CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ; KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008
Chịu trách nhiệm nội dung:
1. Thạc sỹ luật học Lê Anh Tuấn - Phó trưởng phòng Phòng Hành chính, Tổng hợp và Tài vụ, Cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp.
2. Thạc sỹ luật học Bùi Công Quang - Chuyên viên pháp lý, Cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp.
Phần thứ nhất
THỰC TRẠNG CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ;
KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRƯỚC KHI BAN HÀNH LUẬT
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
I. KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan thi hành án thực hiện quyền lực Nhà nước, do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền. Trước khi Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có hiệu lực thi hành, quy định về cưỡng chế thi hành án nằm ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, như: Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, Nghị định số 164/2004/NĐ-CP ngày 14/9/2004 của Chính phủ về kê biên, đấu giá quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành án, Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự, Quyết định số 73/2007/QĐ-TTg ngày 25/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện chế độ bồi dưỡng đối với những người trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án dân sự, Thông tư liên tịch số 68/2006/TTLT-BTP-BTC ngày 26/7/2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính kinh phí cưỡng chế thi hành án dân sự v.v.
Thực tiễn thi hành án dân sự trong thời gian qua cho thấy, việc cưỡng chế thi hành án phải tiến hành khá nhiều và là vấn đề rất phức tạp, khó khăn, không chỉ đơn thuần là công tác nghiệp vụ của cơ quan thi hành án dân sự mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, trật tự ở địa phương nơi xảy ra cưỡng chế thi hành án dân sự. Mặc dù các cơ quan thi hành án dân sự đã cố gắng tăng cường áp dụng biện pháp động viên, thuyết phục, giáo dục người phải thi hành án tự nguyện thi hành án, hạn chế tối đa việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, tuy nhiên số lượng vụ việc phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án hàng năm vẫn còn nhiều.
Do tính chất của cưỡng chế thi hành án là áp dụng biện pháp cưỡng chế nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án, do đó trong nhiều trường hợp đương sự chống đối quyết liệt, bằng nhiều thủ đoạn, phương thức khác nhau, từ chống đối đơn lẻ đến lôi kéo, tập trung đông người, gây mất trật tự, chửi bới, lăng mạ, tố cáo sai sự thât, đe dọa Chấp hành viên, những người khác tham gia cưỡng chế. Mặt khác, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích vật chất, quyền nhân thân của người phải thi hành án nên rất dễ bị khiếu kiện. Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự phải thận trọng, áp dụng đúng trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành án mới bảo đảm việc cưỡng chế thành công, không bị khiếu nại, tố cáo.
Để bảo đảm việc cưỡng chế thi hành án đúng pháp luật, hiệu quả, thì việc quy định của pháp luật về cưỡng chế thi hành án phải cụ thể, chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn. Thế nhưng, quy định về cưỡng chế thi hành án tại Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này còn rất nhiều vướng mắc, bất cập, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác thi hành án dân sự, trong đó có những vướng mắc, bất cập cơ bản sau đây:
1. Về các biện pháp cưỡng chế thi hành án
Theo Điều 37 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 có 6 loại biện pháp cưỡng chế thi hành án, đó là:
a) Khấu trừ tài khoản, trừ vào tiền, thu hồi giấy tờ có giá trị của người phải thi hành án.
b) Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
c) Phong toả tài khoản, tài sản của người phải thi hành án tại Ngân hàng, tổ chức tín dụng, Kho bạc nhà nước.
d) Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ.
đ) Buộc giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất hoặc giao vật, tài sản khác.
e) Cấm hoặc buộc người phải thi hành án làm công việc nhất định.
Trong số các biện pháp cưỡng chế nêu trên, xét tính chất của việc phong toả tài khoản, tạm giữ tài sản, giấy tờ của người phải thi hành án chỉ là một thủ tục cần và có thể không cần cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thực sự là khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án. Việc phong toả tài khoản, tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự là những biện pháp cụ thể bảo đảm thi hành án, bước đệm cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án trong những trường hợp cần thiết. Do vậy, không nên quy định biện pháp đó trong cưỡng chế thi hành án dân sự.
Mặt khác, từ thực tiễn thi hành án và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới cho thấy việc khai thác tài sản của người phải thi hành án cần được quy định là biện pháp cưỡng chế thi hành án. Biện pháp này được bổ sung để áp dụng trong các trường hợp tài sản của người phải thi hành án có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành và tài sản đó có thể khai thác để thi hành án và khi người được thi hành án đồng ý cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án nếu việc khai thác tài sản không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba. Bằng biện pháp này, người phải thi hành án vẫn có thể thu được tiền để thi hành nghĩa vụ thanh toán mà vẫn duy trì được tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của mình. Hơn nữa, là biện pháp cưỡng chế thi hành án nhưng hình thức cưỡng chế này không gây tốn kém nhiều chi phí của người phải thi hành án và của nhà nước, không tạo ra áp lực lớn cho người phải thi hành án và gia đình của họ, không dẫn đến tình huống đối kháng căng thẳng về quyền lợi giữa hai bên, giữ được sự hoà hảo trong xã hội mà vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án. Biện pháp này sẽ bị thay thế bằng biện pháp kê biên, xử lý tài sản để thi hành án nếu như việc khai thác tài sản đó không hiệu quả hoặc làm cản trở đến việc thi hành án hoặc người phải thi hành án, người khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu cầu của Chấp hành viên về việc khai thác tài sản.
2. Về điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 phải bảo đảm là người phải thi hành án phải thực hiện hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án; người phải thi hành án có điều kiện thi hành án và hết thời gian tự nguyện được ấn định nhưng không tự nguyện thi hành hoặc chưa hết thời gian tự nguyện nhưng để ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản.
Thời hạn tự nguyện thi hành án không quá ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án để tự nguyện thi hành, trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án là quá dài. Mặt khác, với nguyên tắc chỉ áp dụng biện pháp cưỡng chế sau khi đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án, trừ trường hợp cần ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản, thì sẽ không hợp lý trong nhiều trường hợp, như: Bản án của Toà án đã kê biên, tạm giữ tài sản là đối tượng cưỡng chế thi hành án hoặc tài khoản của người phải thi hành án đã bị cơ quan có thẩm quyền phong toả trước khi có bản án, quyết định của Toà án.
3. Về trách nhiệm xác minh điều kiện cưỡng chế thi hành án
Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 quy định trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án, trong đó có điều kiện để cưỡng chế thi hành án thuộc về cơ quan thi hành án là không phù hợp, bởi lẽ số lượng việc thi hành án dân sự hàng năm cơ quan thi hành án thụ lý thi hành rất lớn. Nhiều vụ việc thuộc thi hành án các khoản thu nộp ngân sách nhà nước thuộc diện chủ động ra quyết định thi hành án, nhưng cũng có nhiều vụ việc thi hành án theo đơn yêu cầu của người được thi hành án. Người được thi hành án không phải chịu chi phí xác minh điều kiện thi hành án trong trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu của họ.
Do cơ quan thi hành án có trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án trong tất cả các trường hợp nên khó có thể thực hiện kịp thời, đầy đủ được. Pháp lệnh Thi hành án dân sự quy định trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án, trong đó có điều kiện để cưỡng chế thi hành án thuộc về cơ quan thi hành án là không phù hợp. Việc quy định trách nhiệm của người được thi hành án không phải là Nhà nước trong việc xác minh điều kiện thi hành án là rất cần thiết.
4. Về biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản
Đây là biện pháp cưỡng chế được Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 và các văn bản hướng dẫn quy định nhiều nhất, nhưng cũng có nhiều nội dung bất cập, không phù hợp với thực tiễn, như:
Một là, quy định cứng nhắc về thứ tự và phạm vi tài sản của người phải thi hành án bị kê biên
Theo đó, nếu người phải thi hành án không đề nghị kê biên tài sản nào trước thì tài sản thuộc sở hữu riêng của người phải thi hành án được kê biên trước. Trong trường hợp tài sản riêng của người phải thi hành án không có hoặc không đủ để thi hành án thì Chấp hành viên mới được kê biên phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung với người khác. Chỉ kê biên quyền sử dụng đất, nhà ở, trụ sở của người phải thi hành án nếu sau khi kê biên hết các tài sản khác mà vẫn không đủ để thi hành án. Chỉ được kê biên tài sản của người phải thi hành án đủ để bảo đảm thi hành án và thanh toán các chi phí về thi hành án. Trong trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nghĩa vụ phải thi hành án mà không thể phân chia được hoặc việc phân chia sẽ làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền kê biên tài sản đó để bảo đảm thi hành án.
Chính vì quy định các điều kiện "mới được kê biên", "chỉ được kê biên sau khi..." trong việc kê biên phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác hoặc quyền sử dụng đất, nhà ở, tài sản duy nhất có giá trị lớn hơn nghĩa vụ thi hành án đã làm hạn chế sự linh hoạt trong áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản cần thiết để đảm bảo thi hành án. Mặt khác, trong nhiều trường hợp trước khi cưỡng chế rất khó xác định mức tài sản đủ để bảo đảm thi hành án và thanh toán các chi phí về thi hành án.
Hai là, chưa quy định cụ thể việc cưỡng chế đối với tài sản là giấy tờ có giá
Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 quy định còn chung chung, chưa đầy đủ và rõ ràng về biện pháp cưỡng chế thu hồi đối với tài sản là giấy tờ có giá của người phải thi hành án nên thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế này theo quy định tại Điều 39 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 đã gặp phải những khó khăn, vướng mắc nhất định như khó xác định được người phải thi hành án cất những giấy tờ có giá này ở đâu hoặc đang do ai giữ, đồng thời Pháp lệnh cũng chưa quy định biện pháp xử lý trong trường hợp người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá không giao giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự. Vì vậy, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này trong thời gian qua không đạt được hiệu quả như mong muốn, nên cần được quy định cụ thể để khắc phục hạn chế đó.
Ba là, quy định việc định giá tài sản đã kê biên do Chấp hành viên làm Chủ tịch Hội đồng định giá là không phù hợp
Điều 43 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 quy định tài sản đã kê biên được định giá theo thoả thuận giữa người được thi hành án, người phải thi hành án và chủ sở hữu chung trong trường hợp kê biên tài sản chung. Thời hạn để các bên đương sự thoả thuận về giá không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày tài sản được kê biên. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được với nhau về giá thì sau khi kê biên, trong thời hạn không quá mười lăm ngày, kể từ ngày tài sản được kê biên, Chấp hành viên phải thành lập Hội đồng định giá gồm Chấp hành viên là Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn có liên quan là thành viên. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày được thành lập, Hội đồng định giá phải tiến hành việc định giá; người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan được tham gia ý kiến vào việc định giá, nhưng quyền quyết định thuộc về Hội đồng định giá. Đối với tài sản kê biên có giá trị dưới năm trăm ngàn đồng hoặc tài sản thuộc loại mau hỏng, nếu các bên không thoả thuận được với nhau về giá thì Chấp hành viên có trách nhiệm định giá. Việc định giá tài sản dựa trên giá thị trường tại thời điểm định giá. Đối với tài sản mà Nhà nước thống nhất quản lý giá thì việc định giá dựa trên cơ sở giá tài sản do Nhà nước quy định. Điều 48 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 quy định trong trường hợp tài sản kê biên không bán được thì trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày bán đấu giá không thành, cơ quan thi hành án tổ chức định giá lại theo hướng giảm giá để tiếp tục bán đấu giá. Mỗi lần giảm giá không quá mười phần trăm giá đã định; nếu sau hai lần giảm giá mà tài sản vẫn không bán được thì người được thi hành án có quyền nhận tài sản theo giá đã giảm để thi hành án; nếu người được thi hành án không nhận thì Chấp hành viên trả lại tài sản đó cho người phải thi hành án và áp dụng biện pháp cưỡng chế khác.
Chấp hành viên không phải là người có chuyên môn về xác định giá trị của tài sản, hơn nữa trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay có rất nhiều tổ chức chuyên môn về định giá tài sản với các chuyên gia có kiến thức chuyên sâu về linh vực này. Do vậy, việc quy định Chấp hành viên ký hợp đồng thuê các tổ chức này thẩm định giá tài sản đã kê biên sẽ đảm bảo định giá tài sản sát với giá trị thực của tài sản. Mặt khác, trong trường hợp tài sản không bán được thì cần hạ giá để tiếp tục bán đấu giá "đến cùng" khi bán được tài sản chứ không nên quy định qua hai lầm giảm giá nếu không bán được tài sản thì Chấp hành viên yêu cầu người được thi hành án nhận, nếu họ không nhận thì trả cho người phải thi hành án.
5. Quy định về cưỡng chế giao vật, trả giấy tờ chưa cụ thể, khó thực hiện
Điều 53 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 quy định trong trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ giao vật cho người được thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định buộc người đó giao vật cho người được thi hành án. Nếu vật phải trả không còn thì Chấp hành viên hướng dẫn để các bên thoả thuận thanh toán giá trị của vật. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì Chấp hành viên buộc người phải thi hành án trả cho người được thi hành án số tiền tương ứng với giá trị của vật tại thời điểm thi hành án. Nếu vật có giá trị lớn hoặc khó xác định giá thì phải lập Hội đồng định giá.
Quy định này chưa hợp lý bởi vì chưa phân biệt được trường hợp vật phải trả là vật đặc định, vật cùng loại và cũng chưa xử lý được trường hợp vật phải trả còn nhưng giảm giá trị đáng kể nên người được thi hành án không nhận, hơn nữa nếu vật không còn thì Chấp hành viên rất khó xác định giá trị của vật đó vì không có vật loại đó. Vì thế cần quy định đối với việc thi hành án trả vật đặc định, Chấp hành viên có quyền thu hồi vật để trả cho người được thi hành án, mặt khác, nếu vật bị giảm giá trị thì Chấp hành viên vẫn cưỡng chế giao vật đó cho người được thi hành án; nếu vật phải trả không còn thì trả đơn yêu cầu thi hành án cho người được thi hành án sẽ đảm bảo các bên đều có quyền thoả thuận phương án giải quyết và người được thi hành án đều có quyền yêu cầu Toà án giải quyết đối với những thiệt hại của họ.
Về cưỡng chế trả giấy tờ cũng là loại việc gặp rất nhiều khó khăn trong thực tế do chưa được quy định cụ thể. ví dụ: Trường hợp giấy tờ phải trả còn nhưng người phải thi hành án và kể cả là người thứ ba đang giữ thì Chấp hành viên có được cưỡng chế thu hồi giấy tờ đó để trả cho người được thi hành án không, nếu có thì cưỡng chế như thế nào ? Trường hợp giấy tờ không thể thu hổi được do không còn hoặc còn nhưng không thể thu lại được, mà có thể cấp lại được thì Chấp hành viên có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền huỷ giấy tờ đó và cấp lại giấy tờ mới cho người được thi hành án không? Trường hợp giấy tờ không thể cấp lại thì có được trả đơn yêu cầu thi hành án và hướng dẫn người được thi hành án yêu cầu Toà án giải quyết ?
6. Chưa quy định rõ về thi hành nghĩa vụ nhận người lao động trở lại làm việc
Trong việc thi hành nghĩa vụ nhận người lao động trở lại làm việc, nếu người sử dụng lao động không thể bố trí người lao động trở lại làm công việc theo nội dung bản án, quyết định thì việc thi hành án thực hiện như thế nào? Người sử dụng lao động có phải bố trí công việc khác với mức tiền lương tương đương theo quy định của pháp luật lao động không ? Trường hợp người lao động không chấp nhận công việc được bố trí và yêu cầu người sử dụng lao động thanh toán các chế độ theo quy định của pháp luật lao động thì người sử dụng lao động có phải thực hiện việc thanh toán để chấm dứt nghĩa vụ thi hành án ? Người sử dụng lao động phải thanh toán cho người lao động khoản tiền lương trong thời gian chưa bố trí được công việc theo bản án, quyết định, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi người lao động được nhận trở lại làm việc hoặc được giải quyết quyền lợi bằng vật chất không ?
Những vấn đề nêu trên chưa được Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 và các văn bản hướng dẫn quy định, nên cơ quan thi hành án dân sự rất khó thực hiện trong quá trình thi hành án.
II. THỰC TRẠNG KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRƯỚC KHI BAN HÀNH LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Khiếu nại và tố cáo là hai quyền cơ bản của công dân được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1992. Điều 74 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định "Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác. Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh".
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 15/6/2004, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 29/11/2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã cụ thể hoá quyền khiếu nại, quyền tố cáo của công dân. Bên cạnh đó, văn bản pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội cũng có những quy định về khiếu nại, tố cáo tạo cơ sở pháp lý quan trọng để công dân thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình, phát huy quyền dân chủ, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân.
Theo quy định tại Luật Khiếu nại, tố cáo thì khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại, tố cáo quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật Khiếu nại, tố cáo quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Trong mối quan hệ pháp luật có sự tham gia của một bên là chủ thể đại diện quyền lực nhà nước thì chủ thể này thường có ưu thế áp đặt ý chí của mình lên chủ thể khác, do đó không tránh khỏi tình trạng lạm quyền gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích của tổ chức, công dân. Để định hướng các mối quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ phát triển theo chiều hướng tích cực, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức thực thi công vụ, pháp luật quy định công dân, tổ chức, cơ quan có quyền khiếu nại, tố cáo, đồng thời, pháp luật cũng quy định các biện pháp xử lý đối với hành vi lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo xâm hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích chính đáng của cơ quan, tổ chức và công dân.
Như vậy, khiếu nại, tố cáo là phương thức quan trọng giúp cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích được pháp luật ghi nhận, đồng thời tạo cơ chế giám sát của xã hội đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức nhà nước góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, điều hành của nhà nước.
Xuất phát từ ý nghĩa và vai trò quan trọng của khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo mà trong các hoạt động quản lý nói chung và trong hoạt động thi hành án dân sự nói riêng, công tác khiếu nại, tố cáo luôn được quan tâm và được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác thi hành án dân sự[1]. Đối với công tác thi hành án thì đây được xem như "cánh tay nối dài" của hoạt động xét xử, là "kênh" quan trọng để bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được thi hành trong thực tế, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Trong quá trình tổ chức thi hành án, hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp tác động đến người được thi hành án, người phải thi hành án và những người có liên quan để giáo dục, thuyết phục họ tự nguyện thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo nội dung bản án, quyết định hoặc cưỡng chế buộc họ thực hiện. Nếu quá trình xét xử mới dừng ở việc xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự thì đến giai đoạn thi hành án, các quyền, nghĩa vụ được ghi nhận trong bản án, quyết định phải được tổ chức thực hiện trên thực tế, có nghĩa là hoạt động thi hành án trực tiếp tác động đến các quyền, lợi ích của họ, kể cả bên được thi hành án và bên phải thi hành án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, các đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường phản ứng gay gắt, quyết liệt, làm phát sinh các khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự, trong đó có không ít những vụ việc phức tạp, kéo dài. Thực tiễn thi hành án cho thấy số lượng đơn, thư khiếu nại, tố cáo hàng năm rất lớn, khiếu nại vượt cấp, kéo dài vẫn chiếm tỷ lệ cao, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Để tạo cơ sở pháp lý giải quyết có hiệu quả các khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự, tại Điều 44 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 đã quy định những vấn đề về quyền khiếu nại, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo và giải quyết tố cáo. Tuy nhiên, với một lĩnh vực phức tạp, luôn tiềm ẩn mâu thuẫn về lợi ích giữa các bên đương sự, khả năng dẫn đến khiếu nại, tố cáo cao thì việc quy định khiếu nại, tố cáo trong 01 điều luật là chưa hợp lý, ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời gây khó khăn cho các cơ quan thi hành án trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Khắc phục hạn chế của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993, Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 đã dành 01 mục với 05 điều (Chương 6 mục 1 từ Điều 59 đến Điều 63) quy định về một số nội dung của khiếu nại, tố cáo như: quyền khiếu nại về thi hành án, thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại về thi hành án, thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại về thi hành án trong quân đội, quyết định giải quyết khiếu nại. Đối với tố cáo và giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự, Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 mới dừng ở việc quy định dẫn chiếu áp dụng Luật Khiếu nại, tố cáo mà chưa quy định cụ thể.
Bên cạnh việc từng bước hoàn thiện thể chế thì công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng đã nhận được sự chỉ đạo sát sao của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về thi hành án dân sự ở Trung ương, các cấp uỷ, chính quyền địa phương và sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan hữu quan nên trong thời gian qua, công tác này đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của công dân, cơ quan, tổ chức, giúp các cơ quan thi hành án dân sự phát hiện những sai sót của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên trong quá trình tác nghiệp, kịp thời uốn nắn, khắc phục sai sót, áp dụng thống nhất và có hiệu quả các quy định pháp luật về thi hành án dân sự.
Sau gần 05 năm triển khai Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài đã được giải quyết dứt điểm, dân chủ và pháp chế xã hội chủ nghĩa được tăng cường, lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức được bảo đảm, uy tín trong nhân dân được nâng lên. Trong quá trình giải quyết khiếu nại, Bộ Tư pháp, Cục Thi hành án dân sự và Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng đã thường xuyên chỉ đạo, giám sát chặt chẽ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đảm bảo việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo đúng quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 và pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Ở nhiều địa phương, Thủ trưởng cơ quan thi hành án đã tổ chức gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, tố cáo, người bị khiếu nại, tố cáo và người có quyền, lợi ích liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại, tố cáo, đồng thời giải thích, thuyết phục họ hiểu các quyền, nghĩa vụ của mình. Mặt khác, lãnh đạo đơn vị bố trí cán bộ, công chức có kinh nghiệm, có năng lực làm nhiệm vụ tiếp dân, công khai nội quy tiếp dân, chỉ đạo các cán bộ, công chức làm nhiệm vụ tiếp dân tăng cường đối thoại, kỹ năng dân vận trong tiếp dân và trong giải quyết khiếu nại, tố cáo qua đó giúp giải quyết dứt điểm từ cơ sở các khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự.
Theo số liệu thống kê thì năm 2006, Bộ Tư pháp thụ lý 664 việc, trong đó đã tiếp 410 lượt người đến khiếu nại về thi hành án và nhận 2.482 lượt đơn khiếu nại. Bộ Tư pháp đã trực tiếp trả lời khiếu nại 177 trường hợp, phối hợp với các cơ quan hữu quan giải quyết 24 trường hợp, chỉ đạo địa phương giải quyết 168 trường hợp (đạt 55,57%), chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết 383 trường hợp, lưu 1.435 đơn do có nội dung trùng lặp, số đơn còn lại tiếp tục được nghiên cứu trả lời, giải quyết theo quy định. Các cơ quan thi hành án dân sự địa phương thụ lý 5.447 trường hợp, đã giải quyết xong 5.193 trường hợp, đạt 95,3%.
Năm 2007, Bộ Tư pháp đã nhận 2.815 lượt đơn khiếu nại về thi hành án dân sự (có 1.504 đơn trùng lặp); Bộ Tư pháp đã trực tiếp trả lời khiếu nại 80 trường hợp, chỉ đạo địa phương giải quyết 81 trường hợp, chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết 844 đơn (đạt 76,65%), trao đổi biện pháp giải quyết với các cơ quan hữu quan 38 trường hợp, số đơn còn lại tiếp tục được nghiên cứu trả lời, giải quyết theo quy định. Các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương thụ lý 5.476 trường hợp, đã giải quyết xong 4.912 trường hợp, đạt 89,70%.
Năm 2008, Bộ Tư pháp đã nhận 1.812 đơn khiếu nại về thi hành án (giảm 1.003 đơn so với cùng kỳ năm 2007), bao gồm 1.075 đơn trùng và 737 đơn mới (giảm 574 đơn mới so với cùng kỳ năm 2007); đã giải quyết xong 639 trường hợp (đạt 88%). Nhiều vụ việc khiếu nại bức xúc, tồn đọng nhiều năm đã được giải quyết dứt điểm hoặc một bước cơ bản. Các cơ quan Thi hành án dân sự thụ lý 4.530 đơn khiếu nại về thi hành án (giảm 946 trường hợp = 17% so với cùng kỳ năm 2007), đã giải quyết xong 4.167 trường hợp (đạt 92%), số còn lại 363 trường hợp đã chuyển các cơ quan giải quyết theo thẩm quyền hoặc đang giải quyết. Nhiều địa phương, đơn vị đã giải quyết dứt điểm khiếu nại tại cơ sở, không để xảy ra tình trạng khiếu nại vượt cấp lên Trung ương, như: Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Bắc Cạn, Gia Lai, Thi hành án Quân khu 9, v.v...[2]
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự còn những tồn tại, hạn chế sau:
Số lượng đơn, thư khiếu nại, tố cáo còn lớn, tình trạng đơn thư vượt cấp diễn ra một cách phổ biến, trong khi đó công tác chỉ đạo, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan thi hành án địa phương còn chưa thực sự quyết liệt.
Một số vụ việc khiếu nại, tố cáo kéo dài, thời gian giải quyết vượt quá thời hạn giải quyết theo quy định. Những vụ việc này phần lớn là những vụ việc khiếu nại, tố cáo có tính chất phức tạp, đòi hỏi phải có thời gian xác minh tại cơ sở và có sự phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan hữu quan để thống nhất biện pháp giải quyết. Do đó, đối với những vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp thì thời gian giải quyết tương đối dài, một số vụ việc chưa đáp ứng được yêu cầu về thời gian theo quy định. Nhiều trường hợp đã được giải quyết qua nhiều cấp nhưng đương sự vẫn khiếu nại, tố cáo gay gắt, kéo dài.
Mặc dù pháp luật khiếu nại, tố cáo và Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 quy định rõ trách nhiệm của cơ quan giải quyết khiếu nại, tố cáo phải ra quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo, tuy nhiên, trên thực tế nhiều cơ quan thi hành án vẫn giải quyết khiếu nại, tố cáo bằng công văn, do đó ảnh hưởng đến quyền lợi của người khiếu nại, tố cáo và gây khó khăn cho việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tiếp theo. Mặt khác, việc áp dụng pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo ở một số địa phương còn chưa thống nhất.
Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trên là do:
Một là, trong số các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, tồn tại trong khiếu nại, tố cáo về thi hành án có nguyên nhân cơ bản về mặt thể chế. Một số quy định trong Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 không còn phù hợp với thực tế khiến cho việc thi hành án gặp nhiều khó khăn, thậm chí có trường hợp để giải quyết được phải tổ chức nhiều cuộc họp liên ngành với nhiều ngành, nhiều cấp trong một thời gian dài mới giải quyết được, nên đã gây ra sự chậm trễ trong việc thi hành án dẫn tới việc khiếu nại của đương sự. Đối với công tác thi hành án dân sự thì việc giải quyết khiếu nại, tố cáo gắn bó chặt chẽ với việc hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ trong thi hành án. Việc tổ chức thi hành án không kéo dài, không đúng quy định sẽ dẫn đến những khiếu nại, tố cáo của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Một số tình huống phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành án chưa được quy định trong Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành như: chưa quy định đầy đủ các biện pháp bảo đảm thi hành án để kịp thời ngăn chặn những hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án của đương sự; chưa có quy định xử lý trường hợp tài sản kê biên, bán đấu giá, sau hai lần giảm giá mà vẫn không bán được v.v....
Bên cạnh đó, những quy định về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 chưa đầy đủ và cụ thể. Những vấn đề về quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết khiếu nại chưa được quy định trong Pháp lệnh...Đối với tố cáo và giải quyết tố cáo Điều 63 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 quy định “Việc tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên được thực hiện theo quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo”. Đây là quy định mang tính chất dẫn chiếu đến pháp luật chung về giải quyết khiếu nại, tố cáo mà chưa có những quy định cụ thể mang tính đặc thù về giải quyết tố cáo riêng trong lĩnh vực thi hành án dân sự tại Pháp lệnh, ví dụ về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, thẩm quyền, thời hạn giải quyết tố cáo, kiểm sát việc giải quyết tố cáo.
Hai là, một số địa phương có lượng vụ việc thi hành án nhiều, Chấp hành viên, cán bộ thi hành án rơi vào tình trạng quá tải công việc nên chậm trễ trong việc tổ chức thi hành án, do đó quyền lợi của người được thi hành án không được bảo đảm. Một số Chấp hành viên có thái độ không đúng mực, có hành vi vi phạm pháp luật, sách nhiễu gây bức xúc cho đương sự. Nhiều cán bộ thi hành án, Chấp hành viên chưa tích cực nghiên cứu, nắm vững các quy định của pháp luật về thi hành án và pháp luật có liên quan nên khi áp dụng để giải quyết vụ việc cụ thể còn lúng túng, sai sót làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, người phải thi hành án và những người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan, dẫn tới khiếu nại của đương sự.
Ba là, một số Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, cán bộ, công chức thi hành án dân sự trình độ, năng lực còn hạn chế, chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhiều trường hợp để đương sự yêu cầu nhiều lần nhưng không có biện pháp giải quyết thoả đáng, kịp thời hoặc không giải thích cụ thể để đương sự hiểu và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Mặt khác, ở một số địa phương cán bộ, công chức làm công tác tiếp dân còn kiêm nhiệm, cơ sở vật chất phục vụ cho việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự còn chưa đáp ứng được nhu cầu đặt ra.
Bốn là, bản án bị hoãn, tạm đình chỉ hoặc xét xử đi xét xử lại nhiều lần với những kết quả trái ngược nhau đối với một vụ việc, dẫn đến tình trạng hoài nghi làm giảm hiệu quả của công tác thi hành án. Có trường hợp, trong quá trình tố tụng các cơ quan tiến hành tố tụng chưa phối hợp thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm ngăn chặn đương sự tẩu tán tài sản, để đảm bảo thi hành án. Nhiều trường hợp bản án, quyết định của toà án tuyên không rõ ràng, không có tính khả thi, có sai lầm hoặc sai sót về số liệu nhưng cơ quan thi hành án dân sự kiến nghị không được Toà án kịp thời giải thích. Những vấn đề nói trên phần nào gây bức xúc cho đương sự dẫn đến khiếu nại.
Năm là, trong quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án chưa chú trọng công tác tuyên truyền pháp luật, giải thích và giáo dục thuyết phục cho các bên đương sự hiểu và tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ của mình trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án và các quyết định khác.
Sáu là, ý thức chấp hành pháp luật chưa của một bộ phân dân cư còn thấp cố ý chống đối việc thi hành án. Cá biệt có đương sự còn lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để gây rối, cản trở, trốn tránh việc thi hành án khiến cho bản án, quyết định không thể thi hành được, trong khi đó, chưa có biện pháp hữu hiệu để xử lý có hiệu quả những trường hợp đương sự cố tình lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để trì hoãn thi hành án hoặc gây rối đối với cơ quan thi hành án.
Bảy là, cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương chưa quan tâm đúng mức đến việc chỉ đạo công tác thi hành án dân sự ở địa phương; các cơ quan hữu quan thiếu sự phối hợp thi hành án, có nhiều vụ việc còn đùn đẩy, né tránh làm cho việc thi hành án dân sự ở từng lúc, từng nơi gặp nhiều trở ngại. Sự phối hợp của cơ quan thi hành án với chính quyền cơ sở và các tổ chức chính trị, các tổ chức quần chúng chưa chặt chẽ trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo của đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án.
Phần thứ hai
CÁC QUY ĐỊNH VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ; KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
I. CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã dành nhiều điều luật quy định các nội dung về cưỡng chế thi hành án dân sự. Chương IV Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có 10 mục để quy định về biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án, trong đó từ mục 2 đến mục 10 của Chương quy định về cưỡng chế thi hành án. Với 52 điều, từ Điều 70 đến Điều 121, trên tổng số 183 Điều, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có nhiều quy định mới về cưỡng chế thi hành án, kể cả về biện pháp cưỡng chế thi hành án, đối tượng cưỡng chế thi hành án và đặc biệt là thủ tục cưỡng chế thi hành án, theo đó có những nội dung cơ bản sau đây:
1. Những quy định chung về cưỡng chế thi hành án
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định Nhà nước khuyến khích đương sự tự nguyện thi hành án. Tuy nhiên, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án. Trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
Để đảm bảo thi hành án trong trường hợp đương sự không tự nguyện thi hành, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 dành nhiều điều quy định về điều kiện, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự.
1.1. Căn cứ cưỡng chế thi hành án
Điều 70 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định 03 căn cứ để cưỡng chế thi hành án bao gồm:
a) Bản án, quyết định: Đây là những bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự, gồm có: Bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Toà án. Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại.
b) Quyết định thi hành án: Là quyết định do Thủ trưởng cơ quan thi hành án ban hành, đó có thể là quyết định thi hành án được ban hành theo thủ tục chủ động ra quyết định thi hành án hoặc quyết định thi hành án được ban hành theo thủ tục thi hành án theo đơn yêu cầu.
c) Quyết định cưỡng chế thi hành án: Là quyết định do Chấp hành viên ban hành.
Tuy nhiên, trong trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong toả tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án, thì không phải có quyết định cưỡng chế thi hành án.
1.2. Biện pháp cưỡng chế thi hành án
Các biện pháp cưỡng chế thi hành án theo Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, gồm có sáu loại biện pháp cưỡng chế sau đây:
a) Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
b) Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
c) Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
d) Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
đ) Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
e) Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
1.3. Kế hoạch cưỡng chế thi hành án
Cưỡng chế thi hành án dân sự có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của các bên đương sự nên các hành vi cản trở, chống đối không chấp hành án của người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường diễn ra khá phổ biến trong giai đoạn này. Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đã quy định cơ quan công an có trách nhiệm phối hợp thực hiện theo yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hoặc chấp hành viên trong việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Tuy nhiên, trên thực tế trong một số trường hợp lực lượng cảnh sát chưa kịp thời hỗ trợ cơ quan thi hành án trong việc bảo đảm trật tự và an toàn trong quá trình cưỡng chế hoặc còn thiếu thống nhất về kế hoạch cưỡng chế nên phần nào đã gây ảnh hưởng đến hoạt động của công tác thi hành án dân sự. Để khắc phục những hạn chế nêu trên, bảo đảm sự thành công của quá trình cưỡng chế, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án dân sự, Điều 72 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã bổ sung quy định về Kế hoạch cưỡng chế thi hành án. Kế hoạch cưỡng chế gồm các nội dung chính của kế hoạch cưỡng chế, nơi gửi kế hoạch cưỡng chế và trách nhiệm của cơ quan công an trong việc lập kế hoạch bảo vệ cưỡng chế, bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường, kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi tẩu tán tài sản, hành vi cản trở, chống đối việc thi hành án, tạm giữ người chống đối, khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm tội. Đây là quy định mới rất quan trọng nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và sự chủ động của cơ quan công an và các cơ quan khác có liên quan trong việc bảo vệ tổ chức cưỡng chế thi hành án, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác cưỡng chế thi hành án.
Trước khi tiến hành cưỡng chế thi hành án, Chấp hành viên phải lập kế hoạch cưỡng chế, trừ trường hợp phải cưỡng chế ngay.
Kế hoạch cưỡng chế thi hành án bao gồm các nội dung chính sau đây: Biện pháp cưỡng chế cần áp dụng. Thời gian, địa điểm cưỡng chế. Phương án tiến hành cưỡng chế. Yêu cầu về lực lượng tham gia và bảo vệ cưỡng chế. Dự trù chi phí cưỡng chế.
Kế hoạch cưỡng chế phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát, cơ quan Công an cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế hoặc cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án. Căn cứ vào kế hoạch cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan Công an có trách nhiệm lập kế hoạch bảo vệ cưỡng chế, bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường, kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi tẩu tán tài sản, hành vi cản trở, chống đối việc thi hành án, tạm giữ người chống đối, khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm tội.
1.3. Chi phí cưỡng chế thi hành án
Chi phí cưỡng chế thi hành án được xác định là các khoản chi phí do người phải thi hành án chịu để tổ chức cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp pháp luật quy định chi phí cưỡng chế thi hành án do người được thi hành án hoặc do ngân sách nhà nước chi trả.
Đối tượng chịu chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 73 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 như sau:
a) Người phải thi hành án chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:
- Chi phí thông báo về cưỡng chế thi hành án.
- Chi phí mua nguyên liệu, nhiên liệu, thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng, chống cháy, nổ, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho việc cưỡng chế thi hành án.
- Chi phí cho việc định giá, giám định tài sản, bán đấu giá tài sản; chi phí định giá lại tài sản, trừ trường hợp đó là chi phí xác minh theo yêu cẩu của người được thi hành án hoặc chi phí định giá lại tài sản nếu người được thi hành án yêu cầu định giá lại và trường hợp định giá lại do có vi phạm quy định về định giá.
- Chi phí cho việc thuê, trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyển tài sản; chi phí thuê nhân công và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá dỡ; chi thuê đo đạc, xác định mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án.
- Chi phí cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ.
- Tiền bồi dưỡng cho những người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án.
b) Người được thi hành án phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:
- Chi phí xác minh theo yêu cầu của người được thi hành án; chi phí định giá lại tài sản nếu người được thi hành án yêu cầu định giá lại, trừ trường hợp định giá lại do có vi phạm quy định về định giá.
- Một phần hoặc toàn bộ chi phí xây ngăn, phá dỡ trong trường hợp bản án, quyết định xác định người được thi hành án phải chịu chi phí xây ngăn, phá dỡ.
c) Ngân sách nhà nước trả chi phí cưỡng chế thi hành án trong các trường hợp sau đây:
- Định giá lại tài sản khi có vi phạm quy định về định giá.
- Chi phí xác minh điều kiện thi hành án trong trường hợp chủ động thi hành án.
- Chi phí cần thiết khác theo quy định của Chính phủ;
- Trường hợp đương sự được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật.
Chấp hành viên dự trù chi phí cưỡng chế và thông báo cho người phải thi hành án biết ít nhất 03 ngày làm việc trước ngày cưỡng chế đã được ấn định, trừ trường hợp cần thiết phải cưỡng chế ngay. Chi phí cưỡng chế thi hành án được tạm ứng từ ngân sách nhà nước.
Các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án được thanh toán theo mức chi thực tế, hợp lý do Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự duyệt theo đề xuất của Chấp hành viên. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nơi tổ chức việc thi hành án thực hiện xét miễn, giảm các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án.
Chi phí cưỡng chế thi hành án do đương sự nộp hoặc được khấu trừ vào tiền thu được, tiền bán đấu giá tài sản kê biên, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ. Sau khi xử lý tài sản hoặc thu được tiền, Chấp hành viên phải làm thủ tục hoàn trả ngay các khoản tiền đã tạm ứng trước đó.
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 cũng quy định Chính phủ quy định mức bồi dưỡng cho người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án; thủ tục thu, nộp, miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án.
Mức chi bồi dưỡng cho những người trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án hiện nay áp dụng quy định tại Quyết định số 73/2007/QĐ-TTg ngày 25/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ, như sau:
- Người chủ trì cưỡng chế thi hành án: mức 50.000đồng/người/ngày tham gia cưỡng chế.
- Những người khác trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án, kể cả đại diện tổ dân phố, trưởng thôn, già làng, trưởng bản được huy động tham gia cưỡng chế thi hành án dân sự trong trường hợp cần thiết: mức 40.000đồng/người/ngày tham gia cưỡng chế.
1.4. Cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung
1.4.1. Trước khi cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác, kể cả quyền sử dụng đất, Chấp hành viên phải thông báo cho chủ sở hữu chung biết việc cưỡng chế.
Chủ sở hữu chung có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của họ đối với tài sản chung. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để bảo đảm thi hành án.
Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Trường hợp vợ hoặc chồng không đồng ý thì có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày phần sở hữu được Chấp hành viên xác định. Hết thời hạn trên, đương sự không khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành xử lý tài sản và thanh toán lại cho vợ hoặc chồng của người phải thi hành án giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.
1.4.2. Tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung được xử lý như sau:
a) Đối với tài sản chung có thể chia được thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án.
b) Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán lại cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.
1.4.3. Khi bán tài sản chung, chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua tài sản.
1.5. Xử lý đối với tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp
Trường hợp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án mà có tranh chấp với người khác thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Chấp hành viên xử lý tài sản đã kê biên theo quyết định của Toà án, cơ quan có thẩm quyền.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Chấp hành viên yêu cầu mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì tài sản được xử lý để thi hành án.
2. Các biện pháp cưỡng chế thi hành án
Trong sáu loại biện pháp cưỡng chế trên, căn cứ vào từng loại đối tượng mà các biện pháp cưỡng chế thi hành án hướng tới hoặc tính chất của từng biện pháp cưỡng chế thi hành án, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định thành các Mục khác nhau, gồm: cưỡng chế thi hành án đối với tài sản là tiền (Mục 3), cưỡng chế đối với tài sản là giấy tờ có giá (Mục 4), cưỡng chế đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ (Mục 5), cưỡng chế đối với tài sản là vật (Mục 6), cưỡng chế khai thác đối với tài sản (Mục 7), cưỡng chế đối với tài sản là quyền sử dụng đất (Mục 8), cưỡng chế trả vật, giấy tờ, chuyển quyền sử dụng đất (Mục 9), cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định (Mục 10).
Trong từng mục, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định thủ tục cưỡng chế thi hành án đối với những tài sản cụ thể, nhất là những tài sản có tính năng, tình trạng, giá trị, ý nghĩa đặc biệt, như: Quy định về thủ tục cưỡng chế đối với tài sản là vật, Mục 6 có những quy định riêng về thủ tục kê biên đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp hay thuộc tài sản đang do người thứ ba giữ, tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất hay tài sản khác gắn liền với đất, tài sản là phương tiện giao thông hay tài sản là hoa lợi. Mục 3 quy định về cưỡng chế đối với tài sản là tiền, nhưng trong đó đã có sự phân biệt trình tự, thủ tục cưỡng chế đối với tiền đang trong kinh doanh hay tiền nằm trong tài khoản; tiền lương, tiền công, hay tiền hưu trí; tiền đang do người phải thi hành án quản lý hay đang do người thứ ba giữ. Mục 4 và Mục 5 đã đưa ra thủ tục để xử lý loại tài sản đang ngày càng trở nên phổ biến mà Pháp lệnh Thi hành án dân sự hiện hành chưa giải quyết được thoả đáng, đó là giấy tờ có giá và quyền sở hữu trí tuệ. Do đó, về kỹ thuật lập pháp, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định cụ thể các biện pháp thành 4 mục, với các cách thức cưỡng chế như sau:
2.1. Cưỡng chế thi hành đối với tài sản là tiền
2.1.1. Khấu trừ tiền trong tài khoản
Chấp hành viên ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án. Số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế.
Ngay sau khi nhận được quyết định về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định khấu trừ.
Việc phong toả tài khoản được chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án đã thi hành xong nghĩa vụ thi hành án.
b) Cơ quan, tổ chức đã thực hiện xong yêu cầu của Chấp hành viên về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án.
c) Có quyết định đình chỉ thi hành án theo quy định tại Điều 50 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
Chấp hành viên ra quyết định chấm dứt việc phong toả tài khoản ngay sau khi có căn cứ nêu trên.
2.1.2. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
Thu nhập của người phải thi hành án gồm tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác. Việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Theo thỏa thuận của đương sự;
b) Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;
c) Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.
3. Chấp hành viên ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Mức cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác. Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
4. Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác có trách nhiệm thực hiện quyết định trừ vào thu nhập.
2.1.3. Thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án
Trường hợp người phải thi hành án có thu nhập từ hoạt động kinh doanh thì Chấp hành viên ra quyết định thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người đó để thi hành án.
Khi thu tiền, Chấp hành viên phải để lại số tiền tối thiểu cho hoạt động kinh doanh và sinh hoạt của người phải thi hành án và gia đình. Chấp hành viên cấp biên lai thu tiền cho người phải thi hành án.
2.1.4. Thu tiền của người phải thi hành án đang giữ
Trường hợp phát hiện người phải thi hành án đang giữ tiền mà có căn cứ xác định khoản tiền đó là của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu tiền để thi hành án. Chấp hành viên lập biên bản thu tiền và cấp biên lai cho người phải thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án không ký vào biên bản thì phải có chữ ký của người làm chứng.
2.1.5. Thu tiền của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ
Trường hợp phát hiện người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu khoản tiền đó để thi hành án. Người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án có nghĩa vụ giao nộp tiền cho Chấp hành viên để thi hành án. Chấp hành viên lập biên bản thu tiền, cấp biên lai cho người thứ ba đang giữ tiền và thông báo cho người phải thi hành án. Trường hợp người thứ ba đang giữ tiền không ký vào biên bản thì phải có chữ ký của người làm chứng.
2.2. Cưỡng chế đối với tài sản là giấy tờ có giá
Trường hợp phát hiện người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu giữ giấy tờ đó để thi hành án. Người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án phải chuyển giao giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá không giao giấy tờ cho cơ quan thi hành án dân sự thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chuyển giao giá trị của giấy tờ đó để thi hành án. Việc bán giấy tờ có giá được thực hiện theo quy định của pháp luật.
2.3. Cưỡng chế đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ
2.3.1. Kê biên, sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ
Chấp hành viên ra quyết định kê biên quyền sở hữu trí tuệ thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì quyền sở hữu trí tuệ vẫn bị kê biên.
Khi kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án, tùy từng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, Chấp hành viên thu giữ các giấy tờ có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án.
Trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật sở hữu trí tuệ mà Nhà nước quyết định chủ sở hữu trí tuệ phải chuyển giao quyền của mình cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong thời gian nhất định thì Chấp hành viên không được kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án trong thời gian bắt buộc phải chuyển giao.
Chấp hành viên quyết định giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phải nộp số tiền thu được sau khi trừ các chi phí cần thiết cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án. Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu tổ chức chuyên môn, nghề nghiệp về sở hữu trí tuệ thu và quản lý thu nhập, lợi nhuận từ việc sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành án đã chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa được thanh toán hoặc mới được thanh toán một phần tiền thì Chấp hành viên ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao nộp khoản tiền chưa thanh toán để thi hành án.
2.3.2. Định giá và bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ được định giá và bán đấu giá theo quy định về định giá, bán đấu gia tài sản thi hành án và pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ. Luật thi hành án quy định Chính phủ quy định trình tự, thủ tục, phương pháp định giá và thẩm quyền định giá, bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ.
2.4. Cưỡng chế đối với tài sản là vật
2.4.1. Kê biên tài sản
2.4.1.1. Tài sản không được kê biên
a) Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức.
b) Tài sản sau đây của người phải thi hành án là cá nhân:
- Số lương thực đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người phải thi hành án và gia đình trong thời gian chưa có thu nhập, thu hoạch mới;
- Số thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh của người phải thi hành án và gia đình;
- Vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm;
- Đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương;
- Công cụ lao động cần thiết, có giá trị không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của người phải thi hành án và gia đình;
- Đồ dùng sinh hoạt cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình.
c) Tài sản sau đây của người phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ:
- Số thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động;
- Nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh;
- Trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường.
2.4.1.2. Thực hiện việc kê biên
Trước khi kê biên tài sản là bất động sản ít nhất là 03 ngày làm việc, Chấp hành viên thông báo cho đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, tài sản kê biên, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án.
Trường hợp đương sự vắng mặt thì có thể uỷ quyền cho người khác thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Trường hợp đã được thông báo hợp lệ mà đương sự hoặc người được uỷ quyền vắng mặt thì Chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê biên, nhưng phải mời người làm chứng và ghi rõ vào nội dung biên bản kê biên. Trường hợp không mời được người làm chứng thì Chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê biên nhưng phải ghi rõ vào nội dung biên bản kê biên.
Khi kê biên đồ vật, nhà ở, công trình kiến trúc nếu vắng mặt người phải thi hành án hoặc người đang quản lý, sử dụng tài sản đó mà phải mở khoá, phá khoá, mở gói thì Chấp hành viên thực hiện theo quy định của pháp luật.
Việc kê biên tài sản phải lập biên bản. Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm kê biên, họ, tên Chấp hành viên, đương sự hoặc người được ủy quyền, người lập biên bản, người làm chứng và người có liên quan đến tài sản; diễn biến của việc kê biên; mô tả tình trạng từng tài sản, yêu cầu của đương sự và ý kiến của người làm chứng.
Biên bản kê biên có chữ ký của đương sự hoặc người được uỷ quyền, người làm chứng, đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, Chấp hành viên và người lập biên bản.
2.4.1.3. Kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm
Trước khi kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký.
Sau khi kê biên, Chấp hành viên thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký về việc kê biên tài sản đó để xử lý theo quy định của pháp luật.
2.4.1.4. Kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp
Trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án.
Khi kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp, Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp; khi xử lý tài sản kê biên, người nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán.
2.4.1.5. Kê biên tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ
Trường hợp xác định người thứ ba đang giữ tài sản của người phải thi hành án, kể cả trường hợp tài sản được xác định bằng bản án, quyết định khác thì Chấp hành viên ra quyết định kê biên tài sản đó để thi hành án; trường hợp người thứ ba không tự nguyện giao tài sản thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc họ phải giao tài sản để thi hành án.
Trường hợp tài sản kê biên đang cho thuê thì người thuê được tiếp tục thuê theo hợp đồng đã giao kết.
2.4.1.6. Kê biên vốn góp
Chấp hành viên yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án có vốn góp cung cấp thông tin về phần vốn góp của người phải thi hành án để kê biên phần vốn góp đó. Trong trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định phần vốn góp của người phải thi hành án; trưng cầu tổ chức, cá nhân có chuyên môn xác định phần giá trị vốn góp của người phải thi hành án để cưỡng chế thi hành án.
Đương sự có quyền yêu cầu Toà án xác định phần vốn góp của người phải thi hành án.
2.4.1.7. Kê biên đồ vật bị khóa, đóng gói
Khi kê biên đồ vật đang bị khoá hoặc đóng gói thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang sử dụng, quản lý đồ vật mở khoá, mở gói; nếu họ không mở hoặc cố tình vắng mặt thì Chấp hành viên tự mình hoặc có thể thuê cá nhân, tổ chức khác mở khoá, phá khoá hoặc mở gói, trong trường hợp này phải có người làm chứng. Người phải thi hành án phải chịu thiệt hại do việc mở khoá, phá khóa, mở gói.
Trường hợp cần thiết, sau khi mở khoá, phá khoá, mở gói, Chấp hành viên niêm phong đồ vật và giao bảo quản theo quy định. Việc mở khoá, phá khoá, mở gói hoặc niêm phong phải lập biên bản, có chữ ký của những người tham gia và người làm chứng.
2.4.1.8. Kê biên tài sản gắn liền với đất
Khi kê biên tài sản là công trình xây dựng gắn liền với đất phải kê biên cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp quyền sử dụng đất không được kê biên theo quy định của pháp luật hoặc việc tách rời tài sản kê biên và đất không làm giảm đáng kể giá trị tài sản đó.
2.4.1.9. Kê biên nhà ở
Việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án.
Khi kê biên nhà ở phải kê biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở. Trường hợp nhà ở gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở và quyền sử dụng đất để thi hành án nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường hợp người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở của người phải thi hành án, nếu việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị căn nhà.
Khi kê biên nhà ở của người phải thi hành án đang cho thuê, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết.
Trường hợp tài sản kê biên là nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc thời hạn lưu cư vẫn còn thì người thuê có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư theo quy định của Bộ luật dân sự.
Việc kê biên nhà ở bị khoá được thực hiện như sau: Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang sử dụng, quản lý nhà ở mở khoá; nếu họ không mở hoặc cố tình vắng mặt thì Chấp hành viên tự mình hoặc có thể thuê cá nhân, tổ chức khác mở khoá, phá khoá, trong trường hợp này phải có người làm chứng. Người phải thi hành án phải chịu thiệt hại do việc mở khoá, phá khóa. Trường hợp cần thiết, sau khi mở khoá, phá khoá, Chấp hành viên niêm phong đồ vật và giao bảo quản theo quy định. Việc mở khoá, phá khoá hoặc niêm phong phải lập biên bản, có chữ ký của những người tham gia và người làm chứng.
2.4.1.10. Kê biên phương tiện giao thông
Trường hợp kê biên phương tiện giao thông của người phải thi hành án, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng phương tiện đó phải giao giấy đăng ký phương tiện đó, nếu có.
Đối với phương tiện giao thông đang được khai thác sử dụng thì sau khi kê biên Chấp hành viên có thể thu giữ hoặc giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục khai thác sử dụng, bảo quản nhưng không được chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp.
Trường hợp giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục khai thác sử dụng phương tiện giao thông thì Chấp hành viên cấp cho người đó biên bản thu giữ giấy đăng ký để phương tiện được phép tham gia giao thông.
Chấp hành viên có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấm chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, cho thuê hoặc hạn chế giao thông đối với phương tiện bị kê biên.
Việc kê biên đối với tàu bay, tàu biển để thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật về bắt giữ tàu bay, tàu biển.
2.4.1.11. Kê biên hoa lợi
Trường hợp người phải thi hành án có tài sản mang lại hoa lợi, Chấp hành viên kê biên hoa lợi đó để bảo đảm thi hành án. Đối với hoa lợi là lương thực, thực phẩm thì khi kê biên, Chấp hành viên phải để lại một phần để người phải thi hành án và gia đình họ sinh sống theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 87 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
2.4.2. Định giá tài sản kê biên
Điều 98, Điều 99 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định về định giá và định giá lại tài sản đã kê biên. Theo đó, ngay khi kê biên tài sản mà đương sự thoả thuận được về giá tài sản hoặc về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên lập biên bản về thỏa thuận đó. Giá tài sản do đương sự thoả thuận là giá khởi điểm để bán đấu giá. Trường hợp đương sự có thoả thuận về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:
- Đương sự không thoả thuận được về giá và không thoả thuận được việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá.
- Tổ chức thẩm định giá do đương sự lựa chọn từ chối việc ký hợp đồng dịch vụ.
- Thi hành phần bản án, quyết định thuộc diện chủ động thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
Chấp hành viên xác định giá trong các trường hợp sau đây:
- Không thực hiện được việc ký hợp đồng dịch vụ.
- Tài sản kê biên thuộc loại tươi sống, mau hỏng hoặc có giá trị nhỏ mà đương sự không thoả thuận được với nhau về giá.
Việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản;
b) Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản.
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có hai điểm mới đặc biệt trong cơ chế định giá và bán đấu giá tài sản để thi hành án so với Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004.
Về cơ chế định giá tài sản, Pháp lệnh Thi hành án dân sự hiện hành quy định việc định giá là do Hội đồng định giá gồm Chấp hành viên làm Chủ tịch Hội đồng và đại diện cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn làm thành viên chịu trách nhiệm. Cơ chế này dễ tạo ra sự nghi ngờ về tính xác thực của giá tài sản, gây khiếu nại bức xúc của đương sự về công tác thi hành án. Vì vậy, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã tách trách nhiệm xác định giá tài sản ra khỏi thẩm quyền của cơ quan thi hành án, giao quyền này cho tổ chức thẩm định giá có chuyên môn tiến hành việc định giá tài sản. Điều 98 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định việc xác định giá tài sản đã kê biên chủ yếu do tổ chức thẩm định giá, đó là tổ chức độc lập ngoài cơ quan thi hành án, trong địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi cơ quan thi hành án dân sự ký kết hợp đồng dịch vụ tiến hành, nếu như đương sự không có thoả thuận về giá và chỉ khi không ký kết được hợp đồng dịch vụ để định giá tài sản kê biên hoặc tài sản kê biên thuộc loại tươi sống, mau hỏng hoặc có giá trị nhỏ mà đương sự không thoả thuận được với nhau về giá thì Chấp hành viên mới có thẩm quyền xác định giá tài sản.
Sau khi tài sản đã được xác định giá, thì tuỳ theo giá trị, loại tài sản mà Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định, Chấp hành viên xác định phương thức bán tài sản để thi hành án. Bên cạnh việc kế thừa quy định hiện hành về bán tài sản qua đấu giá, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 còn tạo cơ chế linh hoạt, kịp thời để bán loại tài sản có giá trị nhỏ và tài sản thuộc diện tươi sống, mau hỏng theo phương thức ngoài bán theo hình thức đấu giá, tài sản còn có thể được bán thông thường.
Về cơ bản, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 giữ nguyên thẩm quyền của tổ chức bán đấu giá tải sản đối với tài sản là bất động sản và tài sản là động sản có giá trị từ trên 10.000.000 đồng. Việc ký hợp đồng bán đấu giá với tổ chức bán đấu giá nào là do Chấp hành viên lựa chọn, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận lựa chọn tổ chức bán đấu giá cụ thể. Đối với thẩm quyền bán đấu giá của Chấp hành viên thì Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có phân biệt: nếu động sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng thì thuộc quyền bán đấu giá của Chấp hành viên, còn tài sản là động sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng và tài sản thuộc diện tươi sống, mau hỏng thì thuộc quyền bán thông thường của Chấp hành viên.
Để tăng khả năng thi hành án hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, bên cạnh việc quy định trong thời hạn nhất định sau khi uỷ quyền hoặc sau khi kê biên, tài sản phải được đưa ra bán đấu giá, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 còn đưa ra sự thay đổi về số lần một tài sản có thể được đem ra bán đấu giá. Tài sản sẽ được Chấp hành viên giảm giá để tiếp tục bán đấu giá, mỗi lần giảm giá không quá mười phần trăm giá đã định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày bán đấu giá không thành nếu đương sự không yêu cầu định giá lại. Việc giảm giá và tổ chức bán đấu giá sẽ được thực hiện cho đến khi giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế, nếu người được thi hành án không nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản mới được trả lại cho người phải thi hành án.
2.4.3. Giao tài sản để thi hành án
Trường hợp đương sự thoả thuận để người được thi hành án nhận tài sản đó kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án thì Chấp hành viên lập biên bản về việc thoả thuận.
Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì người nhận tài sản phải được sự đồng ý của những người được thi hành án khác và phải thanh toán lại cho những người được thi hành án khác số tiền tương ứng tỷ lệ giá trị mà họ được hưởng.
Việc giao tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có thoả thuận.
2.4.4. Bán tài sản đã kê biên
2.4.4.1. Hình thức, thẩm quyền bán tài sản đã kê biên
a) Tài sản đã kê biên được bán theo các hình thức sau đây:
- Bán đấu giá.
- Bán không qua thủ tục đấu giá.
b) Việc bán đấu giá đối với tài sản kê biên là động sản có giá trị từ trên 10.000.000 đồng và bất động sản do tổ chức bán đấu giá thực hiện.
Đương sự có quyền thoả thuận về tổ chức bán đấu giá trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày định giá. Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu giá do đương sự thoả thuận. Trường hợp đương sự không thoả thuận được thì Chấp hành viên lựa chọn tổ chức bán đấu giá để ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản.
Việc ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản được tiến hành trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày định giá.
Việc bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng.
- Chấp hành viên bán đấu giá tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:
- Tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản chưa có tổ chức bán đấu giá hoặc có nhưng tổ chức bán đấu giá từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản.
- Động sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Việc bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày định giá hoặc từ ngày nhận được văn bản của tổ chức bán đấu giá từ chối bán đấu giá.
Chấp hành viên bán không qua thủ tục bán đấu giá đối với tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc tài sản tươi sống, mau hỏng.
Việc bán tài sản phải được thực hiện trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên.
Trước khi mở cuộc bán đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá.
Người phải thi hành án có trách nhiệm hoàn trả phí tổn thực tế, hợp lý cho người đăng ký mua tài sản. Mức phí tổn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
Thủ tục bán đấu giá được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
2.4.4.2. Huỷ kết quả bán đấu giá tài sản
Đương sự, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản.
Trường hợp kết quả bán đấu giá tài sản bị huỷ theo bản án, quyết định của Toà án thì việc xử lý tài sản để thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Việc xử lý hậu quả và bồi thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá tài sản bị huỷ được giải quyết theo quy định của pháp luật.
2.4.4.3. Giao tài sản bán đấu giá
Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không giao tài sản bán đấu giá cho người mua được tài sản thì thủ tục cưỡng chế giao tài sản được thực hiện theo quy định tại các điều 114, 115, 116 và 117 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
2.4.4.4. Xử lý tài sản bán đấu giá không thành
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày bán đấu giá không thành mà đương sự không yêu cầu định giá lại thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Mỗi lần giảm giá không quá mười phần trăm giá đã định.
Trường hợp giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án không nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án.
2.4.4.5. Giải toả kê biên tài sản
Việc giải toả kê biên tài sản được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Đương sự thoả thuận về việc giải toả kê biên tài sản mà không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba;
b) Đương sự đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án và các chi phí thi hành án;
c) Có quyết định của người có thẩm quyền hủy bỏ quyết định kê biên tài sản;
d) Có quyết định đình chỉ thi hành án.
Chấp hành viên ra quyết định giải toả kê biên và trả lại tài sản cho người phải thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ giải toả kê biên tài sản nêu trên.
2.4.4.6. Đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản
Người mua được tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án được pháp luật công nhận và bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng cho người mua, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án. Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm cung cấp đầy đủ những văn bản, giấy tờ quy định cho người mua tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án.
Hồ sơ đăng ký chuyển quyền sở hữu, sử dụng gồm có:
a) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự;
b) Bản sao bản án, quyết định;
c) Quyết định thi hành án, quyết định kê biên tài sản;
d) Văn bản bản đấu giá thành hoặc biên bản giao nhận tài sản để thi hành án;
đ) Giấy tờ khác có liên quan đến tài sản, nếu có.
Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất mà không có giấy chứng nhận hoặc không thu hồi được giấy chứng nhận thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu mà không có giấy tờ đăng ký hoặc không thu hồi được giấy tờ đăng ký thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền sở hữu.
Giấy tờ được cấp mới có giá trị thay thế cho giấy tờ không thu hồi được.
2.5. Cưỡng chế khai thác đối với tài sản
2.5.1. Cưỡng chế khai thác đối với tài sản để thi hành án
Chấp hành viên cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án trong trường hợp tài sản của người phải thi hành án có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành và tài sản đó có thể khai thác để thi hành án hoặc người được thi hành án đồng ý cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án nếu việc khai thác tài sản không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.
Chấp hành viên phải ra quyết định cưỡng chế khai thác tài sản. Quyết định ghi rõ hình thức khai thác; số tiền, thời hạn, thời điểm, địa điểm, phương thức nộp tiền cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án.
Quyết định cưỡng chế khai thác tài sản phải được gửi ngay cho cơ quan có thẩm quyền quản lý, đăng ký đối với tài sản đó và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản.
Việc thực hiện giao dịch, chuyển giao quyền sở hữu tài sản đối với tài sản đang khai thác phải được sự đồng ý của Chấp hành viên.
2.5.2. Hình thức cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án
Tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế khai thác để thi hành án theo các hình thức sau đây:
- Tài sản mà người phải thi hành án đang trực tiếp khai thác hoặc cho người khác khai thác thì người đang khai thác được tiếp tục khai thác.
- Trường hợp tài sản, bao gồm cả quyền sử dụng đất mà chưa khai thác thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án ký hợp đồng khai thác tài sản với tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác tài sản.
Người khai thác tài sản này phải nộp số tiền thu được từ việc khai thác tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự, sau khi trừ các chi phí cần thiết.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày yêu cầu mà người phải thi hành án không ký hợp đồng khai thác với người khác thì Chấp hành viên kê biên, xử lý tài sản đó để thi hành án.
2.5.3. Chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài sản
Chấp hành viên ra quyết định chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài sản trong các trường hợp sau đây:
a) Việc khai thác tài sản không hiệu quả hoặc làm cản trở đến việc thi hành án;
b) Người phải thi hành án, người khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu cầu của Chấp hành viên về việc khai thác tài sản;
c) Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án và các chi phí về thi hành án;
d) Có quyết định đình chỉ thi hành án.
Trường hợp việc cưỡng chế khai thác tài sản chấm dứt do việc khai thác tài sản không hiệu quả hoặc làm cản trở đến việc thi hành án hoặc người phải thi hành án, người khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu cầu của Chấp hành viên về việc khai thác tài sản, thì Chấp hành viên tiếp tục kê biên và xử lý tài sản đó để thi hành án.
Trường hợp việc cưỡng chế khai thác tài sản chấm dứt do người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án và các chi phí về thi hành án hoặc có quyết định đình chỉ thi hành án, thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định, Chấp hành viên ra quyết định giải toả việc cưỡng chế khai thác tài sản và trả lại tài sản cho người phải thi hành án.
2.6. Cưỡng chế đối với tài sản là quyền sử dụng đất
2.6.1. Quyền sử dụng đất được kê biên, bán đấu giá để thi hành án
Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.
Người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện quy hoạch phải thu hồi đất, nhưng chưa có quyết định thu hồi đất thì vẫn được kê biên, xử lý quyền sử dụng đất đó.
2.6.2. Kê biên quyền sử dụng đất
Khi kê biên quyền sử dụng đất, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý giấy tờ về quyền sử dụng đất phải nộp các giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự.
Khi kê biên quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì kê biên cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Trường hợp đất của người phải thi hành án có tài sản gắn liền với đất mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất và thông báo cho người có tài sản gắn liền với đất.
Việc kê biên quyền sử dụng đất phải lập biên bản ghi rõ vị trí, diện tích, ranh giới thửa đất được kê biên, có chữ ký của những người tham gia kê biên.
2.6.3. Tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng diện tích đất đã kê biên
Trường hợp diện tích đất đã kê biên đang do người phải thi hành án quản lý, khai thác, sử dụng thì Chấp hành viên tạm giao diện tích đất đã kê biên cho người đó. Trường hợp diện tích đất đã kê biên đang do tổ chức hoặc cá nhân khác quản lý, khai thác, sử dụng thì tạm giao cho tổ chức, cá nhân đó.
Trường hợp người phải thi hành án hoặc tổ chức, cá nhân nêu trên không nhận thì Chấp hành viên tạm giao diện tích đất đã kê biên cho tổ chức, cá nhân khác quản lý, khai thác, sử dụng. Trường hợp không có tổ chức, cá nhân nào nhận thì cơ quan thi hành án dân sự tiến hành ngay việc định giá và bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
Việc tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất đã kê biên phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ:
a) Diện tích, loại đất, vị trí, số thửa đất, số bản đồ;
b) Hiện trạng sử dụng đất;
c) Thời hạn tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất;
d) Quyền và nghĩa vụ cụ thể của người được tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất.
Trong thời hạn tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất đã kê biên, người được tạm giao không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, để thừa kế, thế chấp, hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất; không được làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất; không được sử dụng đất trái mục đích.
2.6.4. Xử lý tài sản gắn liền với đất đã kê biên
a) Trường hợp tài sản gắn liền với đất đã kê biên thuộc sở hữu của người khác thì xử lý như sau:
- Đối với tài sản có trước khi người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển tài sản để trả quyền sử dụng đất cho người phải thi hành án. Trường hợp người có tài sản không tự nguyện di chuyển tài sản thì Chấp hành viên hướng dẫn cho người có tài sản và người phải thi hành án thoả thuận bằng văn bản về phương thức giải quyết tài sản. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hướng dẫn mà họ không thoả thuận được thì Chấp hành viên xử lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án và người có tài sản gắn liền với đất.
Trường hợp người có tài sản là người thuê đất hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của người phải thi hành án mà không hình thành pháp nhân mới thì người có tài sản được quyền tiếp tục ký hợp đồng thuê đất, hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất với người trúng đấu giá, người nhận quyền sử dụng đất trong thời hạn còn lại của hợp đồng mà họ đã ký kết với người phải thi hành án. Trường hợp này, trước khi xử lý quyền sử dụng đất, Chấp hành viên có trách nhiệm thông báo cho người tham gia đấu giá, người được đề nghị nhận quyền sử dụng đất về quyền được tiếp tục ký hợp đồng của người có tài sản gắn liền với đất.
- Đối với tài sản có sau khi người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển tài sản để trả lại quyền sử dụng đất cho người phải thi hành án. Sau thời hạn 15 ngày, kể từ ngày yêu cầu, mà người có tài sản không di chuyển tài sản hoặc tài sản không thể di chuyển được thì Chấp hành viên xử lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất.
Đối với tài sản có sau khi kê biên, nếu người có tài sản không di chuyển tài sản hoặc tài sản không thể di chuyển được thì tài sản phải bị tháo dỡ. Chấp hành viên tổ chức việc tháo dỡ tài sản, trừ trường hợp người nhận quyền sử dụng đất hoặc người trúng đấu giá quyền sử dụng đất đồng ý mua tài sản.
- Người có tài sản gắn liền với đất của người phải thi hành án được hoàn trả tiền bán tài sản, nhận lại tài sản, nếu tài sản bị tháo dỡ nhưng phải chịu các chi phí về kê biên, định giá, bán đấu giá, tháo dỡ tài sản.
b) Trường hợp tài sản thuộc sở hữu của người phải thi hành án gắn liền với quyền sử dụng đất đã kê biên thì Chấp hành viên xử lý tài sản cùng với quyền sử dụng đất.
c) Đối với tài sản là cây trồng, vật nuôi ngắn ngày chưa đến mùa thu hoạch hoặc tài sản đang trong quy trình sản xuất khép kín chưa kết thúc thì sau khi kê biên, Chấp hành viên chỉ tiến hành xử lý khi đến mùa thu hoạch hoặc khi kết thúc quy trình sản xuất khép kín.
2.7. Cưỡng chế trả vật, giấy tờ, chuyển quyền sử dụng đất
2.7.1. Thủ tục cưỡng chế trả vật
a) Đối với vật đặc định, việc cưỡng chế được thực hiện như sau:
- Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng trả vật cho người được thi hành án; nếu người đó không thi hành thì Chấp hành viên thu hồi vật để trả cho người được thi hành án.
- Trường hợp vật phải trả giảm giá trị mà người được thi hành án không đồng ý nhận thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thoả thuận việc thi hành án. Việc thi hành án được thực hiện theo thoả thuận.
Trường hợp đương sự không thoả thuận được thì Chấp hành viên cưỡng chế trả vật cho người được thi hành án. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết về thiệt hại do vật phải trả bị giảm giá trị.
- Trường hợp vật không còn hoặc bị hư hỏng đến mức không sử dụng được mà đương sự có thoả thuận khác về việc thi hành án thì Chấp hành viên thi hành theo thoả thuận.
Trường hợp đương sự không thoả thuận được thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết về thiệt hại do vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không sử dụng được.
b) Đối với vật cùng loại thì Chấp hành viên thực hiện việc cưỡng chế theo nội dung bản án, quyết định.
Trường hợp vật phải trả không còn hoặc hư hỏng, giảm giá trị thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án trả vật cùng loại hoặc thanh toán giá trị của vật cùng loại, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác.
c) Trường hợp người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng vật phải trả có thể tẩu tán, huỷ hoại vật đó thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
2.7.2. Cưỡng chế trả nhà, giao nhà
Trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ trả nhà thì Chấp hành viên buộc người phải thi hành án và những người khác có mặt trong nhà ra khỏi nhà, đồng thời yêu cầu họ tự chuyển tài sản ra khỏi nhà; nếu họ không tự nguyện thực hiện thì Chấp hành viên yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi nhà.
Trường hợp họ từ chối nhận tài sản, Chấp hành viên phải lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản và giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự và thông báo địa điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài sản.
Trường hợp người phải thi hành án cố tình vắng mặt mặc dù đã được thông báo quyết định cưỡng chế thì Chấp hành viên thực hiện việc cưỡng chế.
Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày thông báo mà người có tài sản bảo quản không đến nhận thì tài sản đó được xử lý, trừ trường hợp có lý do chính đáng.
Việc cưỡng chế để trả lại công trình xây dựng, vật kiến trúc theo bản án, quyết định được thực hiện theo quy định về cưỡng chế trả nhà.
Trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, Chấp hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm. Nghĩa vụ thi hành án còn lại được tiếp tục thực hiện theo quy định.
2.7.3. Cưỡng chế trả giấy tờ
Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế buộc người phải thi hành án trả giấy tờ cho người được thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án không thực hiện thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc người đó trả giấy tờ để thi hành án.
Trường hợp xác định người thứ ba đang giữ giấy tờ phải trả thì Chấp hành viên yêu cầu người đó giao giấy tờ đang giữ, nếu người thứ ba không tự nguyện giao thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc người đó giao giấy tờ để thi hành án.
Trường hợp giấy tờ không thể thu hồi được nhưng có thể cấp lại thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết định hủy giấy tờ đó và cấp giấy tờ mới cho người được thi hành án. Đối với giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án và hướng dẫn đương sự khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết.
2.7.4. Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất
Trường hợp bản án, quyết định tuyên nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất thì Chấp hành viên tổ chức giao diện tích đất cho người được thi hành án. Khi tiến hành giao đất phải có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cùng cấp và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất được chuyển giao.
Việc xử lý tài sản gắn liền với đất được chuyển giao thực hiện theo quy định sau đây:
a) Trường hợp tài sản gắn liền với đất hình thành sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản đó tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao cho người được thi hành án. Nếu người có tài sản không thực hiện thì Chấp hành viên cưỡng chế tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác. Chi phí cưỡng chế do người có tài sản chịu.
Trường hợp người có tài sản gắn liền với đất từ chối nhận tài sản thì Chấp hành viên lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản, giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự và thông báo địa điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài sản.
Hết thời hạn thông báo mà người có tài sản không đến nhận thì tài sản được xử lý theo quy định tại Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
b) Trường hợp tài sản gắn liền với đất có trước khi có bản án, quyết định sơ thẩm nhưng bản án, quyết định được thi hành không tuyên rõ việc xử lý đối với tài sản đó thì cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu Toà án đã ra bản án, quyết định giải thích rõ việc xử lý đối với tài sản hoặc đề nghị Toà án có thẩm quyền xem xét lại nội dung bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Việc cưỡng chế giao quyền sử dụng đất cho người trúng đấu giá hoặc cho người nhận quyền sử dụng đất để trừ vào số tiền được thi hành án được thực hiện theo quy định về cưỡng chế chuyển quyền sử dụng đất theo bản án, quyết định của Tòa án.
2.8. Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định
2.8.1. Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định
Trường hợp thi hành nghĩa vụ phải thực hiện công việc nhất định theo bản án, quyết định mà người phải thi hành án không thực hiện thì Chấp hành viên quyết định phạt tiền và ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
Hết thời hạn đã ấn định mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên xử lý như sau:
a) Trường hợp công việc đó có thể giao cho người khác thực hiện thay thì Chấp hành viên giao cho người có điều kiện thực hiện; chi phí thực hiện do người phải thi hành án chịu.
b) Trường hợp công việc đó phải do chính người phải thi hành án thực hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
2.8.2. Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định
Người phải thi hành án không tự nguyện chấm dứt việc thực hiện công việc mà theo bản án, quyết định không được thực hiện thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người đó, trong trường hợp cần thiết có thể yêu cầu họ khôi phục hiện trạng ban đầu. Trường hợp người đó vẫn không chấm dứt công việc không được làm, không khôi phục lại hiện trạng ban đầu thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
2.8.3. Cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định
Chấp hành viên ra quyết định buộc giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định. Trước khi cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng, Chấp hành viên phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương đó thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành niên không giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền, ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng. Hết thời hạn đã ấn định mà người đó không thực hiện thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế buộc giao người chưa thành niên hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
2.8.4. Cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc
Trường hợp người sử dụng lao động không nhận người lao động trở lại làm việc theo bản án, quyết định thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người sử dụng lao động là cá nhân hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng lao động, đồng thời ấn định thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người sử dụng lao động thực hiện việc nhận người lao động trở lại làm việc. Hết thời hạn đã ấn định mà người sử dụng lao động không thực hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
Trường hợp không thể bố trí người lao động trở lại làm công việc theo nội dung bản án, quyết định thì người sử dụng lao động phải bố trí công việc khác với mức tiền lương tương đương theo quy định của pháp luật lao động. Trường hợp người lao động không chấp nhận công việc được bố trí và yêu cầu người sử dụng lao động thanh toán các chế độ theo quy định của pháp luật lao động thì người sử dụng lao động phải thực hiện việc thanh toán để chấm dứt nghĩa vụ thi hành án.
Người sử dụng lao động phải thanh toán cho người lao động khoản tiền lương trong thời gian chưa bố trí được công việc theo bản án, quyết định, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi người lao động được nhận trở lại làm việc.
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên cũng như của người thứ ba có liên quan, vì vậy, đòi hỏi việc áp dụng phải vô cùng thận trọng, chặt chẽ. Hồ sơ thi hành án phải đảm bảo thể hiện đầy đủ, chặt chẽ các quyết định đã ban hành, các hoạt động thi hành án đã thực hiện của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, của Chấp hành viên, các giấy tờ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khác theo đúng quy định của pháp luật.
II. KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 dành 20 điều (từ Điều 140 đến Điều 159) quy định về trình tự, thủ tục khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự. Như vậy quyền khiếu nại tố cáo của đương sự trong lĩnh vực thi hành án dân sự được coi trọng và quy định cụ thể, đó là sự thay đổi lớn, khẳng định vị trí, tầm quan trọng của quyền khiếu nại, tố cáo và thể hiện nhận thức đầy đủ hơn về trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự.
1. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự
1.1. Người khiếu nại về thi hành án dân sự
Khiếu nại về thi hành án dân sự là việc đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Như vậy, người có quyền khiếu nại là người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án có quyền, lợi ích bị xâm phạm (khoản 1 Điều 140 Luật Thi hành án dân sự năm 2008).
Người được thi hành án là cơ quan, tổ chức, cá nhân được hưởng quyền và lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành, người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự trong quá trình thi hành án.
Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì quyết định của Thủ trưởng cơ quan thi hành án gồm: quyết định thi hành án (chủ động hoặc theo đơn); quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án; quyết định hoãn thi hành án; quyết định tạm đình chỉ thi hành án; quyết định đình chỉ thi hành án; quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án; quyết định kết thúc thi hành án; quyết định ủy thác thi hành án; quyết định khôi phục thời hiệu thi hành án; quyết định thu phí thi hành án; quyết định thành lập hội đồng tiêu hủy vật chứng tài sản; quyết định trả tiền, tài sản; quyết định miễn giảm chi phí cưỡng chế thi hành án; quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự; quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo v.v…
Quyết định của Chấp hành viên gồm: quyết định phong tỏa tài khoản; quyết định tạm giữ tài sản giáy tờ; quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng tài sản; quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản; quyết định chấm dứt phong tỏa tài khoản; quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; quyết định thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án; quyết định thu tiền của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ; quyết định thu giấy tờ có giá; quyết định kê biên quyền sở hữu trí tuệ; quyết định kê biên tài sản; quyết định kê biên hoa lợi; quyết định giảm giá; quyết định giải tỏa kê biên; quyết định cưỡng chế khai thác đối với tài sản để thi hành án; quyết định chấm dứt cưỡng chế khai thác đối với tài sản để thi hành án; quyết định cưỡng chế trả nhà, trả giấy tờ, trả quyền sử dụng đất; quyết định cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định; quyết định cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không thực hiện công việc nhất định; quyết định cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định; quyết định cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc; quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự v.v....
Hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể là việc không thực hiện hoặc thực hiện những hành vi mà pháp luật quy định không được làm theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành hoặc thực hiện không đúng chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật. Có thể gồm các hành vi sau: không ra các quyết định về thi hành án (Quyết định thi hành án, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ …); không kiểm tra, đôn đốc Chấp hành viên được phân công tổ chức thi hành vụ việc; ra các văn bản không phù hợp gây thiệt hại đến quyền, lợi ích của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân v.v….
Những hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên có thể là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyết định của bản án, quyết định của Tòa án; không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyết định của Thủ trưởng cơ quan thi hành án; ra các văn bản về thi hành án không phù hợp gây thiệt hại đến quyền, lợi ích của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân; không thông báo cho đương sự các quyết định về thi hành án; không áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành v.v…
1.1.1 Quyền của người khiếu nại
Trước đây, Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 không quy định cụ thể quyền của người khiếu nại, do đó ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền khiếu nại của các cá nhân, tổ chức và cơ quan nhà nước. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định cụ thể các quyền của người khiếu nại, tạo cơ chế để các chủ thể trong khiếu nại thực hiện các quyền của mình. Khoản 1 Điều 143 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định các quyền của người khiếu nại bao gồm:
- Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại;
- Nhờ luật sư giúp đỡ về pháp luật trong quá trình giải quyết khiếu nại;
- Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại;
- Được biết các bằng chứng để làm căn cứ giải quyết khiếu nại, đưa ra bằng chứng về việc khiếu nại và giải trình ý kiến của mình về bằng chứng đó;
- Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm và được bồi thường thiệt hại nếu có;
- Được khiếu nại tiếp nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại;
- Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại.
Việc quy định quyền nhờ luật sư giúp đỡ về pháp luật trong quá trình giải quyết khiếu nại góp phần làm minh bạch hoá quan hệ pháp luật về khiếu nại, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người khiếu nại, đồng thời phù hợp với định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước đưa luật sư tham gia ngày càng sâu hơn vào các hoạt động tư pháp và nâng cao vai trò của luật sư trong việc tham gia bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, cơ quan.
1.1.2 Nghĩa vụ của người khiếu nại
Trong khiếu nại về thi hành án, bên cạnh các quyền, người khiếu nại còn có các nghĩa vụ phải thực hiện, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định rõ các nghĩa vụ của người khiếu nại qua đó xác định trách nhiệm của người khiếu nại trong quá trình khiếu nại về thi hành án, ngăn chặn hành vi lợi dụng khiếu nại gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp tổ chức và công dân.
Khoản 2 Điều 143 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định các nghĩa vụ của người khiếu nại bao gồm:
- Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết;
- Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và cung cấp thông tin, tài liệu đó;
- Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành và quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ quốc phòng theo quy định của điểm b khoản 4 và điểm b khoản 7 Điều 142 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
1.2. Người bị khiếu nại về thi hành án dân sự
Theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì người bị khiếu nại là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên đã ra quyết định hoặc có hành vi nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trên thực tế, việc tổ chức thi hành án không chỉ có sự tham gia của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên mà còn có sự tham gia của chuyên viên pháp lý hay các cán bộ, công chức khác, tuy nhiên, những đối tượng này chỉ là người giúp Thủ trưởng cơ quan thi hành án, giúp Chấp hành viên thực hiện nhiệm vụ của mình, do đó, họ không phải là người bị khiếu nại về thi hành án dân sự.
1.2.1. Quyền của người bị khiếu nại
Theo quy định tại khoản 1 Điều 144 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì người bị khiếu nại có 02 quyền trong khiếu nại, cụ thể:
- Được biết các căn cứ khiếu nại của người khiếu nại; đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định, hành vi bị khiếu nại;
- Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại.
1.2.2 Nghĩa vụ của người bị khiếu nại
Người bị khiếu nại là người có thẩm quyền trong quá trình tổ chức thi hành án đã bị đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khiếu nại về quyết định, hành vi, nên họ là đối tượng hiểu rất rõ quá trình đưa ra các quyết định, hành vi của mình, do đó, để việc giải quyết khiếu nại đạt kết quả, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định nghĩa vụ giải trình về quyết định, hành vi bị khiếu nại, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại yêu cầu.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 144 thì người bị khiếu nại còn có các nghĩa vụ sau:
- Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành và quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ quốc phòng theo quy định của điểm b khoản 4 và điểm b khoản 7 Điều 142 Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
- Bồi thường, bồi hoàn, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.
1.3. Thời hiệu khiếu nại
Thời hiệu khiếu nại là thời hạn mà trong thời hạn đó đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án được thực hiện quyền khiếu nại của mình đối với các quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên. Việc quy định chi tiết, đầy đủ thời hiệu khiếu nại là một nội dung rất quan trọng trong khiếu nại, tố cáo qua đó ngăn chặn việc các cơ quan thi hành án lẩn tránh nghĩa vụ giải quyết khiếu nại, đồng thời hạn chế tình trạng khiếu nại tràn lan, kéo dài, từng bước đưa công tác khiếu nại, tố cáo vào nề nếp.
Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, mỗi quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên có tính chất khác nhau, thời hạn áp dụng nhanh chậm khác nhau do đó cần quy định thời hiệu khiếu nại phù hợp đảm bảo việc giải quyết khiếu nại, khắc phục hậu quả vi phạm đạt kết quả.
Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 quy định thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên (Điều 59). Việc quy định 01 thời hiệu chung cho các quyết định, hành vi bị khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên là chưa phù hợp thực tế công tác thi hành án.
Khắc phục nhược điểm của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, trên cơ sở tính chất của từng loại quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, khoản 2 Điều 140 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định thời hiệu khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên như sau:
a) Đối với quyết định, hành vi về thi hành án trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;
Các biện pháp bảo đảm gồm:
- Phong tỏa tài khoản;
- Tạm giữ tài sản, giấy tờ;
- Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản.
Các biện pháp cưỡng chế gồm:
- Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
- Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
- Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
- Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
- Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
b) Đối với quyết định về áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định;
Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm khác là 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;
c) Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;
d) Đối với quyết định, hành vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;
Trường hợp do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn thì thời gian trở ngại khách quan, hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn khiếu nại.
Thời hạn khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại là 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền.
1.4. Những trường hợp không thụ lý, giải quyết khiếu nại
Để xác định rõ phạm vi giải quyết khiếu nại, tố cáo, tạo thuận lợi cho quá trình thụ lý đơn khiếu nại, Điều 141 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định cụ thể những trường hợp không thuộc diện thụ lý, giải quyết khiếu nại, bao gồm:
- Quyết định, hành vi bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.
- Người khiếu nại không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Người đại diện không có giấy tờ chứng minh về việc đại diện hợp pháp của mình.
- Thời hiệu khiếu nại đã hết.
- Việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định của điểm b khoản 4 và điểm b khoản 7 Điều 142 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
1.5. Người giải quyết khiếu nại về thi hành án
Điều 142 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại gồm:
- Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện.
- Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.
- Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp
- Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
- Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu.
- Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.
- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì thẩm quyền tổ chức thi hành án là của Chấp hành viên nhưng đối với công tác giải quyết khiếu nại thì thẩm quyền giải quyết khiếu nại thuộc về Thủ trưởng cơ quan thi hành án, cơ quan quản lý thi hành án, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Điều đó thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đồng thời phù hợp với đặc thù của công tác giải quyết khiếu nại là hoạt động xem xét lại quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên trong quá trình thi hành án.
1.5.1. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về thi hành án
Điều 142 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại về thi hành án được xác định theo cấp quản lý hành chính đối với người bị khiếu nại, cụ thể:
- Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện;
- Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh giải quyết đối với các khiếu nại sau đây:
+ Khiếu nại quyết định, hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;
+ Khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện. Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có hiệu lực thi hành.
- Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp giải quyết đối với các khiếu nại sau đây:
+ Khiếu nại quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;
+ Khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh. Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành.
- Bộ trưởng Bộ Tư pháp giải quyết đối với các khiếu nại sau đây:
+ Khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp. Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành.
+ Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
- Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án cấp quân khu.
- Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng giải quyết đối với các khiếu nại sau đây:
+ Khiếu nại quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu;
+ Khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu. Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có hiệu lực thi hành.
- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giải quyết đối với các khiếu nại sau đây:
+ Khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng. Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có hiệu lực thi hành.
+ Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.
1.5.2. Quyền của người giải quyết khiếu nại
Trong mối quan hệ khiếu nại giữa người khiếu nại, người bị khiếu nại và người giải quyết khiếu nại, việc quy định quyền của người giải quyết khiếu nại đảm bảo tính bình đẳng giữa các chủ thể tham gia quan hệ khiếu nại. Khoản 1 Điều 145 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định người giải quyết khiếu nại có các quyền sau:
- Yêu cầu người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cung cấp thông tin tài liệu liên quan đến việc khiếu nại;
- Tam dừng việc thực hiện quyết định , hành vi bị khiếu nại hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tạm ngừng việc thi hành án trong thời gian giải quyết khiếu nại nếu xét thấy việc thi hành án sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại.
1.5.3. Nghĩa vụ của người giải quyết khiếu nại
Việc Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định nghĩa vụ của người giải quyết khiếu nại nhằm nâng cao trách nhiệm của chủ thể này trong quá trình giải quyết khiếu nại, đảm bảo việc giải quyết khiếu nại đúng pháp luật. Khoản 2 Điều 145 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định người giải quyết khiếu nại có các nghĩa vụ sau:
- Tiếp nhận, giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi bị khiếu nại;
- Thông báo bằng văn bản về việc thụ lý để giải quyết, gửi quyết định giải quyết cho người khiếu nại;
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết khiếu nại của mình.
1.6. Thời hạn giải quyết khiếu nại
Thời hạn giải quyết khiếu nại là thời gian người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có trách nhiệm giải quyết các khiếu nại về thi hành án. Việc quy định thời hạn giải quyết khiếu nại trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008 là cần thiết qua đó ràng buộc trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong quá trình giải quyết khiếu nại, ngăn chặn tình trạng lẩn tránh trách nhiệm, ỷ lại kéo dài thời gian giải quyết khiếu nại làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Thời hạn giải quyết khiếu nại theo Điều 146 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được xác định tuỳ theo loại quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, cụ thể:
- Đối với khiếu nại quyết định, hành vi về thi hành án trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, lần hai là 30 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
- Đối với khiếu nại quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
- Đối với khiếu nại quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 30 ngày, lần hai là 45 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
Trong trường hợp cần thiết, đối với những vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.
- Đối với khiếu nại quyết định, hành vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, lần hai là 30 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
1.7. Giải quyết khiếu nại về thi hành án
1.7.1. Hình thức khiếu nại
Trong Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 không quy định cụ thể hình thức khiếu nại, do đó, các cơ quan thi hành án dân sự còn có cách hiểu khác nhau trong quá trình thụ lý, giải quyết khiếu nại.
Điều 147 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định rõ các hình thức khiếu nại sau:
- Đơn khiếu nại được gửi trực tiếp đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại; thông qua đường bưu điện hoặc do cơ quan cấp trên, cơ quan, tổ chức hữu quan, Đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội chuyển đến. Đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; họ tên, địa chỉ, cơ quan, tổ chức, địa chỉ người khiếu nại; họ tên, cơ quan, tổ chức, địa chỉ người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại, lý do khiếu nại và yêu cầu giải quyết. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ hoặc đại diện cơ quan, tổ chức ký tên đóng dấu.
- Người khiếu nại trình bày trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Người có trách nhiệm tiếp nhận việc khiếu nại phải kiểm tra giấy tờ tùy thân và hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn hoặc ghi lại nội dung ngày, tháng, năm khiếu nại; họ tên, cơ quan, tổ chức, địa chỉ người khiếu nại; họ tên, địa chỉ, cơ quan, tổ chức, địa chỉ người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại, lý do khiếu nại và yêu cầu giải quyết, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại.
- Khiếu nại thông qua người đại diện thì người đại diện phải có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diên. Người đại diện phải thực hiện đúng quy định của người khiếu nại.
1.7.2. Thụ lý đơn khiếu nại
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết, người có thẩm quyền giải quyết lần đầu phải thụ lý (vào sổ thụ lý) để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết. Trường hợp người có thẩm quyền không thụ lý đơn khiếu nại để giải quyết thì phải thông báo và nêu rõ lý do (Điều 148 Luật Thi hành án dân sự năm 2008).
1.7.3. Hồ sơ giải quyết khiếu nại
Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 chưa quy định trách nhiệm của các cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình giải quyết khiếu nại về thi hành án phải lập hồ sơ giải quyết khiếu nại, tuy nhiên trên thực tế, trong thời gian qua các cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đều lập hồ sơ đối với từng vụ việc khiếu nại cụ thể. Khắc phục hạn chế này, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (Điều 149) đã quy định việc giải quyết khiếu nại phải được lập hồ sơ. Hồ sơ giải quyết khiếu nại gồm:
- Đơn khiếu nại hoặc văn bản ghi nội dung khiếu nại;
- Các chứng cứ của người khiếu nại cung cấp (quyết định về thi hành án, các tài liệu về hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hoặc của Chấp hành viên);
- Bản sao quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (nếu giải quyết khiếu nại lần thứ 2);
- Văn bản giải trình của người bị khiếu nại;
- Biên bản thẩm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định;
- Quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại;
- Các tài liệu khác có liên quan;
Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải được đánh số bút lục và được lưu giữ theo quy định của pháp luật.
1.7.4. Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại
Trong giải quyết khiếu nại có 02 loại quyết định giải quyết khiếu nại là: quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và quyết định giải quyết khiếu nại lần hai. Với từng loại quyết định giải quyết khiếu nại thì nội dung của quyết định có sự khác nhau sao cho phù hợp với yêu cầu nội dung khiếu nại và phản ánh được quá trình giải quyết khiếu nại. Tại Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 mới chỉ quy định nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại, đến Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (Điều 151 và 153) đã quy định rõ nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và quyết định giải quyết khiếu nại lần hai.
- Đối với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu thì quyết định khiếu nại phải có những nội dung sau:
+ Ngày, tháng, năm ra quyết định;
+ Họ tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại;
+ Nội dung khiếu nại;
+ Kết quả xác minh nội dung khiếu nại;
+ Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại;
+ Kết luận nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần, hoặc sai toàn bộ;
+ Giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc buộc chấm dứt việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại;
+ Việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra;
+ Hướng dẫn quyền khiếu nại lần hai của đương sự.
- Đối với quyết định giải quyết khiếu nại lần thứ hai thì quyết định khiếu nại phải có những nội dung sau:
+ Ngày, tháng, năm ra quyết định;
+ Họ tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại;
+ Nội dung khiếu nại;
+ Kết quả xác minh nội dung khiếu nại;
+ Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại;
+ Kết luận về nội dung khiếu nại và việc giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu;
+ Giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc buộc chấm dứt việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại;
+ Việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra.
1.8. Một số khiếu nại thường gặp
Đối với công tác thi hành án dân sự, các khiếu nại về thi hành án thường gắn chặt với từng loại quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Do đó, nội dung của các khiếu nại về thi hành án rất đa dạng, tuy nhiên, qua thực tế công tác khiếu nại, tố cáo về thi hành án, có thể thấy một số khiếu nại thường gặp như sau:
1.8.1. Khiếu nại về quyết định thi hành án
Thông thường do nhận thức pháp luật hạn chế những người phải thi hành án cho rằng cơ quan thi hành án không có quyền yêu cầu họ phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án hoặc cho rằng họ chưa nhất trí với quyết định của bản án nên đang đề nghị Tòa án và Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, chỉ khi nào Tòa án xét xử giám đốc thẩm thì cơ quan thi hành án mới có quyền thi hành án.
Một số trường hợp cơ quan thi hành án chưa nghiên cứu kỹ, hiểu sai bản án nên ra quyết định thi hành án chưa đúng với nội dung bản án.
Ví dụ: Bản án số 86/DSPT ngày 20/5/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh H xử y án sơ thẩm: Bác yêu cầu của ông Nguyễn Văn A đòi ông Trần Văn T phải trả 1,4 m2 đất (chiều rộng 0,2 m, chiều dài 7 m), trên thực tế ông A đang quản lý số đất này. Thi hành án dân sự huyện H đã ra quyết định thi hành án buộc ông A phải trả lại ông T 1,4 m2 đất, dẫn đến ông A làm đơn khiếu nại bản án không buộc ông phải trả số đất trên.
1.8.2. Khiếu nại không được thông báo các quyết định, giấy tờ về thi hành án
Qua công tác kiểm tra và giải quyết khiếu nại thì thấy rất nhiều Chấp hành viên chỉ tống đạt các quyết định, giấy tờ về thi hành án cho người phải thi hành án, có những trường hợp người phải thi hành án cố tình trốn tránh thì không lập biên bản chặt chẽ dẫn đến việc đương sự khiếu nại không nhận được quyết định giấy tờ về thi hành án.
Ví dụ: Ông M, trú tại Khu tập thể Thủy Tinh, thành phố Hà Nội, là người được thi hành Bản án số ...../DSPT ngày 20/5/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, khiếu nại Chấp hành viên Thi hành án dân sự quận H không tống đạt quyết định thi hành án, giấy báo tự nguyện thi hành cho ông. Ngày 12/9/2007, Trưởng Thi hành án dân sự quận H đã ra Quyết định giải quyết khiếu nại số 32/QĐ-THA chấp nhận khiếu nại của ông M, cơ quan thi hành án đã họp kiểm điểm và yêu cầu Chấp hành viên khắc phục sai sót.
Khiếu nại thường gặp nhất là trường hợp cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản, người phải thi hành án chống đối quyết liệt, không hợp tác với cơ quan thi hành án, vì vậy nếu Chấp hành viên không làm các thủ tục thông báo, tống đạt chặt chẽ rất dẫn đến việc đương sự khiếu kiện.
1.8.3. Khiếu nại việc tổ chức cưỡng chế thi hành án
Đa số các khiếu nại đều xuất phát từ việc cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản của người phải thi hành án để giao cho người được thi hành án hoặc để xử lý thi hành một khoản tiền mà họ có nghĩa vụ thi hành.
Ví dụ: Bà Nguyễn Thị Ng, trú tại tổ 12, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố HP, phải trả cho ông Trần Mạnh H 145.000.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án kể từ ngày ông H có đơn yêu cầu thi hành án, khiếu nại thi hành án dân sự quận Thăng Long cưỡng chế ngôi nhà của bà ở địa chỉ trên để thi hành án, theo bà thì Bản án số 23/DSST ngày 21/8/2007 của Tòa án nhân dân quận Thăng Long chỉ buộc bà phải trả tiền chứ không kê biên nhà của bà. Ngày 11/6/2008, Trưởng Thi hành án dân sự quận Thăng Long đã ra Quyết định giải quyết khiếu nại số 27/QĐGQKN-THA bác đơn khiếu nại của bà Ng.
1.8.4. Khiếu nại quyết định thu phí thi hành án
Trong thời gian gần đây có khá nhiều khiếu nại đối với quyết định thu phí thi hành án gồm: Khiếu nại cho rằng họ thuộc diện không phải nộp phí thi hành án; mức phí mà cơ quan thi hành án buộc họ phải nộp là quá cao vv.. Quy định về phí thi hành án (Thông tư số 43/2006/TTLT-BTC-BTP ngày 19/5/2006 giữa Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp được thay thế bằng Thông tư số 68/2008/TTLT-BTC-BTP ngày 21/7/2008 hướng dẫn chế độ nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án) được ban hành tuy nhiên còn nhiều bất cập nên đã được sửa đổi cho phù hợp nên việc vận dụng còn nhiều bỡ ngỡ. Mặt khác, đương sự lợi dụng quy định về việc rút đơn yêu cầu thi hành án để trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án.
Ví dụ: Bản án số 35/DSST ngày 24/10/2007 của Tòa án nhân dân quận H buộc ông Trần Văn Đ phải trả cho Công ty cổ phần TP 850.000.000 đồng.
Trong quá trình tổ chức thi hành án, ngày 16/3/2008, ông Trần Văn Đ đã tự nguyện thi hành án nộp vào tài khoản của Công ty cổ phần TP 850.000.000 đồng. Ngày 20/3/2008, Công ty cổ phần TP có đơn rút đơn yêu cầu thi hành án. Chấp hành viên phụ trách hồ sơ đã phát hiện Công ty cổ phần TP rút đơn để trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án. Ngày 25/3/2008, Trưởng Thi hành án dân sự quận H ra Quyết định thu phí thi hành án số 12/QĐ-THA, Công ty cổ phần TP có đơn khiếu nại quyết định này. Sau khi xem xét đơn khiếu nại và hồ sơ vụ việc, ngày 13/7/2008, Trưởng Thi hành án dân sự thành phố H đã ra Quyết định giải quyết khiếu nại số 39/QĐGQKN-THA bác đơn khiếu nại của Công ty cổ phần TP
1.8.5. Khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại
Khiếu nại thường gặp đối với thi hành án dân sự cấp tỉnh là việc các đương sự khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại của Trưởng Thi hành án dân sự cấp huyện. Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức chưa đúng của đương sự về các căn cứ để cơ quan thi hành án giải quyết khiếu nại, tuy nhiên cũng có trường hợp đương sự lợi dụng khiếu nại để trì hoãn việc thi hành án.
Ví dụ: Bản án số 123/DSPT ngày 28/9/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh N buộc bà Nguyễn Kim Th phải thanh toán trả cho ông Nguyễn Như M 1.245.000.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án kể từ ngày ông M có đơn yêu cầu thi hành án. Theo đơn yêu cầu thi hành án của ông M, Trưởng Thi hành án dân sự thành phố N đã ra Quyết định thi hành án số 47/QĐ-THA và tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật, bà Th khiếu nại việc cưỡng chế ngôi nhà của bà để thi hành án vì bà đang đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Ngày 20/5/2008 Trưởng Thi hành án dân sự thành phố N đã ra Quyết định giải quyết khiếu nại số 37/QĐGQKN-THA bác đơn khiếu nại của bà Th. Bà Th tiếp tục khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại trên, Ngày 15/7/2008 Trưởng Thi hành án dân sự tỉnh N đã ra Quyết định giải quyết khiếu nại số 37/QĐGQKN-THA bác đơn khiếu nại của bà Th, giữ nguyên Quyết định giải quyết khiếu nại số 37/QĐGQKN-THA ngày 20/5/2008 của Trưởng Thi hành án dân sự thành phố N.
2. TỐ CÁO VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có 6 điều (từ Điều 154 đến Điều 159) quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, tố cáo và giải quyết tố cáo về thi hành án dân sự. Cụ thể như sau:
2.1. Người tố cáo về thi hành án
Theo quy định tại Điều 154 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Như vậy, người tố cáo là công dân không phân biệt người đó là cán bộ, công chức hay người dân bình thường. Việc quy định quyền tố cáo của công dân trước những hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự nhằm tạo cơ hội cho người dân tham gia giám sát hoạt động thi hành án, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Nếu người khiếu nại là đương sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án hay nói cách khác là những người mà quyền lợi của họ bị ảnh hưởng trực tiếp từ quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, thì người tố cáo là bất kỳ công dân nào phát hiện ra hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, công chức khác làm công tác thi hành án dân sự.
Mặt khác, phạm vi của tố cáo về thi hành án rộng hơn so với khiếu nại về thi hành án, công dân có thể tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của không chỉ Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên mà cả đối với hành vi vi phạm pháp luật của công chức khác làm công tác thi hành án dân sự.
2.1.1 Quyền của người tố cáo
Hiện nay, để bảo vệ quyền lợi của những người tố cáo khỏi hành vi đe doạ, trù dập, trong Luật Khiếu nại, tố cáo nói chung, Luật Thi hành án dân sự nói riêng đã quy định những quyền cơ bản của người tố cáo. Theo khoản 1 Điều 155 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì người tố cáo có các quyền sau đây:
- Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
- Yêu cầu giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút danh của mình;
- Yêu cầu được thông báo kết quả tố cáo;
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trù dập, trả thù.
2.1.2 Nghĩa vụ của người tố cáo
Quyền tố cáo được quy định rất rộng, do đó, để hạn chế việc tố cáo tràn lan, lợi dụng tố cáo để xâm hại đến lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, khoản 2 Điều 155 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định cụ thể nghĩa vụ của người tố cáo, bao gồm:
- Trình bày trung thực, cung cấp tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo;
- Nêu rõ họ tên, địa chỉ của mình;
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật.
2.2. Người bị tố cáo về thi hành án
Người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, công dân.
2.2.1. Quyền của người bị tố cáo
Trong quá trình giải quyết tố cáo, để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo, khoản 1 Điều 156 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định cụ thể những quyền của người bị tố cáo, bao gồm:
- Được thông báo về nội dung tố cáo;
- Đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật;
- Được khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; được phục hồi danh dự; được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây ra;
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người tố cáo sai sự thật.
2.2.2. Nghĩa vụ của người bị tố cáo
Theo khoản 2 Điều 156 thì người bị tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
- Giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;
- Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
- Bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật gây ra theo quy định của pháp luật.
2.3. Người giải quyết tố cáo về thi hành án
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp trên trực tiếp hoặc Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có trách nhiệm giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp quân khu thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có trách nhiệm giải quyết.
Như vậy, theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 157 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì người có thẩm quyền giải quyết tố cáo gồm: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Đối với trường hợp tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, công chức khác làm công tác thi hành án có dấu hiệu phạm tội, thì việc giải quyết được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
2.3.1. Thẩm quyền giải quyết tố cáo
- Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện giải quyết tố cáo đối với hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện;
- Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh giải quyết đối với các tố cáo sau đây:
+ Tố cáo hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;
+ Tố cáo hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện;
- Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp giải quyết đối với các tố cáo sau đây:
+ Tố cáo hành vi trái pháp luật của công chức thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp;
+ Tố cáo hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;
- Bộ trưởng Bộ Tư pháp giải quyết đối với tố cáo hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
- Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu giải quyết tố cáo đối với hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên, quân nhân làm công tác thi hành án thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án cấp quân khu.
- Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng giải quyết đối với các tố cáo sau đây:
+ Tố cáo hành vi trái pháp luật của quân nhân thuộc quyền quản lý của cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng;
+ Tố cáo hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu;
- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giải quyết tố cáo đối với hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng;
2.3.2. Thời hạn giải quyết tố cáo
Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với các vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá 90 ngày.
2.3.3. Trách nhiệm của người giải quyết tố cáo
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể sảy ra; đảm bảo cho quyết định giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
Người có trách nhiệm giải quyết tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2.4. Giải quyết tố cáo
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 không quy định cụ thể thủ tục giải quyết tố cáo mà quy định dẫn chiếu áp dụng theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo. Khoản 4 Điều 157 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định “Thủ tục giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo”, theo đó, thủ tục giải quyết tố cáo được quy định từ Điều 65 đến Điều 73 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998.
2.4.1. Đơn tố cáo
Người tố cáo phải gửi đơn đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Đơn tố cáo phải ghi rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, nội dung tố cáo.
Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người có trách nhiệm tiếp nhận phải ghi lại nội dung tố cáo, họ tên, địa chỉ của người tố cáo và có chữ ký của người tố cáo, khi cần thiết thì ghi âm lời tố cáo. Bản ghi nội dung lời tố cáo phải cho người tố cáo đọc lại, nghe lại và ký xác nhận.
2.4.2. Thụ lý đơn tố cáo
Chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày nhận được tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo phải thụ lý để giải quyết.
Trường hợp tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải chuyển cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo khi họ yêu cầu. Chậm nhất trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được tố cáo, cơ quan, cá nhân tiếp nhận phải chuyển đơn tố cáo hoặc bản ghi lời tố cáo và các tài liệu, chứng cứ liên quan (nếu có) cho người có thẩm quyền giải quyết.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo phải báo ngay cho cơ quan có trách nhiệm để áp dụng các biện pháp ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật; áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn cho người tố cáo khi họ yêu cầu. Đây là quy định nhằm bảo vệ an toàn cho các lợi ích của nhà nước, cơ quan, tổ chức và công dân không bị xâm phạm bởi hành vi vi phạm.
Trường hợp tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ, không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký hoặc những tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới thì không xem xét, giải quyết.
Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm làm giấy biên nhận, có chữ ký của người tiếp nhận và người cung cấp khi tiếp nhận thông tin, tài liệu do người tố cáo, người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp.
2.4.3. Xác minh giải quyết tố cáo
Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo hoặc Thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ xác minh phải ra quyết định về việc tiến hành kiểm tra, xác minh nội dung tố cáo. Trong quyết định phải ghi rõ người được giao nhiệm vụ xác minh, nội dung xác minh, thời gian tiến hành xác minh, quyền hạn và trách nhiệm của người được giao nhiệm vụ xác minh.
Trong quá trình xác minh, người được giao nhiệm vụ xác minh phải tạo điều kiện để người tố cáo giải trình, đưa ra các bằng chứng để chứng minh tính đúng, sai của nội dung tố cáo. Mặt khác, người giải quyết tố cáo có các quyền và nghĩa vụ sau:
- Bảo đảm khách quan, trung thực, đúng pháp luật trong việc giải quyết tố cáo.
- Yêu cầu người tố cáo cung cấp bằng chứng, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo.
- Yêu cầu người tố cáo giải trình bằng văn bản về hành vi bị tố cáo.
- Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo.
- Trưng cầu giám định, tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật.
Việc thu thập tài liệu, chứng cứ trong quá trình xác minh, giải quyết tố cáo phải được ghi chép thành văn bản và lưu vào hồ sơ giải quyết tố cáo.
Sau khi kết thúc việc xác minh, người được giao nhiệm vụ xác minh phải có văn bản kết luận về nội dung tố cáo và phải có những chứng cứ để chứng minh cho kết luận của mình.
2.4.4. Hồ sơ giải quyết tố cáo
Việc giải quyết tố cáo phải được lập thành hồ sơ. Hồ sơ giải quyết tố cáo gồm:
- Đơn tố cáo hoặc bản ghi lời tố cáo.
- Biên bản xác minh, kết quả giám định, tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết.
- Văn bản giải trình của người bị tố cáo.
- Kết luận về nội dung tố cáo, văn bản kiến nghị biện pháp xử lý.
- Quyết định xử lý.
- Các tài liệu khác có liên quan.
Hồ sơ giải quyết tố cáo phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và được lưu giữ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu thì hồ sơ được chuyển cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.
3. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự
Trước đây, trong Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 chưa có quy định về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định việc kiểm sát đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự. Theo Điều 159 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp luật.
Phần thứ ba
QUY ĐỊNH VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ; KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
Pháp luật về thi hành án dân sự ở một số quốc gia trên thế giới quy định về cưỡng chế thi hành án dân sự; khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại tố cáo có một số nội dung cơ bản sau đây:
I. VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Cưỡng chế thi hành án là vấn đề quan trọng nhất trong pháp luật về thi hành án dân sự, thể hiện ý chí và quyền lực nhà nước trong việc tổ chức thi hành án. Tuy nhiên, cưỡng chế là biện pháp chỉ thực hiện khi các đương sự không tự nguyện thi hành án, do đó các nước có những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục để thực hiện cưỡng chế thi hành án.
1. Cộng hòa Pháp
Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự gồm có: Kê biên thanh toán nợ; Kê biên tiền lương, tiền công; Kê biên và bán các tài sản là động sản của người mắc nợ đang do người thứ ba giữ; Phong toả động sản; Các biện pháp thi hành án đối với các phương tiện cơ giới đường bộ; Kê biên các tài sản vô hình; Cưỡng chế trả nhà.
Pháp luật quy định mọi tài sản của người mắc nợ đều có thể bị kê biên ngay cả khi tài sản đó do người thứ ba giữ. Các biện pháp cưỡng chế chủ yếu là: kê biên thanh toán nợ (mọi chủ nợ có trong tay một văn bản có hiệu lực thi hành ghi nhận một khoản nợ bằng tiền mặt có thể đòi được đều có thể, nhằm thu hồi tiền nợ, kê biên những khoản nợ mà người thứ ba nợ con nợ theo những quy định riêng về tiền lương trong Bộ luật lao động); kê biên tiền lương căn cứ vào định mức có thể kê biên tiền công, lương, tổng số nợ và lãi suất con nợ theo yêu cầu của chủ nợ hoặc người mắc nợ; Khi các tài sản bị kê biên do người thứ ba giữ và hiện đang ở trong nhà người này thì việc kê biên chỉ được tiến hành khi có lệnh của Thẩm phán thi hành án; Phong tỏa động sản (tức là việc thừa phát lại cho phong tỏa các động sản mà người mắc nợ phải giao hoặc trả lại cho chủ nợ theo quyết định thi hành án, trừ khi người mắc nợ tự nguyện vận chuyển động sản này và chịu mọi chi phí); Các biện pháp thi hành án đối với các phương tiện cơ giới đường bộ: Thừa phát lại có thể báo cho cơ quan quản lý và đăng ký xe cơ giới đường bộ của tỉnh, việc tống đạt thông báo này cho người mắc nợ có giá trị như việc kê biên.
Đối với việc cưỡng chế trả nhà, pháp luật của Pháp quy định trừ trường hợp có quy định đặc biệt việc trục xuất hoặc cưỡng chế ra khỏi một toà nhà, một nơi ở chỉ được tiến hành nếu có quyết định của Tòa án hoặc trên cơ sở một biên bản hòa giải có hiệu lực thi hành, sau khi đã có lệnh tống đạt giải tỏa nhà. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định các tài sản không được kê biên như: thực phẩm, tiền trợ cấp nuôi dưỡng, trừ khoản tiền mà bên kê biên trả để cấp dưỡng cho bên bị kê biên; Các tài sản có thể định đoạt được nhưng được người viết di chúc hoặc người tặng cho tuyên bố không thể kê biên, hoặc là theo sự cho phép của thẩm phán và trong một tỷ lệ do thẩm phán quyết định, được các chủ nợ sau này khi đã quyết định tặng cho hoặc mở thừa kế mà không thể kê biên như động sản cần thiết cho cuộc sống, công ăn việc làm của người bị kê biên và gia đình họ, nếu như không phải để chi trả cho động sản đó trong chừng mực mà sắc lệnh của Tổng thống cho phép, tuy nhiên những động sản đó vẫn có thể bị tịch biên nếu nằm ngoài nơi cư trú và nơi làm việc thường xuyên của con nợ, nếu đó là tài sản có giá trị như tài sản quý, hiếm, cổ hay xa xỉ, hoặc là tài sản có số lượng lớn vượt quá nhu cầu cần thiết; những động sản hữu hình của nghiệp sản thương mại; Vật dụng cần thiết của người tàn tật hay dùng để chăm sóc người ốm…
Việc bắt giữ tàu biển để thi hành án là một trong những biện pháp bảo đảm thi hành án. Sau khi có bản án, quyết định của Toà án buộc bên phải thi hành án phải thanh toán tiền mặt hoặc tài sản cho bên được thi hành án, thì Thẩm phán Toà án có thể ra quyết định bắt giữ tàu biển để bán.
2. Cộng hòa liên bang Đức
Để cưỡng chế thi hành án cần phải có ba điều kiện: Phải có văn bằng xác nhận quyền yêu cầu được đưa ra thi hành; Phải có quy định về điều khoản thi hành; Phải được thực hiện việc tống đạt. Đối với người cố tình không thi hành án, Chấp hành viên có quyền yêu cầu cảnh sát áp giải đương sự theo giấy triệu tập đến cơ quan thi hành án nếu đương sự cố tình trốn tránh được báo gọi nhiều lần không đến. Ngoài ra, theo pháp luật Đức, trường hợp đương sự không có tài sản gì để thi hành án thì chủ nợ được quyền yêu cầu Toà thi hành án triệu tập con nợ đến toà để buộc họ phải tuyên thệ về việc không có tài sản để thi hành án. Nếu con nợ không chịu tuyên thệ thì chủ nợ có quyền yêu cầu Tòa án bắt giam cho đến khi con nợ đồng ý tuyên thệ, nếu không sẽ bị giam giữ kéo dài (tối đa 6 tháng một lần) và mọi chi phí trong thời gian giam giữ do chủ nợ chịu. Ở Đức các danh sách con nợ không có khả năng trả nợ được lập và lưu giữ tại Tòa án để mọi người đều có thể xem được, nhất là những người đang có ý định thực hiện giao dịch với một đối tác cụ thể để tìm hiểu xem đối tác của mình có tên trong danh sách các con nợ hay không. Điều này tạo nên tâm lý buộc con nợ phải cố gắng thi hành. Gần đây, Đức ban hành luật giải quyết việc mất khả năng thanh toán của con nợ, luật này không chỉ áp dụng cho doanh nghiệp mà còn áp dụng cho cá nhân (hay là trường hợp mất khả năng thanh toán của người tiêu dùng). Theo Luật này, con nợ là người tiêu dùng chỉ phải trả nợ trong vòng 7 năm, trong vòng 7 năm đó, mọi thu nhập của họ đều được dùng để trả nợ, trừ phần được giữ lại để đáp ứng nhu cầu cần thiết của bản thân. Sau 7 năm, nếu số nợ vẫn chưa trả hết thì con nợ được xoá nợ.
3. Thuỵ Điển
Thi hành án dân sự Thuỵ Điển bao gồm cả thi hành dân sự, thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp và thi hành về thuế.
Ngoài việc thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án, ở Thuỵ Điển còn có thủ tục thi hành án giản lược. Theo thủ tục này, Cơ quan thi hành án được phép đưa ra thi hành những văn bản có giá trị thi hành là giấy tờ mà trong đó những quyền pháp lý được quy định rõ ràng theo Luật Thi hành án. Đối với những văn bản này, Cơ quan thi hành án có thể ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án giản lược trả nợ theo yêu cầu của chủ nợ khi đến hạn thanh toán nợ mà con nợ không thanh toán. Nếu bên con nợ phủ nhận nợ thì có thể đệ đơn yêu cầu Toà án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Các biện pháp cưỡng chế có thể áp dụng là: Kê biên tài sản; Trừ lương hoặc tiền công của con nợ; Đuổi người thuê nhà ra khỏi nhà cho thuê; Phá dỡ các công trình xây dựng; Can thiệp vào việc thực hiện các hợp đồng; Khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản bị xâm chiếm; Một số biện pháp mang tính chất cảnh báo đối với những hành vi chống đối của con nợ và người có liên quan.
Chấp hành viên có quyền áp dụng biện pháp phạt tiền. Nếu Chấp hành viên đã phạt tiền mà con nợ vẫn không đến thì Cơ quan thi hành án có quyền yêu cầu cảnh sát bắt. Cơ quan thi hành án cũng có quyền yêu cầu cảnh sát tạm giữ con nợ, khi con nợ cố tình trì hoãn không lập danh sách kê khai tài sản của mình theo yêu cầu của Cơ quan thi hành án.
Đối với việc cưỡng chế trả nhà, Chấp hành viên thông báo cho người đang thuê nhà biết việc họ sẽ bị đuổi ra khỏi nhà cho thuê nếu họ cố tình không trả tiền thuê, sau đó, Cơ quan thi hành án sẽ giao ngôi nhà mà con nợ đang thuê cho chủ nhà.
4. Bang California (Hoa Kỳ)
Cơ quan thi hành án dân sự được tổ chức theo đơn vị hành chính quận, hạt. Cơ quan thi hành án chịu trách nhiệm thi hành các bản án của Toà án ở Bang mình và các bản án do Toà án ở các Bang khác uỷ thác.
Cách thức cưỡng chế thi hành mà Chấp hành viên có thể lựa chọn là: Phong toả tài khoản tại ngân hàng; Phong toả các tài sản mà con nợ được nhận; Khấu trừ lương, tài sản do người thứ ba giữ; Kê biên các động sản; Kê biên và bán bất động sản; Thanh lý thiết bị kinh doanh hoặc tài sản khác; Tịch biên, thu giữ các lợi nhuận mà con nợ được hưởng; Thu hồi quyền sở hữu bất động sản hoặc tài sản hữu hình khác.
Theo đề nghị của người phải thi hành án, căn cứ vào mức sinh hoạt chung, Toà án sẽ xem xét, quyết định những tài sản cần thiết để lại cho người phải thi hành án và không kê biên những tài sản đó.
Quá trình thi hành án có một số ngoại lệ đối với con nợ trong trường hợp nếu: Con nợ bị tuyên bố phá sản sẽ được miễn trừ, nếu con nợ là doanh nghiệp; Chỉ được thu hồi tài sản của con nợ tính đến thời điểm phá sản; Trong trường hợp con nợ chỉ có một chỗ ở duy nhất, nếu kê biên bán nhà để thi hành án thì phải để lại cho gia đình người phải thi hành án khoản tiền nhất định; Khoản tiền cấp dưỡng nuôi con, tiền con nợ nhận được từ Toà án được miễn khấu trừ; Tài sản, lợi ích, lợi nhuận thuộc quyền sở hữu của bên thứ ba; Các công cụ, phương tiện làm việc của người phải thi hành án được giới hạn phải để cho người phải thi hành án và một số ngoại lệ khác.
5. Cộng hoà Liên bang Nga
Theo quy định của Bộ luật tố tụng Cộng hoà Liên bang Nga, thì Toà án đảm nhiệm việc thi hành án dân sự. Chấp hành viên là người thi hành các bản án, quyết định của Toà án. Bản án được Chấp hành viên của Toà án nơi cư trú hoặc nơi làm việc của con nợ hoặc nơi người đó có tài sản thi hành. Trong những trường hợp cần thiết, Chấp hành viên có thể tiếp tục hoạt động của mình bên ngoài địa phận của mình nhưng ở ranh giới một thành phố hoặc vùng. Nếu con nợ đến vùng thuộc Toà án khác mà Chấp hành viên biết rõ địa chỉ, thì Chấp hành viên gửi giấy thi hành án đến Toà án nơi mà con nợ cư trú và thông báo cho người được thi hành án.
6. Singapore
Việc tổ chức thi hành án dân sự ở Singapore do Toà án đảm nhiệm. Các nhân viên thi hành án thuộc Bộ phận thi hành án của Toà án vừa có nhiệm vụ thi hành án, vừa có nhiệm vụ tống đạt giấy tờ, thực hiện các lệnh bắt giữ.
Khi có bản án, người được thi hành án đến gặp người phải thi hành án để xem xét khả năng thi hành án của họ và yêu cầu họ phải thi hành. Nếu người phải thi hành án không thi hành, người được thi hành án muốn được thi hành phải có đơn yêu cầu thi hành án gửi Toà án.
Các biện pháp cưỡng chế được thể hiện bằng các lệnh của Toà án: Lệnh tịch thu tài sản; Lệnh tịch thu các thu nhập của người phải thi hành án; Lệnh trục xuất người phải thi hành án ra khỏi nhà; Lệnh tháo dỡ nhà.
Đối với việc thi hành bản án trả nhà, nhân viên thi hành án ấn định ngày người phải thi hành án phải trả lại nhà cho người được thi hành án và nói rõ nếu không sẽ tiến hành cưỡng chế. Trường hợp người phải thi hành án cố tình dây dưa không trả nhà, nhân viên thi hành án yêu cầu cảnh sát đi cùng để đưa người phải thi hành án và đồ đạc của họ ra ngoài, trả lại nhà cho người được thi hành án.
Trong trường hợp người phải thi hành án là cá nhân thực sự không có tài sản để thi hành thì có thể làm đơn yêu cầu Toà án ra quyết định tuyên bố phá sản. Nếu được Toà án tuyên bố phá sản, thì hoạt động thi hành án đối với họ chấm dứt.
7. Thái Lan
Tổ chức cơ quan thi hành án ở Thái Lan bao gồm: Ban thư ký, ban tài chính, ban thi hành án dân sự, ban thực hiện dịch vụ theo chỉ định các vụ phá sản; trung tâm nhận giữ tài sản, ban kế toán thi hành án và nhận giữ tài sản của các khu vực và tỉnh, thành. Tổ chức các cơ quan thi hành án Thái Lan chưa được thống nhất, chặt chẽ trong toàn quốc. Ở một số tỉnh, công tác thi hành án vẫn do Lục sự của Toà án đảm nhiệm. Chức năng của Cơ quan thi hành án chủ yếu là thi hành các bản án, quyết định của Toà án về dân sự và phá sản. Chấp hành viên được giao trách nhiệm thi hành đúng nội dung bản án của Toà án và được quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thi hành án.
Khi nhận được đơn đề nghị ra lệnh thi hành án của người được thi hành án, Toà án ra một lệnh gọi là: " Lệnh thi hành án" và gửi Lệnh này cho Chấp hành viên do Toà án chỉ định để tổ chức thi hành. Trong Lệnh này, Toà án phải nói rõ những việc phải làm để Chấp hành viên căn cứ vào đó thi hành.
8. Trung Quốc
Toà án đảm nhiệm việc thi hành án dân sự. Bản án, quyết định dân sự và phần tài sản trong bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật do Toà án nhân dân sơ thẩm thi hành. Những bản án, quyết định mà luật pháp quy định là do Toà án nhân dân thi hành sẽ do Toà án nhân dân nơi người phải thi hành án cư trú hoặc nơi có tài sản của người phải thi hành án thi hành. Công tác thi hành án do Thi hành viên tiến hành. Căn cứ vào yêu cầu thực tế, Toà án nhân dân cơ sở, Toà án nhân dân trung cấp có thể lập Cơ quan thi hành án. Chức trách của Cơ quan thi hành án sẽ do Toà án nhân dân tối cao quy định trong quá trình thi hành án, Thi hành viên thông báo cho người phải thi hành và ra lệnh cho người đó phải thi hành trong thời gian chỉ định, quá hạn không thi hành thì cưỡng chế thi hành.
9. Philippines
Nếu bản án của Toà án là chung thẩm hoặc thời hạn kháng cáo đã hết thì có thể coi bản án đã sang giai đoạn thi hành án. Lúc đó, Toà án không có quyền từ chối ra quyết định thi hành trừ một số trường hợp như: Xuất hiện các trường hợp hoặc tình huống làm cho việc thi hành án trở nên không hợp lý hoặc không thể thực hiện được; nếu có sự thay đổi từ phía đương sự làm cho việc thi hành trở nên không công bằng.
Quyết định thi hành án chỉ có hiệu lực khi nội dung hoàn toàn tuân thủ bản án, không làm thay đổi nội dung của bản án. Thời hạn ra quyết định thi hành án là 60 ngày.
Toà án có trách nhiệm thi hành án theo đúng thủ tục do pháp luật quy định, có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết để bảo đảm việc thi hành án dân sự đạt kết quả.
II. VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Pháp luật nhiều nước quy định việc giải quyết khiếu nại, khiếu kiện phát sinh trong quá trình thi hành án do Tòa thi hành án giải quyết. Cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên phải tuân thủ các phán quyết này, ngay cả các phán quyết về thủ tục thi hành án.
1. Pháp
Nếu đương sự khiếu nại đến Tòa án về một biện pháp kê biên của Thừa phát lại và phán quyết của Thẩm phán thi hành án cho rằng không cần thiết áp dụng biện pháp cưỡng chế trên thì thừa phát lại buộc phải hủy bỏ biện pháp kê biên đó.
2. Bang California (Hoa Kỳ)
Pháp luật quy định Tòa án sơ thẩm có thẩm quyền giải quyết khiếu nại và quyết định biện pháp xử lý trong trường hợp Chấp hành viên có sai phạm sau khi thi hành; Giải quyết khiếu nại trong việc phân chia tiền bán tài sản, phân chia tiền thu được của người phải thi hành án; giải quyết khiếu nại của người thứ ba về lợi ích của tài sản đối với đối tượng phải thi hành án; giải quyết khiếu nại về việc chiếm giữ tài sản của người không phải là con nợ; quyết định tạm dừng thi hành án để kháng cáo hoặc trong trường hợp bảo lãnh./.
[1] Báo cáo kết quả công tác năm 2006, phương hướng nhiệm vụ năm 2007, Báo cáo kết quả công tác năm 2007, phương hướng nhiệm vụ năm 2008 và Báo cáo kết quả công tác năm 2008, phương hướng nhiệm vụ năm 2009 của Cục Thi hành án dân sự.
[2] Theo Báo cáo công tác thi hành án của Chính phủ các năm 2006, 2007 và 2008.