ĐẶC SAN TUYÊN TRUYỀN VỀ LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC

PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ




 

 

 

 

 

 

 

 


ĐẶC SAN

TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT

 

 

 

 

CHỦ ĐỀ  

LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HÀ NỘI - NĂM 2010


Phần thứ nhất

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

I.             KHÁI NIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI, TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC; BẢN CHẤT, Ý NGHĨA CỦA CHẾ ĐỊNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

1.      Khái niệm bồi thường

Trong thực tiễn hình thành và phát triển của xã hội, hành vi gây thiệt hại thì phải bồi thường là chân lý cốt yếu nếu bên bị xâm phạm và bị thiệt hại là lợi ích được cộng đồng, nhà nước bảo vệ. Do vậy, bồi thường (hay bồi thường thiệt hại) là một trong những chế định pháp lý xuất hiện sớm trong lịch sử pháp luật dân sự. Trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, ở những quốc gia khác nhau thì việc bồi thường thiệt hại được quy định khác nhau về chủ thể, điều kiện, mức, hình thức và phương thức bồi thường. Có thể khái quát quá trình hoàn thiện chế định bồi thường thiệt hại trải qua 3 giai đoạn sau:

-   Giai đoạn thứ nhất: Thời kỳ cổ đại, khi chính quyền nhà nước mới hình thành, tổ chức bộ máy nhà nước chưa vững chãi, việc quản lý xã hội còn lỏng lẻo thì mỗi cá nhân nếu bị xâm phạm quyền lợi sẽ được tự ý trả thù để trừng phạt đối phương, họ có thể bắt đối phương làm nô lệ, lấy tài sản, bắt vợ con… Chế độ này còn được gọi là chế độ tư nhân phục thù.

-   Giai đoạn thứ hai: Thời kỳ trung đại, chính quyền nhà nước đã được tổ chức chặt chẽ, bộ máy cai trị đã hoàn thiện, các chế định pháp luật được xây dựng cơ bản. Trách nhiệm tài sản trong bồi thường đã được quy định cụ thể ở giai đoạn này. Một người gây thiệt hại cho người khác, việc bồi thường có thể thực hiện bằng việc nộp một số tiền, kim loại có giá (vàng, bạc, kim cương, châu ngọc...) để chuộc lỗi, tránh bị nạn nhân kiện cáo, trả thù. Trong thời kỳ này, nếu như các bên tự thoả thuận được với nhau về tiền chuộc khi chưa có sự can thiệp của pháp luật thì đó là chuộc lỗi tự nguyện; nếu các bên không thoả thuận được về tiền chuộc thì một bên hoặc cả hai bên có quyền nhờ sự can thiệp của chính quyền, lúc này các bên phải giải quyết tranh chấp bằng cách trả cho nhau số tiền chuộc lỗi theo phán quyết của quan toà, đó là chế độ thục kim bắt buộc. Tiền thục kim này có thể coi như vừa là một hình phạt, vừa có tính chất bồi thường thiệt hại.

-   Giai đoạn thứ ba: Thời kỳ hiện đại, bộ máy nhà nước cũng như các chế định pháp luật đã hoàn thiện, đồng bộ, có sự phân biệt rạch ròi về trách nhiệm hình sự, dân sự, hành chính,…Chính quyền quản lý xã hội bằng luật pháp, cá nhân mất hết quyền phục thù và chỉ còn quyền xin bồi thường tổn hại của mình về dân sự theo quy định của pháp luật. Chủ thể có trách nhiệm bồi thường đã được mở rộng cho tất cả các chủ thể, trong đó trách nhiệm bồi thường của nhà nước chính quyền đã được đặt ra.

Như vậy, dù bồi thường thiệt hại được quy định dưới góc độ nào, phạm vi nào cũng có thể hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự phát sinh khi có hành vi xâm phạm các lợi ích được pháp luật dân sự bảo vệ (tính mạng, sức khoẻ, tài sản…) và gây thiệt hại. Theo đó, người gây thiệt hại phải bồi thường những tổn thất về vật chất và tinh thần cho người bị xâm phạm lợi ích được pháp luật dân sự bảo vệ. Bồi thường thiệt hại là một loại quan hệ dân sự phát sinh do lỗi cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức thì người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.

Bồi thường thiệt hại là trách nhiệm dân sự của người gây thiệt hại. Tuy nhiên, theo thông lệ pháp luật quốc tế và pháp luật dân sự của Việt Nam, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có các điều kiện cần và đủ sau:

-         Có thiệt hại thực tế xảy ra;

-         Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật;

-         Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại;

-         Có lỗi của người gây thiệt hại.

Trong thực tiễn dân sự, có nhiều hình thức và nội dung gây thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Cách phân loại phổ biến nhất được chia thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

+ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự mà một bên trong quan hệ hợp đồng có hành vi vi phạm nghĩa vụ đã quy định hợp đồng (không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng) gây ra thiệt hại cho bên kia thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.

+ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự mà khi một người có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra (giữa họ không tồn tại mối quan hệ hợp đồng).

Hiện nay, pháp luật của nhiều nước (trong đó có Việt Nam) đã quy định cụ thể trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì cũng có một cách phân loại khác căn cứ vào đặc thù của người có hành vi gây thiệt hại, chủ thể bồi thường và tài sản dùng để bồi thường, có thể phân thành hai loại:

+ Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

+ Trách nhiệm bồi thường của các chủ thể dân sự khác.

2.      Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được đặt ra khi xã hội loài người đã đạt được những thành tựu kinh tế, khoa học kỹ thuật, xã hội bước vào thời kỳ văn minh, dân chủ, lúc này Nhà nước được xem là một chủ thể trong mối quan hệ xã hội.

Ở thời kỳ cổ đại (chế độ chiếm hữu nô lệ), Hoàng Đế là người đứng đầu cai trị quốc gia, Hoàng Đế đặt ra luật pháp để cai trị xã hội. Xã hội phân chia thành hai giai cấp rõ rệt là chủ nô và nô lệ. Các nô lệ thuộc sở hữu của chủ nô, như một thứ tài sản trong tay chủ nô. Nô lệ là người tạo ra của cải vật chất cho xã hội nhưng họ không có bất kỳ quyền lợi nào, họ phụ thuộc hoàn toàn vào chủ nô. Chủ nô có quyền quyết định bán, trao đổi, thậm chí quyết định cả tính mạng của nô lệ mà không ai được can thiệp. Do vậy trong chế độ này không tồn tại quan hệ bồi thường giữa chủ nô với nô lệ, thì càng không thể có sự bồi thường từ Hoàng Đế cho nô lệ khi Hoàng Đế ra phán quyết sai.

Ở thời kỳ trung đại (chế độ phong kiến), Nhà Vua là tối thượng, mọi quyền hành tập trung trong tay vua, nhà nước theo chế độ quân chủ lập hiến“quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” nghĩa là vua bắt bề tôi chết mà bề tôi không chết là bất trung”“hình phạt không đến trượng phu”, như vậy, trong chế độ này cũng không tồn tại quan hệ bồi thường giữa nhà vua với thần dân.

Trong xã hội dân chủ, cùng với sự phát triển vượt bậc về kinh tế - xã hội thì quyền con người đã được quan tâm. Nhà nước pháp quyền là nhà nước phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình. Trong quan hệ xã hội nhà nước được xem là một chủ thể, trước pháp luật nhà nước bình đẳng với các cá nhân, tổ chức khác trên cơ sở tôn trọng các quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự nên khi nhà nước làm sai, gây thiệt hại cho chủ thể dân sự khác thì nhà nước phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại đó.

Bồi thường của nhà nước là việc nhà nước chịu trách nhiệm bồi thường cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần do lỗi của người thi hành công vụ gây ra trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được nhà nước giao.

Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một trách nhiệm pháp lý. Theo đó, Nhà nước phải bồi thường cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức gây ra trong khi thi hành công vụ.

Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mang hai đặc điểm cơ bản:

+ Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là trách nhiệm thay thế (Nhà nước phải gánh chịu trách nhiệm bồi thường khi cán bộ, công chức gây thiệt hại);

+ Cán bộ, công chức khi thi hành công vụ có lỗi mà gây thiệt hại thì có nghĩa vụ hoàn trả một phần tiền bồi thường thiệt hại cho Nhà nước.

Với những đặc điểm trên, nhiều nước trên thế giới đã ban hành các văn bản pháp luật riêng biệt về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cho phù hợp với đặc thù về chủ thể bồi thường, cơ chế bồi thường, thủ tục bồi thường, quan hệ giữa người gây thiệt hại với Nhà nước.

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 của nước ta quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với các thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong ba lĩnh vực hoạt động chủ yếu của nhà nước là quản lý hành chính, tố tụng (tố tụng hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hình sự) và thi hành án.

3.      Bản chất, ý nghĩa của chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

a, Bản chất của chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Nhà nước là một chủ thể của quyền lực công, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, mọi công dân phải tuân theo pháp luật của nước mình (pháp luật do nhà nước đặt ra). Như vậy, quan hệ giữa nhà nước với công dân là mối quan hệ “mệnh lệnh - phục tùng”, mối quan hệ này được điều chỉnh bởi hệ thống luật công. Tuy nhiên, một nguyên tắc không thể phủ nhận, trong nhà nước dân chủ pháp quyền và xã hội dân sự: khi một người xâm phạm một cách vô lý và gây ra những thiệt hại về tài sản cũng như thân thể và danh dự của người khác thì người có hành vi xâm hại đó phải bù đắp những tổn thất mà mình đã gây ra cho người bị hại. Xét trên góc độ pháp lý thì đó là sự công bằng, là quyền được bồi thường của người bị thiệt hại, không phân biệt người gây thiệt hại là ai, kể cả là nhà nước trong mối quan hệ giữa nhà nước với công dân.

Cơ chế bồi thường Nhà nước được quy định trên nguyên tắc và bản chất bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự (người bị thiệt hại có thể yêu cầu bồi thường hoặc không yêu cầu bồi thường, việc yêu cầu bồi thường về nguyên tắc không được cao hơn thiệt hại thực tế xảy ra). Việc xác định mức độ thiệt hại cũng như mức bồi thường đều mang bản chất của quan hệ dân sự, tức là bình đẳng và thực tế, trên cơ sở thương lượng, thoả thuận, bình đẳng giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại. Như vậy, bản chất của quan hệ giữa nhà nước và công dân là mối quan hệ công, nhưng nếu nhà nước gây thiệt hại cho công dân thì nhà nước phải bồi thường và việc giải quyết quan hệ bồi thường thiệt hại phát sinh từ quan hệ công này lại mang bản chất của mối quan hệ dân sự (quan hệ tư). Trong trường hợp này nhà nước đóng vai trò như một chủ thể của quan hệ tư, không có quyền lực hành chính mà chỉ là một chủ thể dân sự bình đẳng với bên bị thiệt hại trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại.

Như vậy, cơ sở của chế định bồi thường nhà nước chính là dựa trên các quyền của công dân, các quyền này được pháp luật ghi nhận, bảo hộ và được bảo đảm thực hiện bởi nhà nước. Hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức nhà nước khi thi hành công vụ mà gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân thì trước hết Nhà nước với tư cách là người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại.

Mặc dù thiệt hại do cá nhân người thi hành công vụ gây ra, nhưng trách nhiệm bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước. Tiền bồi thường được lấy từ ngân sách nhà nước, mà ngân sách nhà nước là do người dân đóng góp. Nếu Nhà nước lấy tiền của dân để bồi thường cho dân thì chẳng có ý nghĩa gì, do vậy, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định người thi hành công vụ có lỗi gây ra thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

b, Ý nghĩa của chế định trách nhiệm bồi thường của nhà nước

- Trách nhiệm bồi thường của nhà nước là “sản phẩm” tất yếu của xã hội dân chủ, công bằng và văn minh, xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Một trong những nguyên tắc quan trọng của pháp quyền là nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Nhà nước cũng như một tổ chức hay một công dân và đều là một chủ thể trong quan hệ pháp luật (nhà nước là một chủ thể pháp lý công), mọi hoạt động của nhà nước phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền được bồi thường khi bị xâm phạm là quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật. Rõ ràng việc yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại là một quyền cơ bản của chủ thể dân sự ngoài Nhà nước. Ngoài ra, trong Nhà nước pháp quyền, mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật, nhà nước cũng thực hiện các hành vi pháp lý và có khả năng gây thiệt hại cho các chủ thể khác khi hành xử trái pháp luật hoặc vượt quá thẩm quyền. Và khi có hành vi gây thiệt hại cho các chủ thể khác, thì nhà nước cũng có nghĩa vụ bồi thường một cách bình đẳng như các chủ thể khác trong xã hội.

- Chế định trách nhiệm bồi thường của nhà nước là cơ sở để xác định ranh giới trách nhiệm bồi thường của nhà nước. Trong tương quan với cơ quan nhà nước, thì các cá nhân và tổ chức thường yếu thế hơn khi tiến hành giải quyết yêu cầu đòi bồi thường. Chế định bồi thường của nhà nước quy định phương thức và thủ tục tiến hành giải quyết yêu cầu bồi thường nhằm tránh cho sự lạm quyền không xảy ra và bảo đảm quyền lợi của công dân.

- Chế định bồi thường của nhà nước góp phần ngăn chặn tình trạng tham nhũng, quan liêu, sách nhiễu người dân vẫn còn tồn tại ở một số cơ quan hành chính nhà nước trong một bộ phận cán bộ, công chức; đồng thời khắc phục tình trạng yếu kém về trình độ và năng lực chuyên môn của một bộ phận cán bộ, công chức nước ta, nâng cao ý thức trách nhiệm và đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức, từ đó hạn chế những rủi ro đem lại cho người dân từ hoạt động công vụ.

- Ngoài ra, chế định bồi thường của nhà nước nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu về tài sản và động viên về tinh thần đối với người bị thiệt hại, thể hiện sự tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của công dân của Nhà nước ta.

4.      Phân biệt trách nhiệm bồi thường của nhà nước với trách nhiệm bồi thường dân sự khác

Bồi thường của nhà nước là một loại trách nhiệm pháp lý đặc thù, vì nhà nước là loại chủ thể đặc biệt trong quan hệ pháp luật, do vậy tính chất của trách nhiệm bồi thường ở đây cũng đặc biệt, khác với trách nhiệm dân sự thông thường. Bên cạnh những đặc điểm chung của bồi thường trách nhiệm dân sự, trách nhiệm bồi thường của nhà nước có đặc thù riêng.

- Về chủ thể gây thiệt hại

         + Trong bồi thường của nhà nước, chủ thể gây thiệt hại là người thi hành công vụ. Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án.

         + Bồi thường dân sự khác, chủ thể gây thiệt hại là bất kỳ người nào có hành vi trái pháp luật do lỗi cố ý hoặc vô ý mà gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường.

- Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường

         + Trong bồi thường của nhà nước, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường là Nhà nước mà không phải là trách nhiệm của cá nhân cán bộ, công chức hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Mọi hành vi, quyết định của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ đều được xác định là hành vi, quyết định của Nhà nước. Nếu hành vi đó trái luật, gây thiệt hại, nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường. Nhưng nếu việc làm của cán bộ, công chức xảy ra không gắn với việc thi hành công vụ thì họ phải chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi của mình, trường hợp này nhà nước không phải bồi thường.

         + Bồi thường dân sự khác, chủ thể có trách nhiệm bồi thường là người gây thiệt hại hoặc có thể là người thứ ba như cha, mẹ, người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại hoặc là pháp nhân, người dạy nghề khi người của pháp nhân, người học nghề, người làm công gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc được giao.

- Bản chất của quan hệ bồi thường

         + Trong bồi thường của nhà nước, Nhà nước trách nhiệm bồi thường thay cho cán bộ, công chức khi họ thi hành công vụ đã gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức. Mục đích của bồi thường nhà nước là đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho công dân nước mình. Mọi công việc của cán bộ, công chức đều được pháp luật quy định cụ thể, nếu cán bộ công chức gây thiệt hại do vi phạm pháp luật (tức là có lỗi) thì đó là sai phạm của cán bộ, công chức, chứ bản thân nhà nước hoàn toàn không có lỗi. Vì Nhà nước với tư cách là người sử dụng cán bộ, công chức nên Nhà nước chịu trách nhiệm bồi thường.

         + Trong bồi thường dân sự khác, chủ thể có trách nhiệm bồi thường là người có lỗi. “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” (Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005). Trong trường hợp người giám hộ không chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì người giám hộ phải lấy tài sản của mình để bồi thường (khoản 3 Điều 606 của Bộ luật dân sự năm 2005). Nhà trường phải bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi gây ra trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại; Bệnh viện, tổ chức phải bồi thường thiệt hại do người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại trong thời gian bệnh viện, tổ chức trực tiếp quản lý người mất năng lực hành vi dân sự (Điều 621, Bộ luật dân sự năm 2005).

            KHÁI QUÁT QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRƯỚC KHI TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC NĂM 2009 ĐƯỢC BAN HÀNH

Trong lịch sử phát triển của Việt Nam, có các nhà nước phong kiến không chịu bất kỳ loại trách nhiệm pháp lý nào đối với người dân của họ. Về chính trị, đó là nhà nước theo chế độ quân chủ chuyên chế, người đứng đầu nhà nước là Vua, có quyền quyết định tối cao về các vấn đề quân sự, chính trị, kinh tế và tôn giáo. Quyền lực của nhà nước cũng chính là quyền lực của nhà vua và không có giới hạn xác định. Trong chế độ này, nhà nước không phải chịu bất kỳ trách nhiệm gì về những quyết sách do mình đặt ra, thần dân không có quyền gì ngoài sự phục tùng và phụng sự nhà nước.

Đến thời kỳ Pháp thuộc (1858 - 1945), thực dân Pháp áp dụng đồng thời hai chế độ cai trị là chế độ cai trị hà khắc của Nhà nước phong kiến và chế độ thực dân. Theo đó, xã hội dân sự không được thừa nhận, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước vì thế cũng không được quy định, trong khi trách nhiệm dân sự khác cũng đã được quy định cụ thể tại các Bộ dân luật Bắc kỳ (1931), Trung kỳ (1936), Nam kỳ (1883).

Năm 1945, Cách mạng Tháng 8 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, các quyền của công dân được xác lập và bảo đảm. Về chính trị, đó là nhà nước của dân, do dân, vì dân; về quan hệ pháp luật trong quan hệ dân sự với người dân (cá nhân, tổ chức) thì Nhà nước là một bên chủ thể bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng chưa được quy định như là một chế định trong pháp luật.

-         Bắt đầu từ Hiến pháp năm 1959, quyền được bồi thường của người dân đã được ghi nhận tại Điều 29 như sau “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước. Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng. Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước có quyền được bồi thường”.

-         Tiếp đến, ngày 23 tháng 3 năm 1972 Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư số 173/UBTP hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Theo Thông tư này, để xác định một chủ thể có phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay không cần phải căn cứ vào bốn yếu tố: Phải có thiệt hại xảy ra, phải có hành vi trái pháp luật, phải có quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật, phải có lỗi của người gây thiệt hại. Đặc biệt, Thông tư đã quy định trách nhiệm bồi thường của pháp nhân khi công nhân, viên chức hay người đại diện hợp pháp của xí nghiệp, cơ quan trong khi thi hành nhiệm vụ mà gây thiệt hại cho người khác thì cơ quan, xí nghiệp phải bồi thường thiệt hại theo chế độ trách nhiệm dân sự, rồi sau đó, có quyền đòi hỏi họ hoàn trả việc bồi thường đó theo quan hệ lao động. Tuy nhiên, trường hợp công nhân, viên chức hoặc đại diện hợp pháp của xí nghiệp, cơ quan lợi dụng nhiệm vụ và do hành vi không liên quan chặt chẽ đến công tác được phân công, rõ ràng để mưu lợi ích riêng, mà gây thiệt hại cho người khác, thì cá nhân họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

-         Hiến pháp năm 1980, tiếp tục khẳng định quyền được bồi thường của người bị thiệt hại tại Điều 73 “công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó. Các điều khiếu nại và tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng. Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường”.

-         Nhằm tiến tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tôn trọng tối cao các quyền công dân, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh” (Điều 72), “Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự (Điều 74).

-         Thể chế hoá các quy định về bồi thường thiệt hại trong Hiến pháp năm 1992, Bộ luật dân sự năm 1995 đã dành một chương quy định trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (chương V). Hơn nữa, Bộ luật này còn quy định hai điều về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là Điều 623 quy định bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước gây ra và Điều 624 quy định bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Theo đó, cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại khi công chức, viên chức, người tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ.

-         Bộ luật dân sự năm 2005 tiếp tục kế thừa các quy định về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức và người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra trong Bộ luật dân sự năm 1995. Cụ thể, Điều 619 quy định về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra: “Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ. Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm yêu cầu cán bộ, công chức phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu cán bộ, công chức có lỗi trong khi thi hành công vụ”. Điều 620 quy định về bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra: “Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ”.

-         Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005) đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân; tăng cường trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong giải quyết các công việc của công dân; tiến tới xây dựng một cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính có hiệu quả. Điều 1 của Luật quy định: “Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” và “Người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết hoặc cố tình giải quyết trái pháp luật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” (Điều 6), “Người bị thiệt hại được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật” (Điều 8).

-         Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 quy định tại Điều 40 về trường hợp người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính vì vụ lợi hoặc vì động cơ cá nhân khác mà vi phạm các quy định về xử phạt vi phạm hành chính; người không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính mà tuỳ tiện phạt thì tuỳ theo tính chất, mức độ của vi phạm bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại về vật chất cho Nhà nước, tổ chức hoặc công dân thì phải bồi thường.

Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008) đều quy định người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính mà sách nhiễu, dung túng, bao che, không xử lý hoặc xử lý không kịp thời, không đúng mức, xử lý vượt thẩm quyền quy định thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Điều 91 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và Điều 121 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002).

-         Mặc dù Luật bảo vệ môi trường năm 1993 được ban hành nhằm giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, bảo đảm cân bằng sinh thái...Nhưng để tránh tình trạng người có thẩm quyền lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, Điều 51 và Điều 52 của Luật quy định: người lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm quy định của pháp luật về môi trường, bao che cho người vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra sự cố môi trường, ô nhiễm môi trường thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời còn phải bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục phát huy những quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại được quy định trong Luật bảo vệ môi trường năm 1993, Luật bảo vệ môi trường năm 2005 quy định “người đứng đầu tổ chức, cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây phiền hà, nhũng nhiễu cho tổ chức, công dân, bao che cho người vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường hoặc thiếu trách nhiệm để xảy ra ô nhiễm, sự cố môi trường nghiêm trọng thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; trường hợp gây thiệt hại thì còn phải bồi thường theo quy định của pháp luật( Điều 127).

-         Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có những quy định cụ thể hoá các quy định tại Điều 72 của Hiến pháp năm 1992 về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực tư pháp, hình sự, nhằm đảm bảo quyền được bồi thường của người bị thiệt hại, người bị oan do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự gây ra. Điều 29 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định “Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi. Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan; người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”. Điều 30 quy định “Người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại. Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự phải bồi thường cho người bị thiệt hại; người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”.

-         Việc ban hành Nghị định số 47/CP ngày 03 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ về giải quyết bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra là một bước tiến lớn trong việc hướng dẫn chi tiết, cụ thể và để triển khai thực hiện có hiệu quả Điều 623 và Điều 624 của Bộ luật dân sự năm 1995. Nghị định quy định: Cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước hoặc người có thẩm quyền gây ra trong khi thi hành công vụ hoặc trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án” (Điều 1) và “Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng bồi thường cho mình thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra hoặc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình” (Điều 3). Nghị định cũng quy định trình tự, thủ tục giải quyết việc bồi thường thiệt hại và quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc bồi thường khi các bên không thoả thuận được với nhau về việc bồi thường. Sau khi cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng đã bồi thường cho người bị thiệt hại thì công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng phải hoàn trả khoản tiền mà cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng đã bồi thường.

-         Ban Tổ chức - cán bộ Chính phủ cũng đã ban hành Thông tư số 54/1998/TT-TCCP ngày 04 tháng 6 năm 1998 để hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 47/CP.

-         Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá XI về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Nghị quyết là một bước “đột phá” trong việc Nhà nước nhận trách nhiệm về mình khi quyền lợi của người dân bị xâm phạm bởi người tiến hành tố tụng. Nghị quyết xác định rõ hơn, cụ thể hơn các trường hợp được bồi thường thiệt hại, trường hợp không được bồi thường, xác định thiệt hại và mức bồi thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và hình thức khôi phục danh dự đối với người bị oan…

Cụ thể, tại Điều 1 của Nghị quyết quy định bốn trường hợp được bồi thường thiệt hại là: người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; người bị tạm giam mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giam vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội; người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, đã bị kết án tử hình mà có bản án, quyết định của Toà án có thẩm quyền xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội; người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không thuộc các trường hợp trên mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội. Những người bị khởi tố, truy tố, xét xử, bị tạm giữ, tạm giam, bị thi hành án nêu trên mà có tài sản bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu bị thiệt hại thì được bồi thường.

Đồng thời Điều 2 của Nghị quyết cũng quy định bốn trường hợp không được bồi thường thiệt hại là: người được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật; người bị xử lý về hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 (được sửa đổi, bổ sung các năm 1989, 1991, 1997) nhưng nay theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; những người bị khởi tố, truy tố, xét xử, bị tạm giữ, tạm giam, bị thi hành án mà do họ cố ý khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu, vật chứng khác sai sự thật để nhận tội thay cho người khác hoặc để che giấu tội phạm; những người bị khởi tố, truy tố, xét xử, bị tạm giữ, tạm giam, bị thi hành án mà bị tổn hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản do lỗi của chính mình hoặc do sự kiện bất khả kháng. Nghị quyết xác định cụ thể cơ quan có trách nhiệm bồi thường, thủ tục bồi thường, thiệt hại được bồi thường và mức bồi thường. Kinh phí bồi thường thiệt hại là một khoản trong ngân sách nhà nước, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây oan do lỗi của mình trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự thì có nghĩa vụ hoàn trả theo quy định của pháp luật.

Nghị quyết thể hiện chủ trương đúng đắn của Nhà nước ta trong việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan, đồng thời có ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo chất lượng hoạt động của cơ quan tố tụng, góp phần quan trọng trong quá trình cải cách tư pháp, đặc biệt là trong việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về bồi thường. Nghị quyết đã thể hiện quan điểm, trách nhiệm của Nhà nước đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, nâng cao ý thức trách nhiệm và sự tuân thủ pháp luật của người tiến hành tố tụng hình sự. Nghị quyết phản ánh tính dân chủ, công khai trong hoạt động tư pháp của Nhà nước, tạo niềm tin và dấu ấn tốt trong nhân dân.

-         Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP-BTC ngày 25 tháng 3 năm 2004 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11.

-         Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BQP-BTC ngày 22 tháng 11 năm 2006 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11. Thông tư liên tịch này thay thế Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP-BTC.

-         Thông tư số 49/2008/TT-BTC ngày 12  tháng 6  năm 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế, người khai hải quan do hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức thuế, cán bộ, công chức hải quan trong khi thi hành công vụ gây ra.

Có thể khẳng định rằng quyền được bồi thường và trách nhiệm bồi thường nhà nước được ghi nhận từ rất sớm trong pháp luật của Nhà nước ta. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, đất nước ta phải trải qua cuộc chiến tranh giành độc lập gian khổ, nhiệm vụ hàng đầu của Nhà nước cũng như toàn thể quốc dân đồng bào là đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, chúng ta lại bắt tay vào khôi phục kinh tế và kiến thiết nước nhà nên chúng ta chưa có điều kiện quan tâm xây dựng đầy đủ và đồng bộ chế định bồi thường nhà nước cũng như triển khai trên thực tế chế định này. Ngay khi nền kinh tế dần đi vào ổn định, đất nước đạt được những bước tiến lớn trên nhiều lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật, hợp tác nước ngoài, …đặc biệt với chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản thể hiện tính chịu trách nhiệm của Nhà nước đối với quyền và lợi ích của nhân dân. Áp dụng Bộ luật dân sự, Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 và các văn bản pháp luật liên quan, hàng trăm vụ việc được giải quyết bồi thường với số tiền lên đến hàng chục tỷ đồng, người bị oan sai còn được các cơ quan công an, toà án, kiểm sát tiến hành phục hồi danh dự.

Tuy nhiên, pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở giai đoạn này còn phân tán, hiệu lực pháp lý thấp và thiếu tính khả thi. Trên thực tiễn thi hành còn nhiều bất cập, người bị thiệt hại chưa được bù đắp, phục hồi quyền lợi, gây bức xúc trong nhân dân. Các cơ quan Nhà nước ở các cấp chưa thực sự quan tâm đến việc thực hiện chính sách bồi thường khi cán bộ, công chức gây thiệt hại trong khi đang thi hành công vụ. Cơ quan quản lý Nhà nước về bồi thường của Nhà nước, cơ quan có trách nhiệm bồi thường chưa được xác định hoặc có nhưng quản lý nhà nước về công tác này rất hạn chế.


Phần thứ hai

GIỚI THIỆU LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

I.             SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

1. Phần lớn các quy định pháp luật hiện hành về bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra mới chỉ là những nguyên tắc, phạm vi bồi thường và trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chưa được quy định cụ thể nên đã ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại. Đồng thời các quy định này còn có nhiều điểm hạn chế, như: hình thức văn bản quy phạm pháp luật quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra có hiệu lực pháp lý không cao; pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra chưa được xây dựng trên quan điểm coi đây là trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nói chung mà chỉ coi là trách nhiệm bồi thường của từng cơ quan nhà nước cụ thể (cơ quan quản lý người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại); cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường trong nhiều trường hợp chưa được xác định rõ và đặc biệt là chưa quy định cụ thể trách nhiệm phối hợp của các cơ quan nhà nước khác có liên quan, nên việc giải quyết bồi thường không đạt được kết quả như mong muốn; các loại thiệt hại được bồi thường, mức bồi thường và nhiều vấn đề liên quan khác được pháp luật quy định không thống nhất, chưa hợp lý, gây bất lợi cho cả cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước lẫn người bị thiệt hại; trách nhiệm hoàn trả của công chức chưa được quy định rõ ràng.

2. Tổng kết thực tiễn cho thấy, kết quả thực hiện Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 còn rất hạn chế và nhất là Nghị định số 47/CP hầu như không phát huy tác dụng, chưa được áp dụng để giải quyết bồi thường thiệt hại trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, dân sự và hành chính. Tổng hợp báo cáo của các bộ, ngành và địa phương cũng chỉ ra rằng: việc giải quyết bồi thường của các cơ quan hành chính nhà nước chủ yếu được thực hiện gắn với thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính mà không trực tiếp áp dụng Nghị định số 47/CP; số lượng vụ việc được giải quyết bồi thường không tương xứng so với yêu cầu thực tế, cụ thể trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến năm 2007 mới có khoảng 170 vụ việc được giải quyết, với số tiền bồi thường là hơn 16 tỷ đồng; ở một số bộ, ngành, địa phương chưa có trường hợp nào áp dụng Nghị định số 47/CP để giải quyết yêu cầu bồi thường. Đối với bồi thường thiệt hại cho các trường hợp bị oan trong tố tụng hình sự theo quy định của Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11, tính đến hết năm 2007 (sau 04 năm thi hành), các cơ quan tiến hành tố tụng đã giải quyết được gần 200 vụ, với số tiền phải bồi thường là gần 15 tỷ đồng. Việc ban hành Nghị quyết này đã được dư luận nhân dân ủng hộ và đồng tình cao. Tuy nhiên, do phạm vi điều chỉnh hẹp (chỉ bồi thường cho các trường hợp bị oan trong tố tụng hình sự), cho nên tác động của Nghị quyết này còn hạn chế.

3. Từ thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra và thực tiễn thi hành cho thấy pháp luật trong lĩnh vực này còn nhiều bất cập, chưa đầy đủ và đồng bộ, thiếu cụ thể, thiếu tính khả thi, do vậy, việc ban hành Luật Bồi thường nhà nước là cần thiết. Đồng thời, việc ban hành Luật bồi thường nhà nước cũng là nhằm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Một trong các nội dung quan trọng về định hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật được quy định trong Nghị quyết này là xây dựng và hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, trong đó có quyền được bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra khi thi hành công vụ; chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, nhất là của Toà án trong việc bảo vệ các quyền đó; khắc phục việc xử lý oan, sai.

Vì vậy, việc ban hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là cần thiết, nhằm thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng; hoàn thiện hệ thống pháp luật về bồi thường nhà nước, tạo cơ chế hữu hiệu hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, bảo đảm sự hoạt động ổn định của các cơ quan công quyền; phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay.

Việc xây dựng Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là nhằm:

- Nhất thể hoá pháp luật về bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra, khắc phục tình trạng tồn tại hai mặt bằng pháp lý về bồi thường thiệt hại trong hoạt động hành chính và tố tụng hình sự hiện nay. Đồng thời mở rộng phạm vi bồi thường sang hoạt động thi hành án, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính.

- Tạo cơ chế pháp lý mới, đồng bộ, hiệu quả để người bị thiệt hại thực hiện tốt hơn quyền được bồi thường của mình đối với những thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra; Nhà nước thực hiện tốt hơn trách nhiệm của mình trước công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

- Xác định rõ trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại để một mặt, tạo thuận lợi cho người bị thiệt hại trong việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình, mặt khác, góp phần tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của công chức trong quá trình thực thi công vụ.

II.          QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

1.      Quá trình xây dựng Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Để xây dựng Dự án Luật này, Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp thành lập Ban soạn thảo gồm đại diện lãnh đạo các cơ quan: Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ và đã chỉ đạo cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức thực hiện các hoạt động chủ yếu sau đây:

- Hệ thống hoá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Nhà nước ta về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra và đánh giá ưu điểm, nhược điểm của các văn bản quy phạm pháp luật này;

- Phối hợp với Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong thời gian qua;

- Nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài về bồi thường nhà nước, so sánh, đối chiếu với các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng của nước ta;

- Đánh giá dự báo tác động kinh tế - xã hội của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, nghiên cứu và đề xuất phương hướng, cách thức, nguyên tắc xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của nước ta hiện nay;

- Tổ chức các hội thảo khoa học có sự tham gia của các chuyên gia pháp luật trong nước và nước ngoài, đại diện các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội; xã hội, nghề nghiệp, các doanh nghiệp và cá nhân ở các vùng miền khác nhau trong cả nước để trao đổi về các nội dung cơ bản của Dự án Luật;

- Giới thiệu dự thảo Luật trên Cổng thông tin của Bộ Tư pháp và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; tổ chức lấy ý kiến góp ý chính thức bằng văn bản của các Bộ, ngành, một số địa phương về Dự án Luật;

- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật trên cơ sở ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội để trình Quốc hội Dự án Luật này.

2.      Quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được xây dựng trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo sau đây:

- Thể chế hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo đảm quyền công dân, quyền con người, trong đó có quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra khi thi hành công vụ đã được quy định tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X.

- Phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước cần phải được quy định phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay. Tuy Hiến pháp năm 1992 và Bộ luật dân sự năm 2005 đã ghi nhận nguyên tắc Nhà nước có trách nhiệm bồi thường đối với mọi thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra cho tổ chức, cá nhân trong khi thi hành công vụ, nhưng trong điều kiện hiện nay, để đảm bảo tính khả thi của Luật này thì phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cần được xác định phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước; năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.

- Bảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa mục tiêu bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại và lợi ích của Nhà nước. Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được ban hành nhằm bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức bị người thi hành công vụ gây thiệt hại, đồng thời cũng phải bảo đảm sự hoạt động ổn định, có hiệu quả của các cơ quan công quyền.

- Kế thừa các quy định pháp luật còn phù hợp và từng bước pháp điển hoá các quy định pháp luật hiện hành về bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong khi thi hành công vụ, đồng thời tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước có thể vận dụng được phù hợp với điều kiện của nước ta.

III.       BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

1. Bố cục của Luật

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước gồm có 8 chương và 67 điều:

Chương I. Những quy định chung, gồm 12 điều (từ Điều 1 đến Điều 12), quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng được bồi thường; giải thích từ ngữ; quyền yêu cầu bồi thường; thời hiệu yêu cầu bồi thường; căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường; nguyên tắc giải quyết bồi thường; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có trách nhiệm bồi thường, quyền và nghĩa vụ của người bị thiệt hại và của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại; trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác bồi thường và các hành vi bị cấm.

Chương II. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, gồm 13 điều (từ Điều 13 đến Điều 25), quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính; cơ quan có trách nhiệm bồi thường; thủ tục giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính; giải quyết yêu cầu bồi thường tại Toà án; giải quyết bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hành chính.

Chương III. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng, gồm 12 (từ Điều 26 đến Điều 37), quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính; các trường hợp không được bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự; cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, dân sự, hành chính; thủ tục giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, dân sự, hành chính.

Chương IV.Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án, gồm 7 điều (từ Điều 38 đến Điều 44), quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự, thi hành án hình sự; cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án; thủ tục giải quyết bồi thường trong hoạt động thi hành án.

Chương V. Thiệt hại được bồi thường, gồm 7 điều (từ Điều 45 đến Điều 51), quy định về các loại thiệt hại mà người bị thiệt hại được bồi thường bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm; thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; thiệt hại do tổn thất về tinh thần; thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết; thiệt hại về vật chất do bị tổn hại về sức khoẻ; trả lại tài sản; khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự.

Chương VI. Kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả, gồm 4 điều (từ Điều 52 đến Điều 55), quy định về nguồn kinh phí chi trả tiền bồi thường; trình tự, thủ tục lập dự toán, quyết toán kinh phí bồi thường; trình tự, thủ tục cấp và chi trả tiền bồi thường.

Chương VII. Trách nhiệm hoàn trả, gồm 8 điều (từ Điều 56 đến Điều 63), quy định về các trường hợp mà người thi hành công vụ phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả; căn cứ xác định mức hoàn trả; thẩm quyền quyết định việc hoàn trả; trình tự, thủ tục quyết định việc hoàn trả; thực hiện việc hoàn trả; hiệu lực của quyết định hoàn trả; khiếu nại, khởi kiện quyết định hoàn trả; sử dụng, quản lý tiền hoàn trả.

Chương VIII. Điều khoản thi hành, gồm 4 (từ Điều 64 đến Điều 67), quy định về việc không áp dụng án phí, lệ phí, các loại phí khác và thuế trong quá trình giải quyết bồi thường; thời điểm có hiệu lực của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực kể từ thời điểm luật có hiệu lực thi hành; áp dụng pháp luật đối với các trường hợp yêu cầu bồi thường trước và sau khi Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã có hiệu lực thi hành; trách nhiệm của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật hoặc các điều, khoản cần thiết khác để đảm bảo yêu cầu quản lý nhà nước về công tác bồi thường.

2. Nội dung cơ bản của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

2.1. Phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước điều chỉnh những vấn đề về: phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong ba lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Nhà nước là quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án; thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại; kinh phí bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại.

Trong từng lĩnh vực, Luật quy định cụ thể các trường hợp được Nhà nước bồi thường thiệt hại, cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường, thủ tục giải quyết bồi thường.

 2.2. Đối tượng được bồi thường (Điều 2)

Đối tượng được bồi thường là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần mà thuộc các trường hợp trong phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì được Nhà nước bồi thường.  

Cá nhân, tổ chức được hiểu bao gồm cá nhân, tổ chức mang quốc tịch Việt Nam và cá nhân, tổ chức nước ngoài bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ là cán bộ, công chức của Nhà nước Việt Nam.

2.3. Thời hiệu yêu cầu bồi thường (Điều 5)

Thời hiệu yêu cầu bồi thường là thời hạn do luật quy định, theo đó người bị thiệt hại phải yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường giải quyết việc bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra, nếu hết thời hạn này mà người bị thiệt hại không yêu cầu bồi thường thì mất quyền yêu cầu bồi thường.

Theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, thời hiệu yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại là 02 năm kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hoặc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường.

Trong quá trình khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hoặc Toà án giải quyết việc bồi thường thì thời hiệu yêu cầu bồi thường được xác định theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

2.4. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Với tư cách là một loại trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chỉ phát sinh khi hội đủ các căn cứ nhất định. Theo đó, ngoài các căn cứ chung mà Bộ luật dân sự đã quy định, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước còn có một căn cứ đặc thù, đó là thiệt hại phải do công chức gây ra trong quá trình thi hành công vụ. Hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn không đúng quy định của pháp luật và được xác định trong văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường cho 2 lĩnh vực hoạt động khác nhau, cụ thể là:

- Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính và thi hành án (khoản 1 Điều 6) bao gồm:

+ Có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

+ Có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra đối với người bị thiệt hại.

 - Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự (khoản 2 Điều 6) bao gồm:

+ Có bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại Điều 26 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

+ Có thiệt hại thực tế đối với người bị thiệt hại do người tiến hành tố tụng hình sự gây ra trong trường hợp quy định tại Điều 26 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Một điểm đáng lưu ý là mặc dù không quy định trực tiếp lỗi là một trong các căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, tuy nhiên, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã gián tiếp quy định về căn cứ này thông qua việc quy định một số trường hợp không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cụ thể theo khoản 3 Điều 6 thì Nhà nước không chịu trách nhiệm bồi thường đối với các thiệt hại xảy ra trong các trường hợp sau đây:

+ Do lỗi của người bị thiệt hại.

+ Người bị thiệt hại che dấu chứng cứ, tài liệu hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật trong quá trình giải quyết vụ việc.

+ Do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết.

2.5.Nguyên tắc giải quyết bồi thường (Điều 7)

Việc giải quyết bồi thường phải tuân theo các nguyên tắc:

- Kịp thời, công khai, đúng pháp luật;

- Được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan có trách nhiệm bồi thường với người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ; 

- Được trả một lần bằng tiền, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

2.6. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Các thiệt hại do hoạt động xây dựng pháp luật gây ra không được quy định trong Luật, vì xây dựng pháp luật là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền định ra các quy tắc xử sự chung và có hiệu lực bắt buộc đối với mọi tổ chức, cá nhân trong những quan hệ xã hội nhất định. Hoạt động này tác động đến mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội trên phạm vi cả nước hoặc ở từng địa phương hoặc đối với một số đối tượng nhất định chứ không phải đối với từng cá nhân, tổ chức cụ thể. Do vậy, để đảm bảo tính khả thi, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước xác định rõ phạm vi các trường hợp được Nhà nước bồi thường trong từng lĩnh vực. Vấn đề này được xây dựng trên nguyên tắc là chỉ hành vi trái pháp luật nào của người thi hành công vụ mà gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền sở hữu, các quyền cơ bản khác của cá nhân và các quyền của tổ chức mang tính phổ biến, gây bức xúc trong nhân dân thì được Nhà nước bồi thường. Cụ thể:

a)  Phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính.

Điều 13 của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định cụ thể các nhóm hành vi mà nếu người thi hành công vụ làm trái pháp luật, gây ra thiệt hại thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường, bao gồm:

+ Ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

+ Áp dụng biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính;

+  Áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc và biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác;

+ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng, đưa người vào cơ sở giáo dục hoặc đưa người vào cơ sở chữa bệnh;

+ Cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép;

+ Áp dụng thuế, phí, lệ phí; thu thuế, phí, lệ phí; truy thu thuế; thu tiền sử dụng đất;

+ Áp dụng thủ tục hải quan;

+ Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

+ Ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;

+ Cấp văn bằng bảo hộ cho người không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; cấp văn bằng bảo hộ cho đối tượng sở hữu công nghiệp không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; ra quyết định chấm dứt hiệu lực của văn bằng bảo hộ;

+ Không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép, văn bằng bảo hộ cho đối tượng có đủ điều kiện;

+ Các trường hợp được bồi thường khác do pháp luật quy định.

Đây là những nhóm hành vi có ảnh hưởng lớn đến các quyền cơ bản của công dân như quyền tự do thân thể, quyền tự do kinh doanh, quyền tự do sở hữu...do đó cần được Nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt, bằng cách cam kết sẽ bồi thường nếu các hành vi này gây ra thiệt hại cho tổ chức, cá nhân. Như vậy, thiệt hại do các hành vi khác (không được quy định trong Điều 13 của Luật) gây ra thì không được Nhà nước bồi thường. Ngoài ra, để thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, tại Điều 13 của  Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã quy định thêm khoản 12, theo đó, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại gây ra trong các trường hợp khác nếu được pháp luật quy định.

b)  Phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự

Điều 26 của Luật đã quy định cụ thể các trường hợp mà Nhà nước có trách nhiệm bồi thường, bao gồm:

+ Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

+ Người bị tạm giam, người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội.

+ Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù có thời hạn mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội.

+ Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành.

+ Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử hình và tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt chung của những tội mà người đó phải chấp hành.

+ Người bị xét xử bằng nhiều bản án, Toà án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó, mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành.

+ Tổ chức, cá nhân có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý có liên quan đến các trường hợp tạm giữ, tạm giam, khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án đối với người không thực hiện hành vi phạm tội thì tổ chức, cá nhân đó được bồi thường.

Nhìn chung, phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự có đặc điểm: Nhà nước chỉ có trách nhiệm bồi thường khi người bị thiệt hại bị oan, tức là không thực hiện hành vi phạm tội mà bị điều tra, truy tố, xét xử; không đặt vấn đề lỗi của người thi hành công vụ mà Nhà nước có trách nhiệm bồi thường nếu người bị thiệt hại được coi là bị oan, bất luận công chức có lỗi hay không có lỗi trong việc gây ra tình trạng oan này.

Mặt khác, Điều 27 quy định các trường hợp không được bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự gồm:

- Người được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

- Cố ý khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu, vật chứng khác sai sự thật để nhận tội thay cho người khác hoặc để che giấu tội phạm.

- Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án hoặc Toà án quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, đã bị tạm giữ, bị tạm giam, đã chấp hành hình phạt tù hoặc đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội nhưng không thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 26 của Luật.

- Người bị khởi tố, truy tố trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nhưng vụ án đã được đình chỉ do người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố, trừ trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của họ chưa cấu thành tội phạm.

- Người bị khởi tố, truy tố, xét xử là đúng với các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm khởi tố, truy tố, xét xử nhưng tại thời điểm ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà theo các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực sau ngày khởi tố, truy tố, xét xử đó họ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

c) Phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính

Vấn đề bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính đã được ghi nhận trong Bộ luật dân sự và pháp luật về tố tụng, tuy nhiên để cụ thể hoá trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực này, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã quy định cụ thể 4 trường hợp được Nhà nước bồi thường (Điều 28), bao gồm:

+  Tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

+  Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu.

+  Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

+  Ra bản án, quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án.

d) Phạm vi trách nhiệm bồi thường trong lĩnh vực thi hành án

- Đối với lĩnh vực thi hành án dân sự

Điều 38 của Luật quy định cụ thể các trường hợp Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra, bao gồm:

+ Ra hoặc cố ý không ra quyết định: Thi hành án; thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án; áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án; cưỡng chế thi hành án; thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án; hoãn thi hành án; tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án; tiếp tục thi hành án.

+ Tổ chức thi hành hoặc cố ý không tổ chức thi hành các quyết định nêu trên.

- Đối với lĩnh vực thi hành án hình sự

Điều 39 của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định cụ thể các trường hợp mà Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra, gồm:

+ Ra quyết định thi hành án tử hình đối với người có đủ điều kiện quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự. (Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử; Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân; Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân).

+ Giam người quá thời hạn phải thi hành án phạt tù theo bản án, quyết định của Toà án.

+ Không thực hiện quyết định hoãn thi hành án đối với người bị kết án, quyết định tạm đình chỉ thi hành án phạt tù.

+ Không thực hiện quyết định giảm án tù, quyết định đặc xá, quyết định đại xá.

2.7. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường.

Trước khi ban hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, việc thực hiện các quy định về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra trong khi thi hành công vụ gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước. Ngay cả đối với việc bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, mặc dù Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 đã quy định rất cụ thể trường hợp nào thì cơ quan nào có trách nhiệm bồi thường nhưng thực tiễn thi hành Nghị quyết này cho thấy, nhiều vụ việc đã phải yêu cầu đến Ủy ban thường vụ Quốc hội để xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Chính vì vậy, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã quy định rất cụ thể, chi tiết việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Về nguyên tắc, cơ quan có trách nhiệm bồi thường được xác định là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại. Tuy nhiên, trong một số trường hợp không xác định được cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc trên thì việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định như sau:

a) Đối với cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính (khoản 2 Điều 14).

- Trong trường hợp cơ quan quản lý người thi hành công vụ đã được chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc bị giải thể thì cơ quan kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó là cơ quan có trách nhiệm bồi thường; trường hợp không có cơ quan nào kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đã bị giải thể thì cơ quan đã ra quyết định giải thể là cơ quan có trách nhiệm bồi thường;

- Tại thời điểm thụ lý đơn yêu cầu bồi thường mà người thi hành công vụ gây ra thiệt hại không còn làm việc tại cơ quan quản lý người đó thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường là cơ quan quản lý người thi hành công vụ tại thời điểm gây ra thiệt hại;

- Trường hợp có sự uỷ quyền hoặc uỷ thác thực hiện công vụ thì cơ quan uỷ quyền hoặc cơ quan uỷ thác là cơ quan có trách nhiệm bồi thường; trường hợp cơ quan được ủy quyền, cơ quan nhận ủy thác thực hiện không đúng nội dung ủy quyền, ủy thác gây thiệt hại thì cơ quan này là cơ quan có trách nhiệm bồi thường;

- Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc nhiều cơ quan cùng gây ra thiệt hại thì cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực chịu trách nhiệm chính trong vụ việc là cơ quan có trách nhiệm bồi thường;

- Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc cơ quan trung ương và cơ quan địa phương cùng gây ra thiệt hại thì cơ quan trung ương là cơ quan có trách nhiệm bồi thường.

b) Đối với  cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự là cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân quản lý trực tiếp người tiến hành tố tụng có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự phải bồi thường thiệt hại đã phát sinh trong các giai đoạn tố tụng trước đó. Riêng đối với một số trường hợp như: cơ quan trực tiếp quản lý người tiến hành tố tụng hình sự đã được chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể hoặc người tiến hành tố tụng hình sự không còn làm việc tại cơ quan quản lý người đó tại thời điểm thụ lý đơn yêu cầu bồi thường hoặc có sự uỷ quyền, uỷ thác thực hiện công vụ  thì việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định như trên.

- Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp: Đã ra quyết định tạm giữ người nhưng Viện kiểm sát có thẩm quyền đã có quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ đó vì người bị tạm giữ không có hành vi vi phạm pháp luật; đã ra quyết định khởi tố bị can nhưng Viện kiểm sát có thẩm quyền không phê chuẩn quyết định khởi tố vì người bị khởi tố không thực hiện hành vi phạm tội (Điều 30).

- Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp được quy định tại Điều 31, gồm: Đã phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ của cơ quan điều tra có thẩm quyền nhưng người bị tạm giữ không có hành vi vi phạm pháp luật; đã phê chuẩn lệnh tạm giam của cơ quan điều tra có thẩm quyền hoặc ra lệnh tạm giam, gia hạn tạm giam mà sau đó có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội; Toà án cấp sơ thẩm trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng sau đó có quyết định của cơ quan có thẩm quyền đình chỉ điều tra vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội; đã có quyết định truy tố bị can nhưng Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội và bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật; Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội; Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội và sau đó Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vẫn giữ nguyên bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội.

- Toà án nhân dân có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau (Điều 32):

+ Toà án cấp sơ thẩm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp:

Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án vì người đó không phạm tội hoặc huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội;

Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội, bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội;

Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội.

+ Toà án cấp phúc thẩm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các  trường hợp sau:

Toà án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án phúc thẩm và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

Toà án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án phúc thẩm để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội;

Toà án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án phúc thẩm để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội.

+ Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm giữ nguyên bản án của Toà án cấp dưới tuyên bị cáo có tội trong các trường hợp sau đây:

Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội; 

Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội; 

Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội.

+ Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao, Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao, Toà án quân sự trung ương (sau đây gọi chung là Toà có thẩm quyền) xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm giữ nguyên bản án của Toà án cấp dưới tuyên bị cáo có tội trong các trường hợp sau đây:

Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa có thẩm quyền thuộc Toà án nhân dân tối cao và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa có thẩm quyền thuộc Toà án nhân dân tối cao để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội; 

Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa có thẩm quyền thuộc Toà án nhân dân tối cao để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội.

c) Về cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính (Điều 33 ):

- Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu hoặc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức thì có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

- Tòa án cấp sơ thẩm, Toà án cấp phúc thẩm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp ra bản án, quyết định sơ thẩm hoặc bản án, quyết định phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật mà biết rõ là bản án, quyết định đó trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án mà bị huỷ theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. 

- Tòa án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp ra quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm đã có hiệu lực pháp luật mà biết rõ là bản án, quyết định đó trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án mà bị huỷ theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. 

Đối với một số trường hợp Toà án có trách nhiệm bồi thường đã được chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể thì cơ quan kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó là cơ quan có trách nhiệm bồi thường; trường hợp không có cơ quan nào kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đã bị giải thể thì cơ quan đã ra quyết định giải thể là cơ quan có trách nhiệm bồi thường.

d) Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án (Điều 40).

- Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án hình sự là trại giam, trại tạm giam, cơ quan quản lý nhà tạm giữ, cơ quan công an có thẩm quyền và Toà án ra quyết định thi hành án.

- Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự là cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại. 

Trong trường hợp cơ quan nêu trên đã được chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể hoặc người thi hành công vụ gây ra thiệt hại không còn làm việc tại cơ quan đó tại thời điểm thụ lý đơn yêu cầu bồi thường hoặc có sự uỷ quyền, uỷ thác thực hiện công vụ thì việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường được thực hiện theo quy định tương tự như trường hợp xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính.

2.8. Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường

a) Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường

 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định người bị thiệt hại phải yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại giải quyết bồi thường trước khi khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết bồi thường. Quy định này không chỉ giúp cho người bị thiệt hại và cơ quan có trách nhiệm bồi thường có thể hiểu nhau hơn, không chỉ tránh được sự lãng phí thời gian và tiền bạc mà còn tránh được tình trạng quá tải đối với hoạt động của hệ thống Toà án. Quy định này được xây dựng trên cơ sở thực tiễn là nhiều người bị thiệt hại không muốn khởi kiện ra Toà án để yêu cầu giải quyết bồi thường mà muốn giải quyết bồi thường tại chính cơ quan quản lý người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại cho mình.

Về cơ bản, thủ tục chung giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường được quy định như sau:

- Hồ sơ yêu cầu bồi thường thiệt hại:

Khi nhận được văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước thì người bị thiệt hại gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường.

Đơn yêu cầu bồi thường có các nội dung chính sau đây:

+ Họ và tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường;

+ Lý do yêu cầu bồi thường;

+ Thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường.

Kèm theo đơn yêu cầu bồi thường phải có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ hoặc bản án, quyết định người bị thiệt hại thuộc một trong các trường hợp được bồi thường và tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường.

 - Thụ lý đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 17):

Cơ quan tiếp nhận đơn và hồ sơ yêu cầu bồi thường thiệt hại có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ của đơn và các giấy tờ kèm theo, trường hợp hồ sơ không đầy đủ thì hướng dẫn người bị thiệt hại bổ sung theo quy định. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn và các giấy tờ hợp lệ, nếu xác định yêu cầu bồi thường thuộc trách nhiệm giải quyết của mình thì cơ quan đã nhận hồ sơ phải thụ lý và thông báo bằng văn bản về việc thụ lý đơn cho người bị thiệt hại; trường hợp yêu cầu bồi thường không thuộc trách nhiệm giải quyết của mình thì cơ quan đã tiếp nhận hồ sơ phải trả lại hồ sơ và hướng dẫn người bị thiệt hại gửi hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết bồi thường.

- Xác minh thiệt hại (Điều 18):

+ Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu bồi thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải hoàn thành việc xác minh thiệt hại để làm căn cứ xác định mức bồi thường; trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn xác minh thiệt hại có thể kéo dài nhưng không quá 40 ngày.

+ Căn cứ vào tính chất, nội dung của vụ việc, cơ quan có trách nhiệm bồi thường có thể tổ chức việc định giá tài sản, giám định thiệt hại về tài sản, giám định thiệt hại về sức khoẻ hoặc lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan về việc giải quyết bồi thường. Chi phí định giá, giám định được bảo đảm từ ngân sách nhà nước.

+ Trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý với kết quả định giá, giám định mà yêu cầu định giá, giám định lại và được cơ quan có trách nhiệm bồi thường đồng ý thì chi phí định giá, giám định lại do người bị thiệt hại chi trả, trừ trường hợp kết quả định giá, giám định chứng minh yêu cầu định giá, giám định lại là có căn cứ.

- Thương lượng việc bồi thường:

Bồi thường thiệt hại là một quan hệ dân sự, trong quan hệ dân sự các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cưỡng ép, ngăn cản bên nào mà phải trên cơ sở thoả thuận. Do vậy, thương lượng việc bồi thường thiệt hại giữa cơ quan nhà nước có trách nhiệm bồi thường với người bị thiệt hại là cần thiết nhằm tránh tình trạng áp đặt mức bồi thường của cơ quan có trách nhiệm bồi thường, cũng như để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại.

Điều 19 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc việc xác minh thiệt hại, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải tổ chức và chủ trì thương lượng với người bị thiệt hại về việc giải quyết bồi thường; trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn thương lượng có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày. 

+ Thành phần thương lượng gồm đại diện cơ quan có trách nhiệm bồi thường và người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ. Trong trường hợp cần thiết, người thi hành công vụ gây ra thiệt hại được mời tham gia vào việc thương lượng. Đại diện của cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải là người có thẩm quyền để thỏa thuận việc bồi thường với người bị thiệt hại và chịu trách nhiệm trước cơ quan có trách nhiệm bồi thường. 

+ Địa điểm thương lượng là trụ sở của cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc trụ sở của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người bị thiệt hại cư trú, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

+ Việc thương lượng phải lập thành biên bản. Biên bản thương lượng phải ghi rõ những nội dung chính sau: Ngày, tháng, năm tiến hành thương lượng; địa điểm thương lượng, thành phần tham gia thương lượng; ý kiến của các bên tham gia thương lượng; những nội dung thương lượng thành hoặc không thành. Biên bản thương lượng phải có chữ ký của các bên và được gửi cho người bị thiệt hại một bản ngay sau khi kết thúc thương lượng. 

+ Kết quả thương lượng (thành hoặc không thành) là căn cứ để cơ quan có trách nhiệm bồi thường ra quyết định giải quyết bồi thường.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúc việc thương lượng, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải ra quyết định giải quyết bồi thường. Quyết định giải quyết bồi thường phải có các nội dung chính sau: Tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường; tóm tắt lý do yêu cầu bồi thường; căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường; mức bồi thường; quyền khởi kiện tại Toà án trong trường hợp không tán thành với quyết định giải quyết bồi thường; hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường. 

+ Quyết định giải quyết bồi thường phải được gửi cho người bị thiệt hại, cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan có trách nhiệm bồi thường và người thi hành công vụ gây ra thiệt hại.

Trường hợp người bị thiệt hại đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường và không khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết bồi thường thì quyết định giải quyết bồi thường sẽ có hiệu lực pháp luật và là căn cứ để cơ quan có trách nhiệm bồi thường tiến hành các thủ tục cần thiết để bồi thường cho người bị thiệt hại. Trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường thì trong thời hạn luật định, họ có quyền khởi kiện ra Toà án yêu cầu giải quyết bồi thường.

+ Quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày người bị thiệt hại nhận được quyết định, trừ trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý và khởi kiện ra Toà án.

b) Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Toà án (Điều 22, Điều 23).

            Người bị thiệt hại có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết việc bồi thường sau khi đã nộp hồ sơ đề nghị bồi thường thiệt hại cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường mà hết thời hạn luật định, cơ quan có trách nhiệm bồi thường không ra quyết định giải quyết bồi thường hoặc có ra quyết định nhưng người bị thiệt hại không đồng ý với nội dung của quyết định giải quyết bồi thường đó.

- Thời hạn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết việc bồi thường thiệt hại là 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn ra quyết định giải quyết bồi thường mà cơ quan có trách nhiệm bồi thường không ra quyết định hoặc kể từ ngày người bị thiệt hại nhận được quyết định giải quyết bồi thường. Trường hợp người bị thiệt hại chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể khởi kiện đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không được tính vào thời hạn khởi kiện. Người bị thiệt hại không có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết bồi thường trong trường hợp quyết định giải quyết bồi thường đã có hiệu lực pháp luật. 

- Toà án có thẩm quyền giải quyết việc bồi thường là Toà án nhân dân cấp huyện nơi cá nhân bị thiệt hại cư trú, làm việc, nơi tổ chức bị thiệt hại đặt trụ sở hoặc nơi thiệt hại xảy ra theo sự lựa chọn của người bị thiệt hại hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về tính chất, quan hệ trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là quan hệ dân sự, nên Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Toà án được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

2.9. Các thiệt hại được bồi thường và mức bồi thường

Về nguyên tắc bồi thường thì thiệt hại đến đâu phải bồi thường đến đó, hơn nữa việc xác định dựa trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan có trách nhiệm bồi thường và người bị thiệt hại. Tuy nhiên, trường hợp người bị thiệt hại và cơ quan có trách nhiệm bồi thường không thương lượng được với nhau (không thống nhất được mức bồi thường, cách thức bồi thường…) thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường vẫn phải ra quyết định giải quyết bồi thường. Do vậy, mức bồi thường phải cụ thể để làm cơ sở cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường thương lượng và ra quyết định giải quyết bồi thường. Có thể phân thành hai loại thiệt hại được bồi thường là thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.

a) Thiệt hại về vật chất được bồi thường

Các thiệt hại về vật chất được bồi thường bao gồm: Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm (Điều 45); thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút (Điều 46); thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết (Điều 48); thiệt hại về vật chất do bị tổn hại về sức khoẻ (Điều 49).

            - Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm (Điều 45)

+ Tài sản đã bị phát mại, bị mất thì thiệt hại được xác định căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ hao mòn của tài sản đã bị phát mại, bị mất trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường.

+ Tài sản bị hư hỏng thì thiệt hại được xác định là chi phí có liên quan theo giá thị trường để sửa chữa, khôi phục lại tài sản tại thời điểm giải quyết bồi thường; nếu tài sản bị hư hỏng không thể sửa chữa, khôi phục thì thiệt hại được xác định theo trường hợp tài sản bị mất, bị phát mại.

+ Thiệt hại phát sinh do việc không sử dụng, khai thác tài sản thì thiệt hại được xác định là thu nhập thực tế bị mất. Đối với những tài sản trên thị trường có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định phù hợp với mức giá thuê của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, tính năng, tác dụng và chất lượng tại thời điểm giải quyết bồi thường; đối với những tài sản trên thị trường không có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định trên cơ sở thu nhập do tài sản bị thiệt hại mang lại trong điều kiện bình thường trước thời điểm thiệt hại xảy ra; nếu tài sản bị kê biên được giao cho người bị thiệt hại hoặc người khác quản lý thì chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại về tài sản được xác định là những thiệt hại được bồi thường.

+ Các khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bị tịch thu, thi hành án, khoản tiền đã đặt để bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền được hoàn trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ; trường hợp khoản tiền đó là khoản vay có lãi thì phải hoàn trả cả khoản lãi hợp pháp; trường hợp khoản tiền đó không phải là khoản vay có lãi thì phải hoàn trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ cả khoản lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm giải quyết bồi thường.

   - Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút (Điều 46)

+ Cá nhân, tổ chức có thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút mà xác định được số thu nhập bị mất, bị giảm sút thì được bồi thường phần thu nhập bị mất, bị giảm sút đó.

+ Trường hợp cá nhân có thu nhập thường xuyên nhưng không ổn định thì mức bồi thường căn cứ vào thu nhập trung bình trong ba tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra.

+ Cá nhân có thu nhập không ổn định và không có cơ sở xác định cụ thể hoặc thu nhập có tính chất thời vụ thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương. Trường hợp không thể xác định được mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương thì sẽ lấy mức lương tối thiểu chung đối với các cơ quan nhà nước làm căn cứ để tính thu nhập của người bị thiệt hại.

- Thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết (Điều 48)

Trong trường hợp người bị thiệt hại chết thì tiền bồi thường về vật chất bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết[1]; chi phí cho việc mai táng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

- Thiệt hại về vật chất do bị tổn hại về sức khoẻ (Điều 49)

Tiền bồi thường về vật chất do người bị thiệt hại bị tổn hại về sức khoẻ gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại[2]; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; chi phí hợp lý và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị[3].

Trong trường hợp người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại được bồi thường bao gồm chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại và khoản cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Khoản cấp dưỡng hàng tháng được xác định là mức lương tối thiểu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc đã được xác định theo quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

b) Thiệt hại về tinh thần được bồi thường (Điều 47)

Các thiệt hại về tinh thần được bồi thường bao gồm: thiệt hại do tổn thất về sức khoẻ, tính mạng, danh dự… của người bị thiệt hại.

- Trường hợp bị tạm giữ hành chính, bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh thì thiệt hại do tổn thất về tinh thần được bồi thường được xác định là hai ngày lương tối thiểu cho một ngày bị tạm giữ hành chính, bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh.

- Trường hợp bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì thiệt hại do tổn thất về tinh thần được bồi thường được xác định là ba ngày lương tối thiểu cho một ngày  bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù. 

- Trường hợp bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án mà không bị giam giữ, tạm giam (tại ngoại) thì thiệt hại do tổn thất về tinh thần được bồi thường được xác định là một ngày lương tối thiểu cho một ngày bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù cho hưởng án treo. Thời gian để tính bồi thường thiệt hại được xác định kể từ ngày có quyết định khởi tố bị can cho đến ngày có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền xác định người bị thiệt hại không thực hiện hành vi phạm tội.

- Trường hợp người bị thiệt hại chết thì mức bồi thường do tổn thất về tinh thần tối đa là 360 tháng lương tối thiểu.

- Trường hợp sức khoẻ bị xâm phạm thì thiệt hại do tổn thất về tinh thần được bồi thường được xác định căn cứ vào mức độ sức khoẻ bị tổn hại nhưng không quá 30 tháng lương tối thiểu.

Như vậy, nếu người bị thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng thì người bị thiệt hại hoặc thân nhân của người bị thiệt hại chết sẽ được bồi thường cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.

c) Khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự

Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, bị tạm giữ, tạm giam, người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội thì người đó hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu khôi phục danh dự trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu bằng văn bản về việc khôi phục danh dự của người bị thiệt hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cơ quan có trách nhiệm bồi thường đã thụ lý vụ việc phải thực hiện việc xin lỗi, cải chính công khai.

Việc xin lỗi, cải chính công khai được thực hiện bằng các hình thức sau đây:

+ Trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại có sự tham dự của đại diện chính quyền địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú, đại diện của cơ quan nơi người bị thiệt hại làm việc, đại diện của một tổ chức chính trị - xã hội mà người bị thiệt hại là thành viên;

+ Đăng trên một tờ báo trung ương và một tờ báo địa phương trong ba số liên tiếp theo yêu cầu của người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ.

Trường hợp người bị thiệt hại chết, thân nhân của họ có quyền yêu cầu khôi phục danh dự. 

2.10. Kinh phí bồi thường

a) Nguồn kinh phí bồi thường (Điều 52)

Các khoản bồi thường thiệt hại của Nhà nước đều là các khoản chi không thường xuyên, phát sinh đột xuất, mức chi không đồng đều giữa các địa phương (phụ thuộc vào người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức khi thi hành công vụ, điều này nằm ngoài ý muốn chủ quan của người thi hành công vụ). Do vậy, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định, trường hợp cơ quan trung ương có trách nhiệm bồi thường thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách trung ương; trường hợp cơ quan địa phương có trách nhiệm bồi thường thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách địa phương (Điều 52).

Quy định như trên sẽ thuận lợi cho việc cân đối ngân sách của mỗi địa phương, khoản dự toán bồi thường thiệt hại sẽ được phân bổ khi có yêu cầu chi trả tiền bồi thường, trường hợp thiếu thì có thể bổ sung hoặc ứng trước ngân sách năm sau, như vậy vẫn đảm bảo hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước.

b) Lập dự toán và quyết toán kinh phí bồi thường

Việc lập dự toán kinh phí bồi thường phải thực hiện hàng năm, do cơ quan tài chính các cấp phối hợp với cơ quan, đơn vị cùng cấp thực hiện trên cơ sở căn cứ vào thực tế bồi thường của năm trước để trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và được phân bổ cho các cơ quan, đơn vị khi có yêu cầu chi trả tiền bồi thường (Điều 53). 

Kết thúc năm ngân sách, các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm bồi thường lập quyết toán kinh phí đã chi trả bồi thường, tổng hợp chung trong quyết toán ngân sách hàng năm của cơ quan, đơn vị gửi cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà  nước (Điều 55).

 c) Trình tự, thủ tục cấp và chi trả tiền bồi thường

Điều 54 của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định kinh phí được lấy từ cơ quan tài chính cùng cấp, trong trường hợp cơ quan có trách nhiệm bồi thường hưởng kinh phí từ ngân sách trung ương thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị bồi thường lên cơ quan quản lý cấp trên để cơ quan này gửi hồ sơ lên cơ quan tài chính cùng cấp để đề nghị cấp kinh phí. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị bồi thường hợp lệ thì cơ quan tài chính có thẩm quyền cấp kinh phí bồi thường thiệt hại cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được cấp kinh phí bồi thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải thực hiện việc chi trả bồi thường cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của người bị thiệt hại. Trường hợp cơ quan có trách nhiệm bồi thường không tự nguyện thi hành bản án, quyết định giải quyết bồi thường của Toà án có hiệu lực pháp luật thì người được bồi thường có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự.

2.11. Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ

 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã quy định một cách toàn diện về nghĩa vụ hoàn trả, căn cứ xác định mức hoàn trả, trình tự, thủ tục quyết định việc hoàn trả, thực hiện việc hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại.

Theo đó, người thi hành công vụ có lỗi gây ra thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, đối với việc bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, do đặc thù của hoạt động tố tụng hình sự và yêu cầu của việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải đưa ra các quyết định một cách nhanh chóng, chính vì vậy, khó có thể tránh khỏi việc gây ra thiệt hại cho người khác. Khoản 2, Điều 56 quy định trong trường hợp gây ra thiệt hại mà do lỗi vô ý thì người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự không phải chịu trách nhiệm hoàn trả.

   - Căn cứ xác định mức hoàn trả (Điều 57) bao gồm: Mức độ lỗi của người thi hành công vụ; mức độ thiệt hại đã gây ra; điều kiện kinh tế của người thi hành công vụ. Nhiều người thi hành công vụ cùng gây ra thiệt hại thì những người đó có nghĩa vụ liên đới hoàn trả; cơ quan có trách nhiệm bồi thường chủ trì, phối hợp với các cơ quan quản lý những người thi hành công vụ gây ra thiệt hại thống nhất xác định mức hoàn trả cho từng cá nhân có nghĩa vụ hoàn trả.

- Trình tự, thủ tục quyết định việc hoàn trả (Điều 58): Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày đã thực hiện xong việc chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải thành lập Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả để xác định trách nhiệm hoàn trả, mức hoàn trả đối với người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày đã thực hiện xong việc chi trả tiền bồi thường, Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải ban hành quyết định hoàn trả. Quyết định hoàn trả phải được gửi đến người có nghĩa vụ hoàn trả, cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan có trách nhiệm bồi thường. 

Trường hợp người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả không đồng ý với quyết định hoàn trả thì Luật cũng quy định họ có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện quyết định hoàn trả theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (Điều 60). Trường hợp người thi hành công vụ không có khiếu nại, khởi kiện quyết định hoàn trả thì sau 15 ngày, quyết định hoàn trả có hiệu lực pháp luật và cơ quan đã ra quyết định có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định này (Điều 61).

- Thực hiện việc hoàn trả (Điều 62): Việc hoàn trả có thể được thực hiện một lần hoặc nhiều lần. Để thống nhất với quy định của Bộ luật lao động về việc khấu trừ tiền lương của người lao động, khoản 2 Điều 62 quy định trong trường hợp việc hoàn trả được thực hiện bằng cách trừ dần vào lương hàng tháng của người thi hành công vụ thì mức tối thiểu không dưới 10% và tối đa không quá 30% thu nhập từ tiền lương hàng tháng.

2.12.Các văn bản pháp luật hết hiệu lực kể từ ngày Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành

- Nghị quyết số 388/2003/NQ - UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra và các văn bản hướng dẫn thi hành;

- Nghị định số 47/CP ngày 03 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra và các văn bản hướng dẫn thi hành.

2.13. Áp dụng Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Điều 66)

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, tuy nhiên, trên thực tiễn, có các trường hợp: người bị thiệt hại đã yêu cầu bồi thường theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra nhưng yêu cầu chưa được thụ lý, hoặc đã được thụ lý nhưng chưa được giải quyết, hoặc chưa yêu cầu bồi thường... Để bảo đảm sự rõ ràng trong áp dụng pháp luật, Điều 66 của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã quy định rõ việc áp dụng pháp luật trong từng trường hợp, cụ thể là:

- Thứ nhất, đối với các trường hợp yêu cầu bồi thường đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thụ lý nhưng chưa giải quyết hoặc đang giải quyết theo Nghị quyết số 388/2003/NQ - UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra hoặc Nghị định số 47/CP ngày 03 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra trước ngày Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành thì tiếp tục áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật đó để giải quyết.

- Thứ hai, đối với các trường hợp được bồi thường theo Nghị quyết số 388/2003/NQ - UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra và Nghị định số 47/CP ngày 03 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra đến thời điểm Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực mà còn thời hiệu theo quy định của các văn bản này nhưng chưa yêu cầu Nhà nước bồi thường hoặc đã yêu cầu nhưng chưa được thụ lý thì áp dụng các quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để giải quyết. 

 

 

 

 

 


Phần thứ ba

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I.             NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA MỘT SỐ VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

1. Chỉ thị số 1565/CT-TTg ngày 06 tháng 10 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai thi hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Ngay sau khi Quốc hội thông qua Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 1565/CT-TTg ngày 06 tháng 10 năm 2009 về triển khai thi hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Chỉ thị nêu rõ, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một đạo luật mới, quan trọng, là cơ sở pháp lý để tổ chức, cá nhân thực hiện quyền yêu cầu bồi thường khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức nhà nước gây ra trong khi thi hành công vụ. Việc thi hành Luật sẽ tác động nhiều mặt đến hoạt động của các cơ quan nhà nước ở các cấp, các ngành, đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.

Để bảo đảm thi hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu quả đòi hỏi các cán bộ, công chức, các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương phải nhận thức đầy đủ, thống nhất về ý nghĩa, nội dung của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành; cán bộ, công chức phải nhận thức rõ được trách nhiệm công vụ của mình, cũng như các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp cần có nhận thức đầy đủ về quyền yêu cầu bồi thường nhà nước và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường để thực hiện quyền được bồi thường của mình, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị:

a) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm:

- Tổ chức triển khai tuyên truyền, phổ biến Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đến mọi tổ chức, cá nhân trong phạm vi Bộ, ngành, địa phương mình.

- Đối với đối tượng là cán bộ, công chức, cần kết hợp việc quán triệt tinh thần và nội dung các quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước với việc nâng cao tinh thần, trách nhiệm công vụ, đặc biệt là cần thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về chức trách của công chức, cần nhận thức đầy đủ về những hành vi, quyết định hành chính được quy định trực tiếp trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mà việc thực hiện các hành vi hay quyết định này có thể dẫn đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

- Chỉ đạo việc phân công theo dõi và trách nhiệm thực hiện việc giải quyết yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi các trường hợp được bồi thường theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để bảo đảm kịp thời giải quyết bồi thường theo yêu cầu của người bị thiệt hại.

b) Bộ trưởng Bộ Tư pháp có trách nhiệm:

- Trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

- Chủ trì hoặc phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan liên quan ban hành văn bản hướng dẫn về giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án dân sự (tháng 11 năm 2009);

- Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các cơ quan liên quan ban hành văn bản hướng dẫn về giải quyết bồi thường trong hoạt động thi hành án hình sự, hoạt động tố tụng (tháng 11 năm 2009);

- Chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (quý IV năm 2009); biên soạn tài liệu, xây dựng chương trình tập huấn về pháp luật, về kỹ năng, nghiệp vụ giải quyết bồi thường và phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức bồi dưỡng pháp luật, tập huấn kỹ năng nghiệp vụ giải quyết bồi thường (quý IV năm 2009, quý I và II năm 2010).

c) Bộ trưởng Bộ Nội vụ có trách nhiệm:

- Ban hành văn bản hướng dẫn về việc xử lý trách nhiệm đối với cán bộ, công chức có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ;

- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức để hạn chế các hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

d) Bộ trưởng Bộ Công an có trách nhiệm: Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng và các cơ quan liên quan ban hành văn bản hướng dẫn về giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự; Chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan liên quan ban hành văn bản hướng dẫn về giải quyết bồi thường trong hoạt động thi hành án hình sự.

e) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm: Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an và các cơ quan liên quan ban hành văn bản hướng dẫn về giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự.

2. Nghị định số 16/2010/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Nghị định được ban hành là một bước quan trọng để hoàn thiện thể chế về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, bảo đảm tính khả thi của cơ chế giải quyết bồi thường nhà nước, cũng như tạo thuận lợi cho việc triển khai thi hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Nghị định có 5 Chương và 29 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 4 năm 2010, quy định về giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án; quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án.

a) Cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Mặc dù Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định cơ quan hành chính trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại là cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, trong thực tiễn, nhiều trường hợp cho thấy việc xác định cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường còn gặp những vướng mắc, bất cập, làm ảnh hưởng đến quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại.

Do vậy, Nghị định đã quy định rõ hơn, cụ thể hơn về cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án dân sự tại Điều 3 và Điều 4 của Nghị định là cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại.

Cụ thể:

-   Người thi hành công vụ gây ra thiệt hại là cán bộ, công chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường là Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; trong trường hợp người thi hành công vụ gây ra thiệt hại là công chức của Tổng cục, Cục, các đơn vị khác có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thì các cơ quan này có trách nhiệm bồi thường.

-   Người thi hành công vụ gây ra thiệt hại do các cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp quản lý thì các cơ quan này có trách nhiệm bồi thường.

-   Người thi hành công vụ gây ra thiệt hại do các cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện trực tiếp quản lý thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường là Ủy ban nhân dân cấp huyện.

-   Người thi hành công vụ gây ra thiệt hại là công chức của Tổng cục Thi hành án dân sự, Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh, Cục Thi hành án Bộ Quốc phòng, Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện, Phòng Thi hành án cấp quân khu thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường là Tổng cục Thi hành án dân sự, Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh, Cục Thi hành án Bộ Quốc phòng, Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện, Phòng Thi hành án cấp quân khu.

Thủ tục xác định cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường trong trường hợp người bị thiệt hại không xác định được cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc không có sự thống nhất về cơ quan có trách nhiệm bồi thường.

Trên thực tế, có những trường hợp thiệt hại gây ra là do lỗi của hai hay nhiều người thi hành công vụ ở các cơ quan khác nhau. Đối với các trường hợp này, nếu không có sự thống nhất về cơ quan nào là cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường thì sẽ gây ra tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm bồi thường. Điều 5 của Nghị định đã quy định người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo thủ tục sau đây:

- Trường hợp người bị thiệt hại không xác định được cơ quan có trách nhiệm bồi thường thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu bằng văn bản của người bị thiệt hại, cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường phải có văn bản xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường;

- Trường hợp không có sự thống nhất về cơ quan có trách nhiệm bồi thường thì thời hạn ban hành văn bản xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường có thể được kéo dài nhưng không quá 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu bằng văn bản của người bị thiệt hại. Việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp không có sự thống nhất về cơ quan có trách nhiệm bồi thường được tiến hành như sau:

+ Theo yêu cầu của người bị thiệt hại, cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc gây ra thiệt hại để xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường;

+ Trong trường hợp không có sự thống nhất về việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường thì cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường quyết định một cơ quan trong số các cơ quan có liên quan là cơ quan có trách nhiệm bồi thường.

- Văn bản xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải được gửi ngay cho người bị thiệt hại và cơ quan có trách nhiệm bồi thường để thực hiện.

* Trong hoạt động tố tụng: Nếu người bị thiệt hại không xác định được cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc không có sự thống nhất về cơ quan có trách nhiệm bồi thường thì có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Tư pháp.

b) Nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự, thủ tục thực hiện việc giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường.

Theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải chủ động tổ chức việc giải quyết bồi thường và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. Để bảo đảm việc giải quyết bồi thường kịp thời, đúng pháp luật, chính xác và thống nhất, Nghị định đã quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong quá trình giải quyết bồi thường (Điều 6); cử người đại diện thực hiện việc giải quyết bồi thường (Điều 7); nhiệm vụ, quyền hạn của người đại diện (Điều 8); thủ tục giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường (Điều 9); thực hiện việc chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại (Điều 10)... .

Người đại diện thực hiện việc giải quyết bồi thường phải có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 8:

+ Là cán bộ lãnh đạo cấp phòng trở lên hoặc tương đương;

+ Có kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực phát sinh trách nhiệm bồi thường;

+ Không phải là người liên quan của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại hoặc của người bị thiệt hại (không phải là vợ/chồng, ông/bà nội, ngoại, cha/mẹ, con, anh/chị/em, cháu nội, ngoại của người gây ra thiệt hại hoặc của người bị thiệt hại).

       Thủ tục giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường (Điều 9)

- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu bồi thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải tiến hành việc xác minh thiệt hại để làm căn cứ xác định mức bồi thường.

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc việc xác minh thiệt hại, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải tiến hành thương lượng với người bị thiệt hại.

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc việc thương lượng, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải hoàn thành dự thảo quyết định giải quyết bồi thường. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan có trách nhiệm bồi thường có thể gửi dự thảo quyết định giải quyết bồi thường để lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan.

- Căn cứ vào kết quả xác minh thiệt hại, thương lượng với người bị thiệt hại và ý kiến của các cơ quan có liên quan (nếu có), cơ quan có trách nhiệm bồi thường ban hành quyết định giải quyết bồi thường và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

- Khi quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải thực hiện thủ tục cấp và chi trả tiền bồi thường.

            Việc chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại thực hiện theo thủ tục sau: Người thực hiện việc chuyển giao phải trực tiếp giao quyết định giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại. Trong trường hợp người bị thiệt hại vắng mặt thì quyết định giải quyết bồi thường có thể được giao cho người thân có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú với họ. Người nhận quyết định phải ký nhận vào biên bản hoặc sổ giao nhận quyết định giải quyết bồi thường. Ngày ký nhận được tính là ngày người bị thiệt hại nhận được quyết định giải quyết bồi thường.

Trong trường hợp người bị thiệt hại không có người thân có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú hoặc có nhưng họ từ chối nhận hộ quyết định giải quyết bồi thường thì có thể chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường thông qua Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị thiệt hại cư trú.

Trong trường hợp người bị thiệt hại từ chối nhận quyết định giải quyết bồi thường thì người thực hiện việc chuyển giao phải lập biên bản trong đó nêu rõ lý do của việc từ chối, có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố hoặc Ủy ban nhân dân, công an xã, phường, thị trấn về việc người đó từ chối nhận quyết định giải quyết bồi thường.

c) Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã quy định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại. Tuy nhiên, cách thức và thủ tục xác định mức hoàn trả được thực hiện như thế nào thì Luật chưa quy định rõ. Trách nhiệm hoàn trả là một dạng trách nhiệm vật chất của cán bộ, công chức, do đó cần phải được xác định một cách chính xác và công bằng, tránh tình trạng gây ra sự ức chế, thụ động của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ. Để giải quyết vấn đề này, Nghị định đã dành 08 điều (từ Điều 13 đến Điều 20) quy định cụ thể về Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả; cách thức xác định mức hoàn trả và thực hiện thu, nộp, quản lý tiền hoàn trả.

Xác định mức hoàn trả (Điều 18)

Mức hoàn trả được thực hiện theo theo nguyên tắc:

- Trường hợp người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây ra thiệt hại, nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường căn cứ vào mức độ thiệt hại gây ra, điều kiện kinh tế của người đó để quyết định họ phải hoàn trả một khoản tiền nhất định, nhưng tối đa không quá 36 tháng lương của người đó tại thời điểm quyết định việc hoàn trả.

- Trường hợp người thi hành công vụ có lỗi vô ý gây ra thiệt hại thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường căn cứ vào mức độ thiệt hại gây ra, điều kiện kinh tế của người đó để quyết định họ phải hoàn trả một khoản tiền nhất định, nhưng tối đa không quá 03 tháng lương của người đó tại thời điểm quyết định việc hoàn trả, trừ trường hợp người thi hành công vụ có lỗi vô ý của  trong hoạt động tố tụng hình sự.

            - Trường hợp người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây ra thiệt hại mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự do việc thực hiện hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại đó thì phải hoàn trả toàn bộ số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải yêu cầu Toà án xác định trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn của bị cáo là người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại để hoàn trả số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại.

Thu, nộp, quản lý và sử dụng tiền hoàn trả (Điều 19, Điều 20)

- Người có nghĩa vụ hoàn trả phải thực hiện đúng thời hạn, mức và phương thức hoàn trả ghi trong quyết định hoàn trả.

- Cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải thu và nộp đầy đủ, kịp thời toàn bộ khoản tiền hoàn trả vào ngân sách nhà nước.

            - Trong trường hợp người thi hành công vụ cố ý không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả mà đã được cơ quan có trách nhiệm bồi thường thông báo đến lần thứ ba về việc hoàn trả thì bị kỷ luật theo quy định của pháp luật.

- Trường hợp người có nghĩa vụ hoàn trả đã chuyển công tác đến cơ quan khác trong bộ máy nhà nước thì cơ quan nhà nước đó có trách nhiệm đôn đốc việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả.

- Trường hợp người có nghĩa vụ hoàn trả không còn làm việc trong các cơ quan nhà nước thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải thực hiện các biện pháp thu hồi khoản tiền hoàn trả theo quy định của pháp luật.

d) Nội dung quản lý nhà nước về công tác bồi thường.

Giải quyết bồi thường nhà nước là một nhiệm vụ phức tạp vì có liên quan đến cả yếu tố pháp lý, kinh tế và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, của cán bộ, công chức đã gây ra thiệt hại và lợi ích của Nhà nước, cũng như uy tín của các cơ quan nhà nước. Do đó, quản lý nhà nước về công tác bồi thường đã được Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ghi nhận và giao trách nhiệm cho Chính phủ, các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Để hướng dẫn chi tiết việc thi hành Luật, Nghị định đã quy định cụ thể hơn nội dung quản lý nhà nước về công tác bồi thường (Điều 21), trong đó, bên cạnh các nội dung về xây dựng, hoàn thiện thể chế; phổ biến, tuyên truyền và hướng dẫn nghiệp vụ; theo dõi, kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại tố cáo, quản lý nhà nước về công tác bồi thường còn có nội dung đặc thù như: xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp người bị thiệt hại yêu cầu hoặc không có sự thống nhất về cơ quan có trách nhiệm bồi thường.

Quản lý nhà nước về công tác bồi thường là một nhiệm vụ mới, do đó, để bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả của công tác này, Nghị định đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm phối hợp trong việc quản lý nhà nước về công tác bồi thường của Bộ Tư pháp; các Bộ, cơ quan ngang Bộ; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Uỷ ban nhân cấp huyện. Theo đó, Bộ Tư pháp có trách nhiệm giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, thi hành án và phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động tố tụng; tổ chức pháp chế thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ tham mưu, giúp Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường; Sở Tư pháp tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong phạm vi địa phương. Riêng về đơn vị giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường, Chính phủ yêu cầu không quy định trực tiếp trong Nghị định mà giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ xây dựng Đề án, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

 Định kỳ sáu tháng và hàng năm, các cơ quan này phải tiến hành thống kê, tổng kết, đánh giá việc thực hiện bồi thường trong phạm vi do mình quản lý.

e) Các điều kiện bảo đảm cho công tác giải quyết bồi thường và thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường.

Để bảo đảm công tác giải quyết bồi thường và thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường, Nghị định đã quy định cụ thể về việc bảo đảm về tài chính  tại Điều 27:

- Kinh phí bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được bảo đảm từ ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.

- Kinh phí bảo đảm cho công tác quản lý nhà nước và việc giải quyết bồi thường do ngân sách nhà nước bảo đảm trong dự toán kinh phí chi hoạt động của các cơ quan, tổ chức thực hiện việc quản lý hoặc giải quyết bồi thường nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

- Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước cho công tác quản lý nhà nước về bồi thường và công tác giải quyết bồi thường.

Với các quy định chi tiết và cụ thể nêu trên, Nghị định có ý nghĩa bảo đảm cơ chế giải quyết bồi thường thuộc trách nhiệm của Nhà nước được thực hiện có hiệu quả. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 4 năm 2010 và không áp dụng quy định về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ tại Chương III của Nghị định này để giải quyết việc hoàn trả đối với các trường hợp áp dụng thủ tục giải quyết bồi thường theo quy định tại Nghị định số 47/CP ngày 03 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.

II.          PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

Trên thế giới, chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hình thành rất sớm, đặc biệt là ở những nước phát triển. Những quy định về bồi thường nhà nước của một số quốc gia đó đã có ảnh hưởng nhất định đối với pháp luật dân sự của Việt Nam qua các thời kỳ.

1. Việc bồi thường của cơ quan nhà nước ở Cộng hòa Pháp[4]

Pháp không ban hành văn bản chuyên biệt về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mà việc bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra oan sai được quy định trong Luật tố tụng hình sự. Việc bồi thường gắn liền chặt chẽ với trình tự xem xét lại bản án hình sự theo trình tự phúc thẩm và giám đốc thẩm. Pháp luật của Cộng hoà pháp quy định về bồi thường do chế định này nằm trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự. Vì vậy, các bản án oan, sai của Toà án phúc thẩm và giám đốc thẩm được coi là cơ sở pháp lý cơ bản để xác định trách nhiệm bồi thường.

Phạm vi trách nhiệm bồi thường gồm có:

- Bồi thường về vật chất: Pháp luật bồi thường án oan, sai là một khoản tiền bồi thường dành cho nạn nhân của oan, sai hoặc cho người thân của người đó tương ứng với những thiệt hại mà việc kết tội sai gây ra. Phạm vi xem xét trách nhiệm bồi thường vật chất bao gồm cả khoản thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần được tính ra bằng tiền. Chủ thể của quyền yêu cầu bồi thường được xác định chính là nạn nhân của oan, sai hoặc nếu anh ta đã mất thì vợ hoặc chồng, bố mẹ hoặc con. Trong trường hợp những người này không còn, thì chủ thể yêu cầu bồi thường được mở rộng đến ngưòi thân xa hơn nhưng khoản  bồi thường lại được xác định hẹp hơn: chỉ bao gồm những thiệt hại vật chất mà bản án sai đã gây ra cho nạn nhân.

- Bồi thường về tinh thần: Đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại tinh thần đuợc xem xét sau khi đã có quyết định của Toà án xét lại công nhận sự vô tội của người bị thiệt hại. Quyết định đó sẽ được niêm yết tại thành phố nơi quyết định kết án đã được công bố; tại địa phương nơi xảy ra vụ án và tại nơi thường trú của người đệ đơn, tại nơi sinh và nơi ở cuối cùng của người đã bị kết án sai nếu người ấy đã chết; với cùng một điều kiện văn bản của quyết định cũng được công bố toàn văn trong công báo và trong 05 tờ báo khác do Toà án chọn, chi phí công bố này do nhà nước trả.

- Về thủ tục yêu cầu bồi thường vật chất: Đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại phải viết tay, có dán tem và phải đăng ký (việc đăng ký có thể được thực hiện vào bất kỳ thời điểm nào của quá trình xem xét lại bản án nhưng không được thực hiện sau khi quyết định xem xét lại được công bố).

Ở Pháp, mọi trường hợp bồi thường thiệt hại do lỗi của công chức đều do Toà án quyết định. Các khoản bồi thường này được Nhà nước chi trả và được chi như án phí hình sự, trừ những ngoại lệ trong các trường hợp việc bồi thường cần phải thông qua một quá trình chứng minh đánh giá, mà kết quả cho thấy việc thiệt hại chính do lỗi của nguyên đơn dân sự người tố giác hoặc nhân chúng giả mà bản án được tuyên.

2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của công chức ở Cộng hòa Liên bang Đức[5]

Cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường nhà nước ở Đức là những quy định trong nhiều văn bản như Hiến pháp; Bộ luật dân sự; Luật phòng, chống lây nhiễm; Luật bồi thường đối với các biện pháp hình sự…Khi chủ thể nắm quyền lực công mà có hành vi vi phạm quyền lợi của công dân thì Hiến pháp Đức bảo đảm cho công dân sự bảo vệ pháp lý. Theo đó, công dân có quyền được đề nghị thẩm định tính hợp pháp của hành vi do công chức nhà nước thực hiện (bảo vệ pháp lý nguyên phát). Sự bảo vệ pháp lý ấy còn được bổ sung bởi Luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước (ở một số bang mới sáp nhập) vì bên cạnh việc thẩm định hành vi công quyền qua Toà án, Luật này đưa ra khả năng đòi bồi thường hậu quả của sự vi phạm trên (bảo vệ pháp lý thứ phát).

Công dân Đức có quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại, yêu cầu xoá bỏ hậu quả bất lợi khi:

- Có hành vi vi phạm nghĩa vụ công vụ của công chức. Người bị thiệt hại có thể đòi bồi thường toàn bộ thiệt hại, kể cả thu nhập (lãi) bị mất và tiền bồi thường cho thiệt hại tinh thần. Tuy nhiên, trong trường hợp vi phạm đó xảy ra do lỗi vô ý thì công chức chỉ chịu trách nhiệm nếu người bị thiệt hại không được bồi thường bằng một cách khác.

- Có các biện pháp và quyết định bất hợp pháp của ngành tư pháp. Thẩm phán có hành vi vi phạm nghĩa vụ công vụ trong quá trình xét xử, Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm bồi thường nếu sự vi phạm đó đồng thời là tội phạm (bóp méo luật hoặc nhận hối lộ). Trong trường hợp phán quyết của Thẩm phán trong thủ tục thi hành án, lệnh trong tố tụng hình sự hoặc nghị quyết trong các thủ tục nhằm xác định án phí hoặc ấn định giá trị tố tụng sẽ được ngoại trừ để bảo vệ sự độc lập của Thẩm phán, bảo vệ hiệu lực pháp luật của các phán quyết Nhà nước. Người bị thiệt hại chỉ được bồi thường thiệt hại về tài sản nếu thiệt hại đó lớn hơn 25 Euro và được bồi thường 11 Euro cho mỗi ngày bị giam đối với thiệt hại phi vật chất.

- Có sai phạm trong hoạt động lập pháp. Hiến pháp Đức quy định công dân không thể trực tiếp chống lại tác động gây hại sinh ra từ hành vi lập pháp. Theo đó, anh ta phải đợi luật được thi hành rồi mới khởi kiện (bảo vệ pháp lý nguyên phát). Ngoài ra các nghị sĩ phải chịu trách nhiệm trước xã hội nói chung chứ hành vi công vụ của họ không nhằm bảo vệ người thứ ba, do vậy, ở đây không tồn tại khả năng vi phạm nghĩa vụ công vụ.

Về quyền khởi kiện của công dân.

+ Quyền khởi kiện yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi công chức nhà nước vi phạm nghĩa vụ công vụ. Người bị thiệt hại có thể khởi kiện đòi bồi thường toàn bộ thiệt hại, kể cả thu nhập (tiền lãi) bị mất và tiền bồi thường thiệt hại về tinh thần. Quyền này được quy định trong Hiến pháp và Bộ luật dân sự. Toà án có thẩm quyền giải quyết là Toà án cấp bang.

+ Quyền khởi kiện theo hợp đồng từ các quan hệ nghĩa vụ theo luật công. Người bị thiệt hại có thể đòi bồi thường toàn bộ thiệt hại khi cơ quan hành chính có hành vi vi phạm nghĩa vụ và có lỗi trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ tài sản và quyền lợi công dân. Thủ tục giải quyết sẽ tiến hành theo quy chế tố tụng hành chính, được quy định trong Bộ luật dân sự và Luật thủ tục hành chính.

+ Quyền khởi kiện yêu cầu xoá bỏ hậu quả bất lợi, nhằm bảo vệ các quyền cơ bản của công dân. Người bị thiệt hại có thể yêu cầu khôi phục lại tình trạng ban đầu trước khi bị vi phạm và hậu quả kéo dài bất hợp pháp (không xét tính bất hợp pháp của sự vụ, mà xét tính bất hợp pháp của hậu quả), không phụ thuộc vào lỗi của chủ thể, nhưng không được yêu cầu bồi thường về tiền và lãi suất bị mất. Toà án có thẩm quyền giải quyết là Toà án hành chính.

+ Quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường khi Nhà nước trưng dụng tài sản của công dân (xuất phát từ chế định bảo đảm quyền sở hữu). Nguời bị thiệt hại có thể yêu cầu đền bù bằng tiền theo giá trị thị trường của thiệt hại nhưng không được đền bù toàn bộ và không tính lãi suất. Toà án có thẩm quyền giải quyết là Toà án dân sự, quyền này được quy định trong Hiến pháp và theo án lệ.

+ Quyền yêu cầu bồi thường vì trở thành nạn nhân bị thiệt hại đến các giá trị phi vật chất (mạng sống, sức khoẻ, tự do) bởi sự can thiệp của công quyền (kể cả biện pháp hoạch định, dự phòng và xã hội của Nhà nước), được quy định trong Luật cảnh sát của liên bang và tiểu bang, Luật hình sự, Luật thủ tục hành chính của liên bang và tiểu bang, Bộ luật xã hội VII…

3. Luật bồi thường Nhà nước của Trung Quốc[6]

Nhằm góp phần đảm bảo cho các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức thực thi đúng nhiệm vụ, quyền hạn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, pháp nhân và tổ chức trong xã hội, ngày 12/5/1994, Trung Quốc ban hành Luật Bồi thường nhà nước, đạo luật này có hiệu lực từ ngày 1/1/1995.

Luật Bồi thường nhà nước gồm 6 chương, chia thành 35 điều.

- Chương 1: “Những quy định chung”, gồm 2 điều (Điều 1 và Điều 2) quy định mục đích và nguyên tắc bồi thường nhà nước.

- Chương 2: “Bồi thường hành chính”, gồm 12 điều (từ Điều 3 đến Điều 14), quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các cơ quan hành chính khi thực thi nhiệm vụ, quyền hạn trái pháp luật gây ra.

- Chương 3: “Bồi thường hình sự” gồm 10 điều (từ Điều 15 đến Điều 24), quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự (hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự) gây ra cho cá nhân, pháp nhân và các tổ chức khác trong xã hội.

- Chương 4: “Hình thức và cách xác định bồi thường”, gồm 9 điều (từ Điều 25 đến Điều 33), quy định về hình thức bồi thường và cách xác định mức bồi thường.

- Chương 5: “Các quy định bổ sung”, gồm 2 điều (từ Điều 34 đến Điều 35) quy định nguyên tắc không thu phí, lệ phí, án phí, thuế đối với yêu cầu đòi bồi thường của người bị thiệt hại (Điều 34) và thời điểm có hiệu lực của Luật (Điều 35).

a) Mục đích ban hành Luật bồi thường Nhà nước

Theo quy định của chương 1, Luật Bồi thường nhà nước nhằm mục đích: bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và các tổ chức khác khi cơ quan nhà nước không thực thi đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật; khuyến khích các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức thực thi đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Điều này cũng có nghĩa là, việc ban hành Luật Bồi thường nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng một nhà nước pháp quyền ở Trung Quốc, đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, theo đó không chỉ cá nhân, pháp nhân và các tổ chức trong xã hội có trách nhiệm tôn trọng, tuân thủ pháp luật mà bản thân cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức cũng phải tuân thủ pháp luật khi thực thi quyền lực nhà nước.

b) Phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước

Chương 2 và chương 3 của Luật Bồi thường Nhà nước quy định việc bồi thường nhà nước được đặt ra trong 2 lĩnh vực là hành chính và hình sự (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự). Đối với các thiệt hại do các cơ quan nhà nước thực hiện trong các hoạt động tố tụng như xét xử và thi hành án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, thương mại, hành chính gây ra, việc bồi thường được áp dụng tương tự như trong lĩnh vực hình sự. Tuy nhiên, Luật Bồi thường nhà nước chưa đề cập đến các thiệt hại do các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, lập quy gây ra.

Bồi thường nhà nước trong lĩnh vực hành chính

            Luật bồi thường nhà nước của Trung Quốc quy định người bị thiệt hại được bồi thường đối với thiệt hại về quyền nhân thân và quyền tài sản.

            Cụ thể là Điều 3 quy định: Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường khi cơ quan hành chính hoặc cán bộ, công chức của cơ quan này khi thực thi nhiệm vụ có một trong những hành vi nào trong các hành vi sau đây xâm phạm quyền nhân thân:

         + Giam giữ công dân một cách trái pháp luật hoặc áp dụng một cách trái pháp luật các biện pháp cưỡng chế hành chính xâm phạm quyền tự do thân thể của công dân;

         + Bắt giữ một cách trái pháp luật hoặc tước đoạt các quyền tự do thân thể bởi các phương tiện bất hợp pháp khác;

         + Sử dụng bạo lực gây thương tích hoặc làm chết người;

         + Sử dụng trái pháp luật vũ khí, các phương tiện cưỡng chế gây thương tích hoặc làm chết người;

         + Các hành vi trái pháp luật khác gây thương tích hoặc làm chết người.

         Điều 4 quy định: Người bị thiệt hại có quyền bồi thường nếu cơ quan hành chính hoặc cán bộ, công chức của cơ quan này khi thực thi nhiệm vụ có một trong những hành vi sau đây xâm phạm tới quyền tài sản:

         + Áp dụng một cách trái pháp luật các chế tài hành chính như phạt tiền, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận, buộc đình chỉ hoạt động sản xuất, kinh doanh, tịch thu tài sản;

         + Áp dụng một cách trái pháp luật các biện pháp cưỡng chế hành chính như niêm phong, phong toả, cấm sử dụng, khai thác tài sản;

         + Chiếm dụng tài sản, thu các khoản phí trái với quy định của nhà nước;

         + Thực hiện các hành vi trái pháp luật khác gây thiệt hại về tài sản”.

            - Bên cạnh đó, Nhà nước Trung Quốc không chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại trong những trường hợp quy định tại Điều 5 là: (1) Việc thực thi nhiệm vụ quyền hạn được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật; (2) Thiệt hại xảy ra là hoàn toàn do lỗi của các cá nhân, pháp nhân và các tổ chức khác; (3) Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.

            - Đồng thời, để đảm bảo quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại, Điều 6 quy định: Trường hợp người bị thiệt hại là cá nhân chết, thì người thừa kế của người này có quyền yêu cầu bồi thường. Trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân, tổ chức khác đã bị chấm dứt hoạt động thì người kế thừa pháp nhân, tổ chức đó có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

            - Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Điều 7 của Luật quy định: cơ quan nào gây ra thiệt hại thì cơ quan đó phải có trách nhiệm bồi thường. Nếu có nhiều cơ quan cùng liên đới gây ra thiệt hại thì các cơ quan đó cùng phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường. Trường hợp tổ chức được ủy quyền thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về hành chính theo quy định của pháp luật mà gây thiệt hại, thì tổ chức được ủy quyền phải chịu trách nhiệm bồi thường. Trường hợp tổ chức, cá nhân được ủy quyền thực hiện nhiệm vụ của cơ quan hành chính khác mà gây thiệt hại thì cơ quan hành chính đã ủy quyền phải chịu trách nhiệm bồi thường. Trường hợp cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường không còn tồn tại thì cơ quan kế thừa nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đó sẽ phải bồi thường. Trường hợp không có cơ quan kế thừa nhiệm vụ, quyền hạn thì cơ quan ra quyết định chấm dứt sự tồn tại của cơ quan có trách nhiệm bồi thường sẽ phải bồi thường.

            Để được bồi thường thiệt hại, người bị thiệt hại phải gửi đơn yêu cầu đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Trong thời hạn 2 tháng, cơ quan nhận đơn phải xem xét bồi thường thiệt hại. Nếu không được bồi thường hoặc không thoả mãn với mức bồi thường, người bị thiệt hại có thể khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền trong thời hạn 3 tháng kể từ khi hết thời hạn giải quyết việc bồi thường (Điều 13).

            Sau khi bồi thường, cơ quan đã thực hiện việc bồi thường có trách nhiệm xử lý người có hành vi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và các tổ chức khác để buộc người này phải chịu một phần hoặc toàn bộ phần tiền đã bồi thường và chế tài hành chính. Trường hợp có dấu hiệu tội phạm, người gây thiệt hại sẽ bị điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật hình sự (Điều 14).

         Bồi thường nhà nước trong lĩnh vực hình sự

         Điều 15 của Luật Bồi thường nhà nước Trung Quốc quy định: người bị thiệt hại bởi hành vi của cơ quan tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự có quyền yêu cầu bồi thường trong các trường hợp sau:

         + Bị giam giữ trái pháp luật mà không có bằng chứng rõ ràng về việc thực hiện hành vi phạm tội;

         + Bị bắt giữ trái pháp luật mà không có chứng cứ về việc thực hiện hành vi phạm tội;

         + Bị kết tội và đã bị thi hành án nhưng được tuyên là vô tội;

         + Bị bức cung, nhục hình dẫn đến gây thương tích hoặc làm chết người;

         + Bị gây thương tích hoặc chết do cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng trái phép các vũ khí, công cụ hỗ trợ.

            Người bị thiệt hại về tài sản được bồi thường khi cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án hình sự có một trong các hành vi quy định tại Điều 16, gồm: Thực hiện một cách trái pháp luật việc niêm phong, phong toả, hoàn trả tài sản; tịch thu tài sản, phạt tiền do bị kết tội nhưng sau đó lại được tuyên vô tội.

            Tuy nhiên, Nhà nước không chịu trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp sau đây:

         + Việc bị bắt, giam giữ hoặc kết tội là do chính người bị thiệt hại đã cố ý khai báo gian dối, giả mạo chứng cứ;

         + Cơ quan tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình;

         + Thiệt hại xảy ra là do người bị thiệt hại tự gây ra;

         + Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.

            - Về cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường trong lĩnh vực hình sự, quy định tại Điều 19: cơ quan nào gây thiệt hại thì cơ quan đó có trách nhiệm bồi thường. Đối với trường hợp giam giữ thì cơ quan quyết định việc giam giữ phải có trách nhiệm bồi thường. Đối với trường hợp bắt giữ thì cơ quan quyết định việc bắt giữ phải có trách nhiệm bồi thường. Trường hợp người bị kết tội bị xét xử nhưng sau đó vô tội thì Toà án đã kết tội phải có trách nhiệm bồi thường. Trường hợp án sơ thẩm tuyên có tội, án phúc thẩm tuyên vô tội thì Toà sơ thẩm phải có trách nhiệm bồi thường.

            Để được bồi thường, người bị thiệt hại phải gửi đơn yêu cầu tới cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải giải quyết yêu cầu bồi thường trong vòng 2 tháng, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu bồi thường. Trong thời hạn đó nếu người yêu cầu bồi thường không được giải quyết bồi thường hoặc được giải quyết nhưng không thoả mãn với mức bồi thường, thì trong vòng 30 ngày, kể từ khi hết thời hạn giải quyết bồi thường, người đó có quyền khiếu nại lên cấp trên trực tiếp của cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Trường hợp cơ quan có trách nhiệm bồi thường là Toà án nhân dân thì việc khiếu nại được chuyển lên Hội đồng giải quyết bồi thường của Toà án nhân dân ở cấp cao hơn.

Trong vòng 2 tháng, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, cơ quan nhận được đơn phải có trách nhiệm xem xét, giải quyết. Nếu vẫn không đồng ý với quyết định giải quyết của cơ quan này, người khiếu nại có thể gửi đơn đến Hội đồng giải quyết bồi thường của Toà án cùng cấp với cơ quan giải quyết đơn khiếu nại việc bồi thường để yêu cầu giải quyết bồi thường. Quyết định của Hội đồng giải quyết bồi thường có hiệu lực thi hành (Điều 23).

            Hội đồng giải quyết bồi thường được thành lập tại các Toà án từ cấp bậc trung trở lên, bao gồm từ 3 đến 7 thẩm phán hoạt động theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số (Điều 23).

            Sau khi bồi thường, cơ quan đã bồi thường phải xử lý và yêu cầu cán bộ, công chức có lỗi trong việc gây ra thiệt hại phải bồi hoàn một phần hoặc toàn bộ khoản bồi thường (Điều 24).

c) Hình thức bồi thường và xác định mức bồi thường

            Theo Luật Bồi thường nhà nước của Trung Quốc, hình thức bồi thường chủ yếu sẽ là bồi thường bằng tiền, trường hợp tài sản bị thu giữ trái pháp luật vẫn còn hoặc có thể khôi phục nguyên trạng được thì tài sản này sẽ được trả lại và khôi phục lại nguyện trạng (Điều 25).

            - Trường hợp quyền tự do của công dân bị xâm hại thì mức bồi thường cho mỗi ngày bị xâm hại là mức tiền lương trung bình mỗi ngày của người lao động tính được trong năm trước đó (Điều 26).

            - Trường hợp sức khoẻ bị xâm hại thì tiền chi phí y tế và thu nhập bị mất do không lao động được sẽ được bồi thường. Tiền thu nhập bị mất được tính theo mức tiền lương trung bình mỗi ngày của người lao động tính trong năm trước đó nhưng tổng số tiền được bồi thường tối đa là 5 lần tiền lương năm của người lao động đó.

            - Trường hợp mất khả năng lao động thì tùy theo mức độ mất khả năng lao động mà người bị thiệt hại được bồi thường chi phí chữa trị và phần thu nhập bị mất do mất khả năng lao động nhưng phần thu nhập bị mất được bồi thường tối đa là 10 lần lương trung bình của người lao động trong năm trước đó (đối với trường hợp mất một phần khả năng lao động) và 20 lần mức lương trung bình của người lao động trong năm trước đó (đối với trường hợp mất toàn bộ khả năng lao động). Tiền mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người khác cũng được bồi thường.

            - Trong trường hợp người bị thiệt hại chết thì mức bồi thường là 20 lần tiền lương năm trung bình của người lao động trong năm trước đó. Tiền mà người bị chết có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người khác cũng được bồi thường.

            - Trường hợp quyền tài sản bị xâm hại, thì việc giải quyết bồi thường được quy định như sau:

         + Trường hợp tịch thu tài sản, thì tài sản sẽ được hoàn trả;

         + Trường hợp tài sản bị niêm phong, phong toả thì lệnh niêm phong, phong toả sẽ bị hủy. Nếu vì sự niêm phong, phong toả này mà tài sản bị thiệt hại thì phần thiệt hại này sẽ được bồi thường;

         + Trường hợp tài sản được hoàn trả mà có thể khôi phục nguyên trạng thì tài sản sẽ được khôi phục nguyên trạng, trường hợp không khôi phục được thì phần thiệt hại sẽ được bồi thường;

         + Nếu tài sản không hoàn trả lại được do bị mất, bị tiêu hủy thì sẽ được bồi thường toàn bộ giá trị;

         + Nếu tài sản đã bị bán đấu giá thì tiền bán đấu giá sẽ được hoàn trả;

         + Nếu giấy phép hoặc giấy chứng nhận bị thu hồi trái pháp luật thì giấy phép và giấy chứng nhận được cấp lại và thiệt hại do hoạt động sản xuất, kinh doanh bị đình trệ sẽ được bồi thường.

         + Các thiệt hại khác đối với tài sản sẽ được bồi thường theo thực tế xảy ra.

d) Thời hiệu yêu cầu bồi thường

         Điều 32 của Luật Bồi thường nhà nước của Trung Quốc quy định thời hiệu yêu cầu bồi thường là 2 năm, kể từ khi việc thực thi nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan, cán bộ công chức gây ra thiệt hại chính thức được xác định là trái pháp luật. Thời hạn bị giam giữ không được tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường.

4. Luật bồi thường Nhà nước của Hàn Quốc[7]

Tại Hàn Quốc, chủ nghĩa hợp hiến và chế định pháp quyền là nguyên tắc chỉ đạo đối với việc thực hiện tất cả các loại quyền lực công. Do vậy, Hiến pháp Hàn Quốc chính là cơ sở để các đạo luật và văn bản pháp luật liên quan đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được ban hành. Khoản 1, Điều 29, Hiến pháp Hàn Quốc quy định: “Trong trường hợp một người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật được thực hiện bởi một công chức nhà nước trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình thì người đó có quyền đòi bồi thường thiệt hại từ Nhà nước hoặc tổ chức công theo quy định của pháp luật”.

Mục tiêu của Luật Bồi thường nhà nước Hàn Quốc nhằm tạo ra một cơ chế hiệu quả để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong quan hệ với cơ quan nhà nước; đảm bảo hành vi công chức là hợp pháp, góp phần nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức; tăng cường môi trường pháp luật bình đẳng.  Sau đây là những nội dung cơ bản trong Luật Bồi thường nhà nước của Hàn Quốc:

a) Về phạm vi các lĩnh vực hoạt động mà Nhà nước phải bồi thường

Luật Bồi thường nhà nước của Hàn Quốc (ban hành năm 1967) tuy không quy định cụ thể phạm vi bồi thường nhà nước trong lĩnh vực tư pháp, hành pháp hay lập pháp nhưng khi nghiên cứu nội dung của Luật thì có thể khẳng định rằng, Luật Bồi thường nhà nước của nước này quy định Nhà nước phải bồi thường trong cả ba lĩnh vực: lập pháp, hành pháp và tư pháp.

 b) Về cách thức xác định phạm vi các hành vi mà Nhà nước có trách nhiệm phải bồi thường

Điều 2, Điều 5 Luật Bồi thường nhà nước của Hàn Quốc xác định rõ, Nhà nước phải bồi thường trong những lĩnh vực hoạt động nào và đã sử dụng một số thuật ngữ rất chung để quy định về những hành động mà Nhà nước phải chịu trách nhiệm. Như vậy, về cơ bản, Luật Bồi thường nhà nước của Hàn Quốc không dùng phương pháp liệt kê mà dùng phương pháp quy định điều kiện chung về trách nhiệm bồi thường nhà nước.

c) Cơ quan giải quyết bồi thường

Ở Hàn Quốc cơ quan giải quyết bồi thường là Hội đồng Bồi thường nhà nước (ở Trung ương) và Hội đồng bồi thường nhà nước khu vực (ở các địa phương). Ngoài ra, Tòa án, cũng được giao thẩm quyền giải quyết bồi thường (giải quyết bồi thường ngoài tố tụng).

Hội đồng bồi thường nhà nước Trung ương xem xét yêu cầu đòi bồi thường đối với nhà nước hoặc chính quyền trung ương; Hội đồng bồi thường nhà nước khu vực xem xét yêu cầu đòi bồi thường đối với các cơ quan ở địa phương. Ngoài ra còn có một Hội đồng đặc biệt được thành lập ở Bộ Quốc phòng để xem xét đơn yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do các quân nhân hoặc công chức quốc phòng gây ra cho người khác.

Việc giải quyết bồi thường phải được giải quyết tại địa phương trước, thẩm quyền giải quyết của Hội đồng bồi thường nhà nước khu vực là những trường hợp bồi thường khoảng dưới 50 ngàn đô. Nếu lớn hơn 50 ngàn đô thì Hội đồng bồi thường nhà nước khu vực sẽ chuyển lên Trung ương hoặc trong trường hợp khó quyết định mức bồi thường. Những hoạt động liên quan đến các ngôi sao giải trí, thể thao thường rất khó để tính được mức bồi thường thì sẽ chuyển lên cấp trung ương.

Người bị thiệt hại không hài lòng với quyết định giải quyết bồi thường của Hội đồng bồi thường nhà nước trung ương thì họ có quyền ra Toà án.

d) Vấn đề đền bù hình sự 

Để đền bù cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, Hàn Quốc có Luật Đền bù hình sự riêng (ban hành năm 1958). Trong Luật Đền bù hình sự quy định: một người được tuyên bố là vô tội, trước khi tuyên bố như vậy, nếu người này bị giam giữ thì sẽ được bồi thường. Mức độ bồi thường sẽ được quyết định ít nhất là 1/2 USD một ngày cho tới mức tối đa đã được quy định trong Sắc lệnh của Tổng thống (Tổng thống là người quyết định mức trần còn Quốc hội quyết định mức sàn). Còn trong từng vụ việc cụ thể thì Toà án đã tuyên bố vô tội sẽ quyết định mức bồi thường. Họ sẽ xem xét các tình tiết cụ thể, ví dụ thời gian giam giữ là ngắn hay dài; mức căng thẳng thần kinh là cao hay thấp; thu nhập của người vô tội là nhiều hay ít, mức độ lỗi của các cơ quan điều tra trong khi tiến hành hoạt động điều tra là cố ý hay vô ý…để quyết định mức bồi thường cụ thể  cho người bị oan.

Bản chất của đền bù hình sự khác hẳn với bồi thường nhà nước. Trong Luật Bồi thường nhà nước, để quy được trách nhiệm bồi thường cho Nhà nước thì người bị hại phải xác định được rõ công chức nào đã thực hiện hành vi sai trái, nhưng trong Luật Đền bù hình sự thì không cần tìm hiểu cá nhân nào trực tiếp gây ra thịêt hại để quyết định có được đền bù hay không mà chỉ xem xét về mức đền bù. Nếu thẩm phán hoặc kiểm sát viên cố tình đưa ra những quyết định sai trái thì người bị oan có thể yêu cầu được bồi thường theo Luật Bồi thường nhà nước chứ không nhất thiết phải theo Luật Đền bù hình sự.

Cơ quan giải quyết việc đền bù hình sự ở Hàn Quốc là Hội đồng đền bù. Hội đồng này là một Hội đồng đặc biệt được thành lập tại văn phòng công tố vùng, đây là Hội đồng đối với những người đã bị oan, chứ không phải là Hội đồng bồi thường nhà nước như trong Luật Bồi thường nhà nước. Trong trường hợp này không cần chứng minh công tố viên đã có hành vi sai trái, mà Nhà nước đền bù cho những thiệt hại đã gây ra cho người bị oan. Đối với những phán quyết sai lầm của công tố có liên quan đến hoạt động tư pháp sẽ có một cơ chế bồi thường tự động để đảm bảo công tố viên tham gia hoạt động một cách tích cực đồng thời bảo vệ được nhanh chóng các quyền lợi của người bị hại, Hội đồng đền bù tại Văn phòng công tố cấp vùng sẽ quyết định mức bồi thường là bao nhiêu.

* Các trường hợp được đền bù hình sự

- Một cá nhân được xử vô tội theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm hoặc thủ tục phúc thẩm đặc biệt như quy định tại Luật tố tụng hình sự mà bị giam giữ trong thời gian xét xử, có quyền yêu cầu Nhà nước đền bù cho việc giam giữ đó theo quy định của luật này.

- Một cá nhân được xử vô tội theo thủ tục phúc thẩm sau thời hạn kháng cáo hoặc theo thủ tục phúc thẩm đặc biệt mà đã bị giam giữ hoặc chịu hình phạt theo quy định của bản án sơ thẩm, có quyền yêu cầu đền bù cho việc giam giữ hoặc chịu hình phạt đó.

* Mức đền bù

- Số tiền đền bù cho việc giam giữ là 5000 won (đồng tiền Hàn Quốc) hoặc nhiều hơn nhưng không vượt quá số tiền cho một ngày được quy định trong Sắc lệnh của tổng thống.

- Trường hợp bị cáo phải thực thi hình phạt, ngoài việc đền bù cho việc giam giữ trước khi thực hiện hình phạt thì sẽ được đền bù, tiền đền bù sẽ không vượt quá 30 triệu won.

* Toà án giải quyết:

Toà án đã ra phán quyết vô tội sẽ là Toà án thụ lý yêu cầu đòi bồi thường. Toà án sẽ ra quyết định sau khi nghe ý kiến của công tố viên và người đòi bồi thường. Toà án tuyên bố vô tội sẽ quyết định mức bồi thường nhưng việc bồi thường sẽ được thực hiện bởi văn phòng công tố và cũng chính là bị đơn trong vụ này. Như vậy, trong các vụ khởi tố tại tòa khi người bị hại đã được tuyên bố là vô tội công tố viên sẽ là người gây hại.

* Thủ tục thanh toán

Cá nhân nào muốn thanh toán tiền bồi thường phải nộp quyết định bồi thường của Toà án và yêu cầu thanh toán bồi thường bằng văn bản cho Cơ quan hành chính công tố công tương ứng với Toà án đã ra quyết định bồi thường trong vòng 1 năm.

 * Trường hợp đền bù nghi phạm

- Cá nhân là nghi phạm bị giam giữ là đối tượng không bị truy tố bởi công tố viên có quyền đòi Nhà nước bồi thường cho việc giam giữ đó, trừ khi có lý do cho việc không truy tố sau khi bắt giữ và việc truy tố đó chưa có hiệu lực hoặc được thực hiện theo Điều 247 của Luật tố tụng hình sự.

 - Cơ quan giải quyết bồi thường nghi phạm là Uỷ ban bồi thường nghi phạm, được thành lập trong cơ quan hành chính công tố cấp vùng và được đặt dưới sự giám sát và chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Thẩm quyền, tổ chức và hoạt động của Uỷ ban được quy định trong Sắc lệnh của Tổng thống.

 - Thủ tục: Cá nhân có yêu cầu bồi thường phải gửi yêu cầu tới Uỷ ban bồi thường nghi phạm của cơ quan hành chính công tố vùng nơi công tố viên ra quyết định không truy tố làm việc hoặc tới Uỷ ban bồi thường nghi phạm của cơ quan hành chính công tố quận có chi nhánh  mà công tố viên ra quyết định không truy tố làm việc.

e) Mô hình tố tụng và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu bồi thường

Tại Hàn Quốc, Toà hành chính là cơ quan có thẩm quyền giải quyết những vấn đề liên quan đến trách nhiệm bồi thường nhà nước. Luật đầu tiên, áp dụng đối với nghĩa vụ trách nhiệm bồi thường nhà nước là Luật Bồi thường nhà nước của Hàn Quốc năm 1951. Trong Luật này chỉ có 17 điều, không đủ để giải quyết các vấn đề liên quan đến bồi thường nhà nước. Do vậy, khi có vấn đề không được đề cập đến trong Luật Bồi thường nhà nước thì sẽ sử dụng luật thứ 2 đó là Bộ luật Dân sự. Như vậy có thể nói rằng cả Luật công và Luật tư đều được áp dụng trong những trường hợp này.

Một cơ quan Nhà nước bác bỏ một giấy phép kinh doanh nào đó, việc bác bỏ đó là trái phép thì cá nhân chịu ảnh hưởng bởi quyết định hành chính này có hai lựa chọn để giải quyết: Một là phản đối quyết định đó, hai là yêu cầu bồi thường việc ra quyết định ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của mình. Để có thể phản đối quyết định của cơ quan này, có thể kiện ra Tòa hành chính nhưng trước đó phải yêu cầu Tòa dân sự đòi lấy bồi thường. Tòa dân sự phải quyết định việc từ chối cấp phép đó là hợp pháp hay bất hợp pháp. Việc quyết định một quyết định hành chính là hợp pháp hay bất hợp pháp thuộc về Tòa hành chính, nhưng Toà dân sự cũng có thể quyết định được điều này. Toà dân sự không thể huỷ quyết định hành chính, mà chỉ được tuyên bố là đó là hành vi hợp pháp hay không và quy định một khoản tiền bồi thường.

f) Trách nhiệm hoàn trả của công chức

Tại Hàn Quốc, sau khi Nhà nước bồi thường cho bên bị thiệt hại thì Nhà nước có thể yêu cầu công chức bồi hoàn cho nhà nước nếu lỗi này là lỗi cố ý; còn lỗi vô ý do bất cẩn thì Nhà nước không yêu cầu công chức này bồi hoàn.

g) Về Quỹ bồi thường

Quỹ bồi thường nhà nước là một quỹ tập trung, về mặt cơ bản việc bồi thường nhà nước sẽ được thực hiện từ ngân sách của nhà nước và do Bộ Tư pháp quản lý. Như vậy các cơ quan của nhà nước khi có công chức gây ra thiệt hại thì Bộ Tư pháp sẽ phải thanh toán khoản tiền này. Ngoài ra, có một Quỹ đặc biệt, đó là Quỹ dành cho những quân nhân trong quân đội. Khi một quân nhân bị trúng đạn của một quân nhân khác, thì trong những trường hợp như thế việc bồi thường sẽ được thực hiện qua Quỹ này và Quỹ này sẽ do Bộ Quốc phòng quản lý. Đối với cấp địa phương thì việc bồi thường nhà nước mà có liên quan đến chính quyền địa phương sẽ sử dụng ngân sách của chính địa phương đó.

            Ở một số quốc gia, trách nhiệm bồi thường Nhà nước được quy định đối với cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tuy nhiên với những nguyên tắc pháp quyền về tổ chức quyền lực nhà nước thì đa số các nước đều thống nhất quy định hai lĩnh vực hành pháp và tư pháp thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về bồi thường nhà nước. Việc quy định lĩnh vực lập pháp thuộc phạm vi điều chỉnh của luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước xuất phát từ thể chế chính trị của mỗi quốc gia.

Tóm lại, có thể nói rằng, trong một xã hội dân chủ và tiến bộ thì không một Nhà nước nào có thể thoái thác trách nhiệm khi người có thẩm quyền của nhà nước, nhân danh nhà nước có hành vi trái pháp luật và gây thiệt hại cho công dân của nước mình. Nhà nước chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho công dân chính là Nhà nước đã thừa nhận mình “sai” và phải chịu trách nhiệm về việc “sai” đó, nhà nước không có “đặc quyền” miễn trừ trách nhiệm.



[1], 2 Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế, tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp Xquang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm... theo chỉ định của bác sĩ, tiền viện phí, tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, chi phí cho việc lắp tay giả, chân giả, mua xe lăn,...Các chi phí này phải thực tế (đã chi hoặc sẽ phải chi do bác sĩ chỉ định) và phải hợp lý cả về khoản chi và mục chi

 

3 Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền đi lại bằng phương tiện công cộng, tiền thuê nhà trọ (nếu có) theo giá trung bình ở địa phương cho một người chăm sóc.

[4] Xem Website của Viện Khoa học Thanh tra http://giri.ac.vn/?newid=1707&cateid=45&mod=2

[5] Xem Website của Viện Khoa học Thanh tra http://giri.ac.vn/?newid=1707&cateid=45&mod=2

[6] Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 7 (55) T7/2005 (Ths.Nguyễn Văn Cương).

[7] Trang điện tử Diễn đàn các doanh nghiệp Việt Nam http://www.vibonline.com.vn/vi-VN/Forum/TopicDetail.aspx?TopicID=2033