sát giao thông đường bộ.

19/4/2002

4

1305/2002/QĐ-BCA(C11)

Quyết định

Ban hành quy định về việc tổ chức đào tạo; sát hạch và cấp, đổi giấy phép lái xe trong lực lượng Công an nhân dân;

27/12/2002

5

30/2003/QĐ-BCA(C11),

Quyết định

Ban hành quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ;

16/01/2003

6

1417/2005/QĐ-BCA

Quyết định

Ban hành một số mẫu để sử dụng khi xử phạt vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông;

07/10/2005

7

768/2006/QĐ-BCA(C11)

Quyết định

Ban hành quy định phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong công tác điều tra giải quyết tai nạn giao thông của lực lượng Cảnh sát nhân dân.

20/6/2006

8

1922/2006/QĐ-BCA(C11)

Quyết định

Ban hành quy định nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động về tuần tra, kiểm soát của Cảnh sát giao thông đường bộ;

05/12/2006

9

18/2007/QĐ-BCA(C11)

Quyết định

Ban hành Quy trình điều tra giải quyết tai nạn giao thông đường bộ.

05/01/2007

10

1370/2007/QĐ-BCA(C11)

Quyết định

Ban hành quy trình đăng ký, cấp biển số và quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.

07/11/2007

11

01/2002/TT-BCA(C11)

Thông tư

Về hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ;

04/01/2002

12

02/2003/TT-BCA(C11)

Thông tư

Bổ sung 1 số quy định của Thông tư số 01/2002/TT-BCA(C11) ngày 04/01/2002 về hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ;

13/01/2003

13

07/2003/TT-BCA(C11)

Thông tư

Hướng dẫn đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ trong khu thương mại Lao Bảo (Quảng Trị) được hưởng chính sách ưu đãi thuế theo quy định của Chính phủ.

16/4/2003

14

10/2003/TT-BCA(C11)

Thông tư

hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định số 15/2003/NĐ-CP ngày 19/02/2003 của Chính phủ.

03/7/2003

15

11/2003/TT-BCA(C11)

Thông tư

hướng dẫn việc cấp giấy phép và kiểm soát hoạt động của phương tiện vận tải tạm nhập tái xuất có thời hạn.

03/7/2003

16

06/2005/TT-BCA(C11)

Thông tư

hướng dẫn đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ trong khu Kinh tế- thương mại đặc biệt Lao Bảo (Quảng Trị);

24/6/2006

17

08/2005/TT-BCA(C11)

Thông tư

sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư số 11/2003/TT-BCA(C11), ngày 03/7/2003 của Bộ Công an hướng dẫn việc cấp giấy phép và kiểm soát hoạt động của phương tiện vận tải tạm nhập tái xuất có thời hạn.

03/8/2005

18

17/2005/TT-BCA(C11)

Thông tư

sửa đổi, bổ sung điểm 2 Thông tư số 02/2003/TT-BCA(C11) ngày 13/01/2003 bổ sung 1 số quy định của Thông tư số 01/2002/TT-BCA(C11) ngày 04/01/2002 về hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ;

21/11/2005

19

03/2006/TT-BCA(C11)

Thông tư

Sửa đổi, bổ sung điểm 2 Mục D phần II Thông tư 01/2002/TT-BCA(C11), ngày 4/01/2002 của Bộ Công an về hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.

22/02/2006

20

05/2006/TT-BCA-C11

Thông tư

hướng dẫn thi hành Quyết định số 14/2000/QĐ-TTg ngày 27/01/2000 của Thủ tướng Chính phủ quy định các đoàn trong nước và khách nước ngoài đến Việt Nam có xe Cảnh sát giao thông dẫn đường.

09/5/2006

21

01/2007/TT-BCA-C11

Thông tư

Thông tư quy định về việc tổ chức đăng ký, cấp biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

02/01/2007

22

11/2007/TT-BCA(C11)

Thông tư

Hướng dẫn thi hành một số điều của Quy định về việc sử dụng phương tiện thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong hoạt động tuần tra, kiểm soát về trật tự an toàn giao thông ban hành kèm theo Quyết định số 238/2006/QĐ-TTg ngày 24/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ.

31/8/2007

23

22/2007/TTLT-BCA-C11

Thông tư

hướng dẫn việc thông báo đến nơi cư trú hoặc nơi công tác, học tập của người có hành vi vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông.

22/10/2007

24

02/2006/CT-BCA(V11)

Chỉ thị

Về việc tiếp tục tiến hành các biện pháp phòng chống tiêu cực trong lực lượng Cảnh sát giao thông.

26/01/2006

25

08/2007/CT-BCA(C11)

Chỉ thị

ngày 16/4/2007 về tăng cường công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông của lực lượng Công an nhân dân năm 2007













5. Bộ trưởng Bộ Y tế

STT

SỐ, KÝ HIỆU

HÌNH THỨC VĂN BẢN

TÊN VĂN BẢN

THỜI GIAN BAN HÀNH

1

4132/2001/QĐ-BYT

Quyết định

Ban hành “Tiêu chuẩn sức khoẻ của người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới”

04/10/2001

  1. Thông tư liên tịch giữa Bộ GTVT và các Bộ liên quan

STT

SỐ, KÝ HIỆU

HÌNH THỨC VĂN BẢN

TÊN VĂN BẢN

THỜI GIAN BAN HÀNH

1

31/2007/TTLT-BCA-BGTVT

Bộ Công an và Bộ GTVT

Hướng dẫn về việc xoá sổ đăng ký, thu hồi biển số của phương tiện giao thông cơ giới đường bộ hết niên hạn sử dụng

28/12/2007

2

32/2007/TTLT-BCA-BGTVT

Bộ Công an và Bộ GTVT

Hướng dẫn về việc đăng ký, quản lý và lưu hành phương tiện giao thông cơ giới đường bộ dùng cho thương binh và người tàn tật

28/12/2007

3

86/2007/TTLT/BTC-BGTVT

Bộ Tài chính và Bộ GTVT

Hướng dẫn về mẫu vé xe khách; kê khai giá cước, niêm yết giá cước và kiểm tra thực hiện giá cước vận tải ô tô

18/07/2007

4

05/2004/TTLT-BGTVT-BTC

Bộ GTVT và BộTài chính

Hướng dẫn thực hiện cơ chế giao quyền thu phí sử dụng đường bộ có thời hạn

18/03/2004

5

03/2003/TTLT-BCA-BGTVT

Bộ Công an và Bộ GTVT

Thông tư liên tịch hướng dẫn việc đánh dấu số lần vi phạm pháp luật giao thông đường bộ trên Giấy phép lái xe.

27/01/2003

6

27/2003/TTLT/BGTVT-BQP

Bộ GTVT và Bộ Quốc phòng

Hướng dẫn về quản lý các loại xe quân sự và người điều khiển xe quân sự khi tham gia giao thông

09/12/2003

7

16/2004/TTLT-CA-QP

Bộ Công an và Bộ Quốc phòng

Hướng dẫn thực hiện 1 số điều của Luật giao thông đường bộ về tổ chức đăng ký, cấp biển số cho xe ô tô làm nhiệm vụ kinh tế của các doanh nghiệp Quốc phòng, xe Quân đội có nhu cầu cấp biển số xe dân sự và việc kiểm tra, xử lý xe Quân đội vi phạm hành chính về giao thông đường bộ.

27/01/2003

8

16/2007/TTLT-BCA-BTC

Bộ Công an và Bộ Tài chính

Hướng dẫn việc phối hợp thực hiện chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.

07/11/2007

Tổng số: 190 văn bản, trong đó:

  1. Chính phủ ban hành 14 Nghị định, 02 Nghị Quyết.
  2. Thủ tướng Chính phủ ban hành 09 Quyết định, 05 Chỉ thị.
  3. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành 93 Quyết định, 11Thông tư, 09 Chỉ thị.
  4. Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành 02 Quyết định, 11 Thông tư.
  5. Bộ trưởng Bộ Công an ban hành 10 Quyết định. 13 Thông tư, 02 Chỉ thị
  6. Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành 01 Quyết định.
  7. Bộ Giao thông vận tải cùng các Bộ ban hành 08 Thông tư liên tịch.

II. DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ NĂM 2008

1. Văn bản của chính phủ

TT

Tên loại văn bản

Văn bản hiện hành

1

Nghị định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

- Nghị định số 186/2004/NĐ-CP Quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng GTĐB

- Thông tư số 13/2005/TT-BGTVT hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 186/2004/NĐ-CP quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng GTĐB

- Quyết định số 13/2005/QĐ-BGTVT ngày 02/02/2005 Quy định về việc xác định và xử lý vị trí nguy hiểm thường xảy ra tai nạn giao thông trên đường bộ đang khai thác (Hướng dẫn NĐ 186/2004)

- Quyết định số 23/2007/QĐ-BGTVT ngày 07/5/2007 ban hành Quy định về thẩm định an toàn giao thông đường bộ (Hướng dẫn NĐ 186/2004)

- Quyết định số 04/2006/QĐ-BGTVT ngày 09/01/2006 ban hành quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công công trình trong phạm vi đất dành cho đường bộ

2

Nghị định về niên hạn sử dụng đối với xe cơ giới

Nghị định số 23/2004/NĐ-CP quy định niên hạn sử dụng của ô tô tải và ô tô chở người

3

Nghị định quy định về việc lưu hành xe ô tô của người nước ngoài có tay lái bên phải vào VN

4

Nghị định về danh mục hàng nguy hiểm, việc vận chuyển hàng nguy hiểm bằng đường bộ

Nghị định số 13/2003/NĐ-CP quy định danh mục hàng nguy hiểm, vận chuyển hàng nguy hiểm bằng đường bộ

5

Nghị định về Quỹ bảo trì đường bộ

Nghị định số 168/2003/NĐ-CP Quy định về nguồn tài chính và quản lý, sử dụng nguồn tài chính cho quản lý, bảo trì đường bộ

6

Nghị định về kinh doanh vận tải bằng xe ô tô

Nghị định số 110/2006/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô

7

Nghị định về vận tải đa phương thức

Nghị định số 125/2003/NĐ-CP về vận tải đa phương thức quốc tế

8

Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

Nghị định số 146/2007/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

9

Nghị định quy định về tín hiệu của xe được quyền ưu tiên

Nghị định số 14/2003/NĐ-Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật GTĐB

10

Nghị định quy định về việc huy động các lực lượng cảnh sát khác và công an xã phối hợp với cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự ATGT đường bộ









2. Văn bản của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải

TT

Tên loại văn bản

Văn bản hiện hành

1

Quy định về tải trọng và khổ giới hạn đường bộ và việc lưu hành xe quá tải, quá khổ giới hạn của đường bộ, xe bánh xích gây hư hại mặt đường.

Quyết định số 60/2007/QĐ-BGTVT của Bộ trưởng Bộ GTVT quy định về giới hạn xếp hàng của xe ô tô tải tham gia giao thông trên đường bộ và công bố tải trọng của đường bộ

Quyết định số 63/2007/QĐ-BGTVT ngày 28/12/2007

2

Quy định về đào tạo lái xe cơ giới đường bộ

Quyết định số 55/2007/QĐ-BGTVT ban hành Quy chế quản lý đào tạo lái xe cơ giới đường bộ

Quyết định số 56/2007/QĐ-BGTVT ban hành Chương trình đào tạo nghề lái xe cơ giới đường bộ

3

Quy định về sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ

- Quyết định số 54/2007/QĐ-BGTVT ban hành Quy chế quản lý sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ

4

Hướng dẫn thực hiện quy định về việc sử dụng xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh và các loại xe tương tự để vận chuyển hành khách, hàng hóa.

Thông tư số 03/2002/TT-BGTVT ngày 27/2/2002

5

Quy định về công tác quản lý, bảo trì đường bộ

Quyết định số 3479/2001/QĐ-BGTVT ngày 19/10/2001 ban hành Định mức Bảo dưỡng thường xuyên đường bộ

6

Quy định về tốc độ xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ

Quyết định số 05/2007/QĐ-BGTVT quy định tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới tham gia giao thông trên đường bộ .

7

Quy định về xếp hàng hoá trên phương tiện giao thông đường bộ

Nghị định số 14/2003/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật GTĐB; Quyết định số 60/2007/QĐ-BGTVT của Bộ trưởng Bộ GTVT quy định về giới hạn xếp hàng của xe ô tô tải tham gia giao thông trên đường bộ và công bố tải trọng của đường bộ

8

Quy định việc cấp, thu hồi đăng ký, biển số xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ

Quyết định số 4381/2001/QĐ-BGTVT ban hành quy định về việc cấp đăng ký, biển số, kiểm tra an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe máy chuyên dùng có tham gia giao thông đường bộ

9

Quy định về bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ trên đường bộ

Quyết định số 08/2005/QĐ-BGTVT ngày 10/01/2005 và Quyết định số 15/2007/QĐ-BGTVT ngày 26/3/2007 sửa đổi, bổ sung QĐ số 08/2005/QĐ-BGTVT Quy định về bến ô tô khách

10

Quy định về tổ chức và hoạt động của trạm thu phí

11

Quy định về tổ chức và hoạt động của trạm kiểm tra tải trọng xe trên đường bộ

Quyết định số 4212/2001/QĐ-BGTVT quy định về tổ chức và hoạt động của trạm kiểm tra tải trọng xe

12

Quy định về điều kiện thành lập và hoạt động của Trung tâm đăng kiểm phương tiện cơ giới đường bộ

Quyết định số 45/2005/QĐ-BGTVT quy định điều kiện thành lập và hoạt động của Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới

13

Quy định về kiểm tra định kỳ an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới

Quyết định số 4105/2001/QĐ-BGTVT ngày 28/12/2001 ban hành quy định về kiểm tra định kỳ an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

14

Quy định việc kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe máy chuyên dùng

Quyết định số 4381/2001/QĐ-BGTVT ban hành quy định về việc cấp đăng ký, biển số, kiểm tra an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe máy chuyên dùng có tham gia giao thông đường bộ

15

Quy định về quản lý vận tải hành khách bằng xe ô tô

Quyết định số 34/2006/QĐ-BGTVT ban hành Quy định về quản lý vận tải khách công cộng bằng xe buýt

Quyết định số 16/2007/QĐ-BGTVT ban hành Quy định về vận tải khách bằng ô tô theo tuyến cố định, hợp đồng và vận tải khách du lịch bằng ô tô

Quyết định số 17/2007/QĐ-BGTVT ban hành Quy định về vận tải khách bằng ta xi

16

TTLT Bộ GTVT-Bộ TC hướng dẫn mẫu vé xe khách; kê khai cước niêm yết giá cước và kiểm tra thực hiện giá cước vận tải ô tô

Thông tư liên tịch số 86/2007/TTLT-BTC-BGTVT hướng dẫn mẫu vé xe khách; kê khai cước, niêm yết giá cước và kiểm tra thực hiện giá cước vận tải ô tô

17

Quy định về vận tải hàng hoá bằng xe ô tô

Quyết định số 824/2002/QĐ-BGTVT ban hành Quy định vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng bằng đường bộ và Quyết định số 2112/2003/QĐ-BGTVT sửa đổi, bổ sung Quyết định số 824

18

Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Đường bộ

Quyết định số 05/2005/QĐ-BGTVT Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Thanh tra Cục ĐBVN

19

Quy định về bồi dưỡng kiến thức pháp luật GTĐB cho người điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia GTĐB

Quyết định số 36/2006/QĐ-BGTVT của Bộ trưởng Bộ GTVT ban hành Quy chế bồi dưỡng kiến thức pháp luật GTĐB cho người điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia GTĐB

3. Văn bản của các bộ, ngành khác (13)

TT

Tên loại văn bản

Văn bản hiện hành

Cơ quan ban hành

1

Quy định về đăng ký, cấp biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

- Thông tư số 01/2007/TT-BCA ngày 02/01/2007 của Bộ Công an quy định về việc tổ chức đăng ký, cấp biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

- Thông tư liên tịch số 31/2007/TTLT-BCA-BGTVT ngày 28/12/2007 hướng dẫn về việc xoá sổ đăng ký, thu hồi biển số của phương tiện giao thông cơ giới đường bộ hết niên hạn sử dụng

- Thông tư liên tịch số 32/2007/TTLT-BCA-BGTVT ngày 28/12/2007 hướng dẫn về việc đăng ký, quản lý và lưu hành phương tiện giao thông cơ giới đường bộ dùng cho thương binh và người tàn tật.

Bộ Công an

2

Thông tư quy định về tiêu chuẩn sức khoẻ của người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

Quyết định số 4312/2001/QĐ-BYT

Bộ Y tế

3

Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát của Cảnh sát giao thông đường bộ

Quyết định số 1922/2006/QĐ-BCA (C11) của Bộ Công an

Bộ Công an

4

Cơ chế tài chính về thu và sử dụng học phí đào tạo, phí sát hạch lái xe cơ giới đường bộ

Bộ Tài chính

5

Quy định về việc cấp, thu hồi đăng ký, biển số các loại xe cơ giới của quân đội sử dụng vào mục đích quốc phòng.

Bộ Quốc phòng

6

Quy định về việc kiểm định xe cơ giới của quân đội sử dụng vào mục đích quốc phòng.

Bộ Quốc phòng

7

Quy định về việc kiểm định xe cơ giới của công an sử dụng vào mục đích an ninh.

Bộ Công an

8

Quy định việc cấp, thu hồi đăng ký, biển số và kiểm định xe máy chuyên dùng của công an sử dụng vào mục đích an ninh.

Bộ Công an

9

Quy định việc cấp, thu hồi đăng ký, biển số và kiểm định xe máy chuyên dùng của quân đội sử dụng vào mục đích quốc phòng.

Bộ Quốc phòng

10

Quy định về cơ sở đào tạo, tổ chức đào tạo, sát hạch và cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe cho lực lượng quân đội.

Bộ Quốc phòng

11

Quy định về cơ sở đào tạo, tổ chức đào tạo, sát hạch và cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe cho lực lượng công an.

Bộ Công an

12

Quy định về việc thanh tra đào tạo, sát hạch, cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe của lực lượng quân đội,

Bộ Quốc phòng

13

Quy định về việc thanh tra đào tạo, sát hạch, cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe của lực lượng công an

Bộ Công an

III. VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT DO ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH BAN HÀNH

TT

Tên loại văn bản

1

Quy định việc sử dụng tạm thời một phần lòng đường, hè phố không vì mục đích giao thông

2

Quy định việc quản lý, bảo trì hệ thống đường huyện, đường xã

3

Quy định điều kiện, phạm vi hoạt động của xe thô sơ tại địa phương mình.

4

Quy định cụ thể về hoạt động vận tải đường bộ trong đô thị và tỷ lệ phương tiện vận tải hành khách đáp ứng nhu cầu đi lại của người khuyết tật của địa phương mình.

5

Quy định sử dụng xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh và các loại xe tương tự để vận chuyển hành khách, hàng hóa tại địa phương mình

6

Quy định giá dịch vụ xe ra, vào bến xe ô tô