ĐẶC SAN TUYÊN TRUYỀN VỀ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC

PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ




 

 

 

 

 

 

 


ĐẶC SAN

TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT

 

 

 

 

 

CHỦ ĐỀ  

ĐẤU GIÁ TÀI SẢN VÀ

PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HÀ NỘI - NĂM 2010

 

 

 

 

 

 

CHUYÊN ĐỀ

ĐẤU GIÁ TÀI SẢN VÀ

PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

 

Biên soạn và chịu trách nhiệm nội dung:

Ths. Nguyễn Thị Minh - Phó Vụ trưởng Vụ Bổ trợ tư pháp

    Bộ Tư pháp


Phần thứ nhất

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN



 


I. KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT CỦA ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

Đấu giá tài sản là một dịch vụ ngày càng có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội. Đấu giá tài sản là một trong những cách thức  linh hoạt để chuyển quyền sở hữu tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá nói riêng phát triển một cách đa dạng. Trong những năm qua, hoạt động bán đấu giá tài sản ở nước ta đã từng bước phát triển, có những đóng góp quan trọng trong công tác thi hành pháp luật, đặc biệt là công tác thi hành án dân sự và xử lý vi phạm hành chính.

Theo quan niệm truyền thống, đấu giá là việc mua bán hàng tài sản công khai mà những  người mua sẽ trả giá từ giá thấp cho tới khi trả giá cao nhất và người bán đấu giá đồng ý bán bằng cách gõ búa. Dưới góc độ  pháp lý, định nghĩa về bán đấu giá tài sản thường được quy định trong những điều luật cụ thể: Chẳng hạn điều 3, Luật bán đấu giá tài sản nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1996 quy định “Bán đấu giá là hình thức bán và mua tài sản công khai, theo đó các tài sản và quyền tài sản được bán cho người trả giá cao nhất”. Còn đạo luật của Floriada năm 2003 đưa ra khái niệm “Bán đấu giá tuyệt đối” là cuộc bán đấu giá không yêu cầu giá khởi điểm tối thiểu mà hàng hoá sẽ được bán cho người trả giá cao nhất.

Ở Việt Nam, theo Từ điển Luật học thì “Bán đấu giá tài sản là hình thức bán công khai một tài sản, một khối tài sản; theo đó có nhiều người muốn mua tham gia trả giá, người trả giá cao nhất nhưng không thấp hơn giá khởi điểm là người mua được tài sản”.

Theo quy định của pháp luật thì khái niệm bán đấu giá tài sản trên được xem xét trong từng lĩnh vực cụ thể: Chẳng hạn trong lĩnh vực thương mại, Luật Thương mại năm 2005 coi đấu giá hàng hóa là một trong số hoạt động thương mại cụ thể, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người tổ chức bán đấu giá thực hiện việc bán hàng hóa công khai để chọn người mua trả giá cao nhất (khoản 1 Điều 185). Những quy định liên quan đến đấu giá hàng hóa trong Luật thương mại năm 2005 nhằm phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ đấu giá hàng hóa, nâng cao hiệu quả và hiệu lực pháp lý của hoạt động thương mại này. Song trên thực tế, hoạt động bán đấu giá hàng hoá trong thương mại chưa thực sự phát triển mà chủ yếu là người bán hàng tự mình thực hiện việc bán hàng hóa qua thỏa thuận.

Theo quy định của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản thì bán đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản công khai, có từ hai người trở lên tham gia đấu giá và tuân theo các quy định của pháp luật về bán đấu giá. Như vậy, khái niệm về đấu giá tài sản có những đặc điểm sau đây:

- Bán đấu giá tài sản là hình thức bán công khai theo nguyên tắc và thủ tục luật định.

- Chủ thể tham gia bán đấu giá từ hai chủ thể trở lên.

- Người được mua tài sản là người trả giá cao nhất.

Bản chất của bán đấu giá tài sản là quan hệ dân sự về mua bán tài sản thông qua hình thức đấu giá nhằm bán được tài sản với giá cao nhất. Hoạt động bán đấu giá tài sản được diễn ra theo ý chí của chủ sở hữu và người được chủ sở hữu ủy quyền yêu cầu tổ chức có chức năng bán đấu giá hoặc tài sản thực hiện việc bán đấu giá.

Tài sản trong đấu giá rất đa dạng. Căn cứ vào trình tự, thủ tục quy định cho việc bán đấu giá tài sản thì các loại tài sản bán đấu giá có thể được chia ra hai loại tài sản: tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức được bán theo hình thức tự nguyện và tài sản tư pháp được bán theo hình thức bắt buộc. Tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức là những tài sản được phép giao dịch theo quy định của pháp luật, ví dụ như hàng hóa, một số loại đồ cổ, tác phẩm nghệ thuật, đồ sưu tầm, phương tiện giải trí, bất động sản, đồ dùng gia đình, hàng tiêu dùng, đồ văn phòng, máy tính, v.v. Tài sản tư pháp bao gồm tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án; tài sản là tang vật phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về giao dịch có bảo đảm; hàng hoá lưu giữ do người vận chuyển đường biển, đường hàng không; đường bộ lưu giữ tại cảng, kho; tài sản nhà nước phải bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước.

Đấu giá tài sản là một dịch vụ có từ lâu đời và tương đối phát triển ở các nước có nền kinh tế thị trường đầy đủ. Tuy nhiên, ở nước ta, hoạt động đấu giá tài sản chỉ mới thực sự  bắt đầu phát triển khi Đảng và Nhà nước ta áp dụng chính sách mở cửa, chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự hình thành và phát triển của pháp luật về bán đấu giá tài sản qua các giai đoạn cụ thể.

 

II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM

1. Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 1996

Có thể nói dịch vụ bán đấu giá tài sản tại Việt Nam được hình thành và phát triển từ việc bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự. Bởi lẽ, các quy định về bán đấu giá tài sản được xuất hiện đầu tiên trong pháp luật về thi hành án dân sự.

Pháp luật về bán đấu giá tài sản được đánh dấu bằng sự ra đời của Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 28 tháng 8 năm 1989 (Pháp lệnh năm 1989), quy định về bán đấu giá tài sản để thi hành án. Khoản 1, Điều 28 của Pháp lệnh năm 1989 quy định về bán đấu giá tài sản đã kê biên. Đối với các loại tài sản này, thời gian bán đấu giá phải được niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án và Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có tài sản và thông báo cho đương sự, chậm nhất là bảy ngày trước ngày bán đấu giá. Tài sản đã kê biên được bán cho người trả giá cao nhất. Nếu không có ai trả giá cao hơn giá đã định thì tài sản được bán cho người mua theo giá mà Hội đồng định giá đã định. Tài sản không bán được thì được định giá lại để tiếp tục bán đấu giá (khoản 2, Điều 28).

Riêng đối với bán đấu giá nhà, Điều 30 Pháp lệnh năm 1989 quy định: người muốn mua nhà phải nộp đơn và nộp trước 1% giá trị nhà tại Tòa án. Số tiền này được hoàn lại ngay nếu họ không mua được nhà. Trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày bán đấu giá, người mua được nhà phải trả đủ tiền tại Tòa án. Nếu họ không trả đủ tiền trong thời hạn đó thì số tiền nộp trước không được trả lại và được nộp vào ngân sách nhà nước.

Để thực hiện Pháp lệnh năm 1989, Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Bộ Tư pháp có Thông tư liên ngành số 06-89/TTLN ngày 07 tháng 12 năm 1989 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Pháp lệnh 1989. Mục VI của Thông tư có quy định về bán đấu giá tài sản đã kê biên theo quy định tại  khoản 2 Điều 25 Pháp lệnh năm 1989 thì khi kê biên tài sản, nếu các bên đương sự không thoả thuận được về giá hoặc việc định giá có khó khăn, chấp hành viên mời Hội đồng định giá để định giá sơ bộ tài sản đã kê biên. Quy định này nhằm giúp Chấp hành viên ước lượng số tài sản cần kê biên tương ứng với mức đủ để thi hành án và thanh toán các chi phí về thi hành án; đồng thời, nhằm xác định trách nhiệm của người được giao bảo quản tài sản đã kê biên. Do đó, khi kê biên tài sản, nếu các bên đương sự không thoả thuận được về giá thì chấp hành viên cần dựa vào ý kiến của đại diện chính quyền địa phương, người chứng kiến và các bên đương sự để sơ bộ định giá các tài sản bị kê biên. Chấp hành viên chỉ mời Hội đồng định giá tài sản trong những trường hợp người được thi hành án đồng ý nhận tài sản kê biên để thi hành án theo giá do hội đồng định giá quyết định hoặc do tính chất đặc biệt của tài sản mà chấp hành viên không thể ước giá được. Đối với những trường hợp này, Hội đồng định giá cần định giá chính thức tất cả các tài sản đã kê biên của người phải thi hành án để khi bán đấu giá không phải định giá lại, trừ trường hợp có biến động đáng kể về giá.

Theo các Điều 28, 30 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 thì việc bán đấu giá do Chấp hành viên tổ chức. Chậm nhất là bảy ngày trước ngày bán đấu giá, Chấp hành viên phải niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án, Uỷ ban nhân dân nơi có tài sản và thông báo rộng rãi danh mục tài sản, giá khởi điểm, thời gian và địa điểm bán đấu giá. Đồng thời phải báo cho các bên đương sự biết. Trong thông báo có thể nêu rõ những yêu cầu đối với người tham gia đấu giá (khoản 2, mục VI). Trước khi bán đấu giá, người phải thi hành án có thể nộp tiền thi hành án để lấy lại tài sản bị kê biên và người được thi hành án có thể nhận tài sản đã kê biên để thi hành án theo giá đã định (khoản 3, mục VI).

Tài sản bán đấu giá được trưng bày công khai, có ghi rõ số thứ tự và giá đã định. Chấp hành viên khai mạc cuộc bán đấu giá, giới thiệu đại diện chính quyền, đoàn thể được mời tham gia chứng kiến việc bán đấu giá, đại diện Viện kiểm sát nhân dân (nếu có) và công bố thể thức bán đấu giá. Chấp hành viên lần lượt bán tài sản của từng người phải thi hành án và công bố giá đã định của từng tài sản để người mua trả giá. Tài sản được bán cho người trả giá cao nhất. Nếu không có ai trả giá cao hơn giá khởi điểm thì bán cho người mua nếu người đó đồng ý mua theo giá khởi điểm. Khi số tiền bán tài sản đã đủ để thi hành án và thanh toán các chi phí về thi hành án thì chấp hành viên ngừng bán và số tài sản còn lại sẽ được trả lại cho người phải thi hành án.

Đối với tài sản không phải là nhà, người mua được tài sản phải trả tiền ngay tại nơi bán đấu giá; nhưng nếu tài sản trị giá từ một triệu đồng trở lên thì người mua phải trả ngay ít nhất là 10% trị giá của tài sản và trong thời hạn ba ngày kể từ ngày bán đấu giá họ phải trả đủ số tiền còn thiếu tại Tòa án. Người mua được nhận tài sản ngay sau khi đã trả đủ tiền. Nếu người mua không trả đủ tiền trong thời hạn này, thì số tiền nộp trước không được trả lại mà được nộp vào ngân sách Nhà nước, trừ trường hợp có lý do chính đáng được chấp hành viên chấp nhận.

Đối với những tài sản phải làm thủ tục chuyển dịch quyền sở hữu thì chậm nhất là ba ngày sau khi người mua trả đủ tiền, chấp hành viên phải giao cho người mua các giấy tờ cần thiết để làm thủ tục chuyển dịch quyền sở hữu. Chấp hành viên phải lập biên bản về việc bán đấu giá tài sản của từng người phải thi hành án, trong đó cần ghi rõ danh mục tài sản, các giá đã được trả, họ và tên, địa chỉ của người mua được tài sản…Trong biên bản phải có chữ ký của Chấp hành viên, người chứng kiến và các bên đương sự tham dự cuộc bán đấu giá (nếu có). Trong những trường hợp không có người mua, người mua trả giá thấp hơn giá khởi điểm hoặc không trả đủ tiền trong thời hạn quy định, chấp hành viên lập biên bản về việc bán đấu giá không thành và thông báo cho các đương sự biết.

Năm 1994, Pháp lệnh Thi hành án dân sự được ban hành mới thay thế cho Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989 (Pháp lệnh năm 1994). Pháp lệnh năm 1994 bổ sung thêm một số quy định về bán đấu giá tài sản thi hành án. Quy định cụ thể hơn về thành phần Hội đồng định giá gồm đại diện cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn có liên quan và do chấp hành viên chủ trì để đánh giá sơ bộ tài sản đã kê biên (Điều 34 của Pháp lệnh năm 1994), người được thi hành án, người phải thi hành án được tham gia ý kiến vào việc định giá, nhưng quyền quyết định giá thuộc Hội đồng định giá. Tài sản không bán được thì được định giá lại để tiếp tục bán đấu giá.

2. Giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2005

Năm 1995, Bộ Luật Dân sự đầu tiên ở nước ta được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 8 thông qua. Đây là một văn bản pháp luật quan trọng, điều chỉnh các quan hệ  giao kết dân sự trong đó có  quan hệ về bán đấu giá tài sản. Bộ Luật Dân sự năm 1995 đã quy định giao cho Chính phủ ban hành quy chế bán đấu giá. Trên cơ sở đó, ngày 19/12/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 86/1996/CP về việc ban hành quy chế bán đấu giá tài sản. Đây là văn bản pháp lý chuyên ngành đầu tiên điều chỉnh về lĩnh vực bán đấu giá tài sản với những quy định về tài sản bán đấu giá, người bán đấu giá, trình tự, thủ tục bán đấu giá, giải quyết khiếu nại, tranh chấp về bán đấu giá. Có thể nói hoạt động bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp ở nước ta được hình thành từ năm 1997 trên cơ sở của Bộ luật dân sự và Nghị định số 86/CP ngày 19/12/1996 của Chính phủ ban hành Quy chế bán đấu giá tài sản.

Theo quy định tại Điều 4 của Nghị định số 86/1996/CP thì Người bán đấu giá là Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản bán đấu giá được thành lập theo quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, do Sở Tư pháp trực tiếp quản lý. Người bán đấu giá cũng có thể là doanh nghiệp nhà nước được thành lập theo Luật Doanh nghiệp nhà nước, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần được thành lập theo Luật Công ty hoạt động bán đấu giá chuyên nghiệp và không kinh doanh ngành nghề khác do Sở Tư pháp quản lý về nghiệp vụ. Cũng theo quy định tại Nghị định này thì việc bán đấu giá tài sản được tiến hành sau khi người có tài sản bán đấu giá ký hợp đồng uỷ quyền bán đấu giá tài sản với người bán đấu giá, xác định giá khởi điểm để bán đấu giá. Người bán đấu giá tài sản phải niêm yết, thông báo công khai việc bán đấu giá, tài sản bán đấu giá, giá khởi điểm...Người muốn tham gia đấu giá bất động sản hoặc động sản có giá khởi điểm từ mười triệu đồng trở lên phải đăng ký mua chậm nhất là hai ngày trước ngày mở cuộc bán đấu giá và phải nộp một khoản tiền đặt trước bằng 1% giá khởi điểm.

Ngày 07 tháng 04 năm 1997 Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 399/PLDSKT hướng dẫn một số quy định về bán đấu giá tài sản. Ở đa số địa phương, quán triệt tinh thần Nghị định số 86/CP và Thông tư số 399/PLDSKT ngày 07 tháng 4 năm 1997 của Bộ Tư pháp, các Trung tâm đã tổ chức bán đấu giá công khai, rộng rãi, đúng trình tự, thủ tục; khách hàng tham gia đấu giá ngày càng nhiều. Giá tài sản bán được phần lớn tăng hơn nhiều so với giá khởi điểm, làm lợi cho người có tài sản bán đấu giá. Khoản lệ phí nộp ngân sách đạt được chỉ tiêu mà các Trung tâm đề ra, đảm bảo cho hoạt động bán đấu giá được liên tục và có hiệu quả.

Nghị định số 86/1996/CP là văn bản pháp luật quan trọng đặt nền móng cho dịch vụ đấu giá trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, nội dung của Nghị định số 86/1996/CP được ban hành trong những năm đầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam nên vẫn chứa đựng các điều khoản bất cập, hạn chế nhất định, không còn phù hợp cần thay đổi cho phù hợp với thực tế.

3. Giai đoạn từ năm 2005 đến nay

Ngày 18/01/2005, Nghị định số 05/2005/NĐ-CP của Chính phủ về bán đấu giá tài sản được ban hành thay thế  Nghị định số 86/1996/CP. Ngay sau khi Nghị định số 05/2005/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03/2005/TT-BTP hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP.

Nghị định số 05/2005/NĐ-CP là văn bản pháp luật chuyên ngành, là cơ sở pháp lý quan trọng để phát triển dịch vụ bán đấu giá tài sản trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, cùng với Nghị định số 05/2005/NĐ-CP thì còn có nhiều văn bản quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh hoạt động bán đấu giá tài sản như Bộ Luật dân sự năm 2005; Luật Thương mại năm 2005; Luật quản lý và sử dụng tài sản nhà nước năm 2008; Luật kinh doanh bất động sản năm 2006; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về bán đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất,  Nghị định số 159/2007/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2007 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về thi hành luật đất đai; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 05 năm 2007 quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT/BTNMT-BNV ngày 31/12/2004 hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và Tổ chức phát triển quỹ đất.

Sau khi Nghị định số 05/2005/NĐ-CP được ban hành, hoạt động bán đấu giá tài sản đã đạt được những kết quả đáng kể, tạo cơ sở pháp lý quan trọng đối với việc củng cố và phát triển các tổ chức bán đấu giá tài sản ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, góp phần thống nhất pháp luật về trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản và đáp ứng phần lớn nhu cầu của cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực này.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, pháp luật về hoạt động bán đấu giá tài sản trong thời kỳ này còn nhiều vấn đề bất cập.

Thứ nhất, hiện nay có nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau cùng điều chỉnh hoạt động bán đấu giá tài sản. Bên cạnh một số luật, pháp lệnh còn có nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư liên tịch của các Bộ, ngành... Nhiều điều khoản của các văn bản quy phạm pháp luật về bán đấu giá tài sản không thống nhất với quy định của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP, nội dung một số quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn về trình tự, thủ tục bán đấu giá, về tổ chức bán đấu giá, gây khó khăn cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành và áp dụng pháp luật.

Thứ hai, do sự không đồng bộ, thống nhất trong các quy định của pháp luật nên hiện nay có nhiều loại tổ chức thực hiện việc bán đấu giá tài sản và bán đấu giá theo các trình tự, thủ tục rất khác nhau, không chặt chẽ dẫn đến việc khó quản lý, kiểm soát hoạt động này và gây thất thoát tài sản, nhất là tài sản công. Trong số các tổ chức thực hiện việc bán đấu giá tài sản thì hoạt động của các Hội đồng bán đấu giá tài sản đang có nhiều bất cập. Các Hội đồng này được thành lập để bán đấu giá theo vụ việc, không mang tính thường xuyên, chuyên nghiệp. Khi kết thúc cuộc bán đấu giá, Hội đồng tự giải thể. Do đó, khi có tranh chấp xảy ra liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, các bên không có cơ sở pháp lý để khiếu nại Hội đồng. Ngoài ra, do cơ chế hoạt động (bao gồm cả cơ chế tài chính) và trách nhiệm pháp lý của Hội đồng bán đấu giá tài sản không rõ ràng, nên khó kiểm soát, dẫn đến thất thoát, thiệt hại về vật chất trong việc bán đấu giá các loại tài sản của Nhà nước.

Thứ ba, phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP chưa xác định rõ phạm vi áp dụng của Nghị định đối với việc bán đấu giá những loại tài sản nào. Chính vì vậy, trên thực tế, các cơ quan, tổ chức còn lúng túng khi áp dụng Nghị định số 05/2005/NĐ-CP dẫn đến việc bán đấu giá tài sản, nhất là tài sản công chưa được thực hiện theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ. Đây cũng là bất cập lớn cần phải sớm khắc phục.

Thứ tư, một số quy định của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP về trình tự, thủ tục bán đấu giá còn chưa đầy đủ và chặt chẽ, thậm chí có kẽ hở, dễ dẫn đến hiện tượng tiêu cực như thông đồng, dìm giá, làm thất thoát tài sản của Nhà nước, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Thứ năm, quy định về điều kiện cấp thẻ đấu giá viên, điều kiện hoạt động của doanh nghiệp bán đấu giá còn đơn giản, dễ dãi; việc đăng ký hành nghề đối với đấu giá viên chưa được quy định chặt chẽ. Vai trò của đấu giá viên với tư cách là chức danh chuyên nghiệp trong hoạt động bán đấu giá chưa được phát huy, nhiều cuộc bán đấu giá không do đấu giá viên điều hành. Nhìn chung, tính chuyên nghiệp của hoạt động bán đấu giá tài sản còn thấp.

Thứ sáu, quy định về quản lý nhà nước trong Nghị định số 05/2005/NĐ-CP còn thiếu, nội dung chưa rõ ràng dẫn đến việc quản lý nhà nước đối với hoạt động bán đấu giá tài sản còn lỏng lẻo, vai trò của cơ quan chủ trì giúp Chính phủ và UBND các địa phương thống nhất quản lý nhà nước về bán đấu giá tài sản chưa được phát huy đầy đủ. Một số Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chưa nhận thức rõ chức năng, nhiệm vụ của mình trong việc thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực đấu giá tài sản tại địa phương. Công tác quản lý hoạt động đấu giá tài sản ở cấp huyện còn bị buông lỏng.

Thứ bảy, nhận thức và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương về quản lý hoạt động bán đấu giá tài sản còn chưa thống nhất, chưa chặt chẽ và đồng bộ. Một số cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản trong một số trường hợp còn từ chối hoặc chậm trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản đã bán đấu giá đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng. Việc giao tài sản thi hành án đã được bán đấu giá nhiều khi bị chậm trễ, kéo dài làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người mua được tài sản, cũng như uy tín của các tổ chức bán đấu giá tài sản.

Do vậy, việc thay thế Nghị định số 05/2005/NĐ-CP là sự cần thiết khách quan, để thiết lập cơ sở pháp lý chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ hơn cho hoạt động bán đấu giá tài sản. Ngày 04 tháng 3 năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 17/2010/ NĐ-CP về bán đấu giá tài sản

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phần thứ hai

THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 17/2010/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ



 


I. THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Về tổ chức

Hiện nay có 63 Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản đã được thành lập ở 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trên cơ sở thống kế về hồ sơ xin cấp thẻ bán đấu giá tài sản và quyết định cấp thẻ bán đấu giá tài sản tính đến 29/6/2010 thì số đấu giá viên và tổ chức bán đấu giá trên toàn quốc như sau: Tổng số có 568 đấu giá viên trong đó có 14 đấu giá viên xin cấp đổi thẻ đấu giá viên, về trình độ, hầu hết các đấu giá viên đều đảm bảo có trình độ đại học, chủ yếu là chuyên ngành luật và kinh tế, một số cán bộ có trình độ sau đại học; 

 63 Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc TW, trong quá trình củng cố, kiện toàn các Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản, một số tỉnh đã thực hiện việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với Trung tâm của địa phương mình. Số còn lại tuy cũng là đơn vị sự nghiệp có thu nhưng vẫn đang được đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên.

Nhìn chung, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản các tỉnh, thành phố đã  có khá đầy đủ phương tiện, trang thiết bị cần thiết đáp ứng yêu cầu của công tác bán đấu giá tài sản. Đặc biệt, một số Trung tâm được trang bị đầy đủ trang thiết bị, phương tiện làm việc hiện đại như hệ thống âm thanh, máy chiếu, màn ảnh rộng bảo đảm phục vụ tốt cho công tác bán đấu giá tài sản.

Thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động bán đấu giá tài sản, đến nay số lượng doanh nghiệp tăng đáng kể, đặc biệt tăng lên nhanh chóng trong năm 2007 và  năm 2008. Theo báo cáo mới nhất của các địa phương gửi về Bộ Tư pháp tính đến 04/10/2010, hiện nay có 65 doanh nghiệp bán đấu giá tài sản trên toàn quốc, chủ yếu tập trung tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hà Nội có 15 doanh nghiệp, thành phố Hồ Chí Minh có 22 doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp bắt đầu mở chi nhánh cả trong và ngoài tỉnh. Các doanh nghiệp đều được thành lập theo luật doanh nghiệp và xây dựng theo hình thức Công ty TNHH hoặc Công ty cổ phần.

Tuy nhiên, có thể thấy rằng các doanh nghiệp mới chỉ tập trung ở các tỉnh, thành phố có điều kiện kinh tế - xã hội tương đối phát triển, nguồn tài sản bán đấu giá dồi dào. Mặt khác, đa số doanh nghiệp bán đấu giá kinh doanh đa ngành nghề, trong đó bán đấu giá chỉ là một lĩnh vực đăng ký kinh doanh mới được bổ sung, do vậy tính chuyên nghiệp của các doanh nghiệp này chưa cao và quy mô doanh nghiệp còn tương đối nhỏ. Theo con số thống kê, hiện nay chỉ có 04 doanh nghiệp chuyên nghiệp bán đấu giá gồm: Công ty Cổ phần đấu giá Thăng Long (Hà Nội), Công ty Cổ phần bán đấu giá Toàn Quốc (Hà Nội), Công ty TNHH đấu giá Chinh Phong (TP Hồ Chí Minh), Công ty TNHH Việt Thành Vinh (Hòa Bình). Hiện nay, có khá nhiều doanh nghiệp đấu giá họat động không hiệu quả, đăng ký đa dạng nhiều ngành nghề trong đó có đấu giá tài sản nhưng không hoạt động đấu giá.

Sau khi thành lập và đi vào hoạt động, các tổ chức bán đấu giá tài sản đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần không nhỏ phát triển kinh tế xã hội. Theo thống kê của Bộ Tư pháp từ năm 2005 đến nay các tổ chức bán đấu giá tài sản đạt được kết quả như sau:

2. Về hoạt động

2.1. Ở các Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Theo báo cáo của 51 tỉnh, thành phố thì: Trung tâm bán tài sản khá đa dạng nhưng phổ biến nhất là tài sản thi hành án, tài sản tịch thu do vi phạm hành chính. Ngoài hai loại tài sản phổ biến này, một số Trung tâm còn bán đấu giá quyền sử dụng đất, bán tài sản  nhà nước, tài sản của cá nhân, tổ chức. Số liệu cụ thể như sau:

- Số hợp đồng ủy quyền đã ký: 15064 Hợp đồng

- Số hợp đồng đã thực hiện xong: 9260 Hợp đồng

- Tổng giá trị tài sản tính theo giá khởi điểm: 4310,58 tỷ đồng

- Tổng giá trị tài sản đã bán đấu giá thành: 4842,89 tỷ đồng

- Giá trị chênh lệch so với giá khởi điểm: 532,31 tỷ đồng

2.2.  Ở các Hội đồng bán đấu giá tài sản

Theo Báo cáo của  16 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì:

Hội đồng đấu giá tài sản cấp tỉnh, cấp huyện được thành lập và bán đấu giá  nhiều loại tài sản khác nhau như: tài sản nhà nước, tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản tịch thu do vi phạm hành chính.

- Tổng số vụ việc: 8687

- Giá khởi điểm: 3606,22 tỷ đồng

- Giá đã bán: 4119,33 tỷ đồng

- Chênh lệch so với giá khởi điểm: 513,11 tỷ đồng

2.3. Ở các Doanh nghiệp bán đấu giá tài sản

Theo Báo cáo của thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh thì: Các Doanh nghiệp thực hiện việc bán đấu giá tài sản khá phong phú bao gồm: tài sản thi hành án, tài sản thuộc sở  hữu nhà nước, tài sản bảo đảm, tài sản của cá nhân, tổ chức.

Theo tổng hợp từ 16 doanh nghiệp thì kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp này từ khi thành lập tới nay đã bán được:

- Tổng số vụ việc: 818

- Giá đã bán: 2436,219 tỷ đồng

2.4. Ở các Tổ chức phát triển quỹ đất

  Báo cáo của 16 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho thấy: Theo quy định của Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT/BTNMT-BNV thi hành Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về thi hành luật đất đai thì Trung tâm phát triển quỹ đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường được thành lập và một trong các chức năng của Trung tâm này là bán đấu giá quyền sử dụng đất. Kết quả như sau:

- Tổ chức bán đấu giá: 106 cuộc

- Giá khởi điểm: 295,88 tỷ đồng

- Tổng số tiền bán được: 302,71 tỷ đồng

- Chênh lệch so với giá khởi điểm là 6,83 tỷ đồng

2.5. Ở các Tổ chức tín dụng

 Theo Báo cáo của 5 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì một số tổ chức tín dụng cũng tự tổ chức bán đấu giá với tài sản thanh lý, tài sản đảm bảo, kết quả cụ thể như sau:

- Tổ chức bán đấu giá : 698 cuộc

- Giá khởi điểm 157,86 tỷ đồng

- Tổng số tiền bán được 158,10 tỷ đồng

- Chênh lệch so với giá khởi điểm là 0,024 tỷ đồng.

 

II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 17/2010/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ

1.  Quá trình xây dựng Nghị định 17/2010/NĐ-CP

Trên cơ sở quản điểm chỉ đạo, việc xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 05/2005/NĐ-CP của Chính phủ về bán đấu giá tài sản phải kế thừa được những quy định của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP hiện hành còn phù hợp và bổ sung các quy định mới nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động bán đấu giá tài sản. Nghị định thay thế Nghị định số 05/2005/NĐ-CP phải là cơ sở pháp lý cho việc phát triển dịch vụ đấu giá tài sản như một dịch vụ chuyên nghiệp trong nền kinh tế thị trường, là tiền đề cho việc xây dựng Luật Đấu giá sau này. Đồng thời Nghị định thay thế phải thống nhất trình tự, thủ tục bán đấu giá đối với các loại tài sản bắt buộc phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc bán đấu giá tài sản thực sự khách quan, công khai, minh bạch, hiệu quả, hạn chế tình trạng tiêu cực, thất thoát tài sản. Ngoài ra Nghị định số 05 phải có các điều khoản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có tài sản bán đấu giá, người mua được tài sản bán đấu giá, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động bán đấu giá tài sản.  

Nghị định thay thế Nghị định số 05/2005/NĐ-CP phải đáp ứng chủ trương xã hội hóa, tạo sự bình đẳng giữa các tổ chức bán đấu giá tài sản, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động bán đấu giá tài sản cần xác định rõ các tổ chức bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp, hạn chế những đầu mối bán đấu giá không chuyên nghiệp; nâng cao tiêu chuẩn đấu giá viên và quy định chặt chẽ về điều kiện hành nghề đấu giá, quản lý đấu giá viên khi hành nghề; quy định chặt chẽ quyền và trách nhiệm của đấu giá viên, quy định rõ hơn về điều kiện đăng ký kinh doanh đối với các doanh nghiệp bán đấu giá.

Nghị định mới phải bảo đảm được sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với các hoạt động bán đấu giá; xác định rõ cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm giúp Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước đối với hoạt động bán đấu giá tài sản và cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành có liên quan. Nâng cao vai trò của cơ quan chủ trì giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thống nhất quản lý nhà nước đối với hoạt động bán đấu giá tài sản ở địa phương, vai trò của các sở, ngành liên quan trong việc phối hợp quản lý nhà nước đối với tổ chức, hoạt động bán đấu giá tài sản.

Trong quá trình xây dựng Dự thảo Nghị định, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tiến hành tổng kết thi hành Nghị định số 05/2005/NĐ-CP; khảo sát, đánh giá tình hình thực tiễn của hoạt động bán đấu giá tài sản ở các địa phương, rà soát các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực bán đấu giá tài sản; tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm với sự tham gia của đại diện các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương, các tổ chức bán đấu giá tài sản, các chuyên gia pháp lý và các nhà khoa học để trao đổi, thảo luận về Dự thảo Nghị định.

Dự thảo Nghị định đã được gửi lấy ý kiến đóng góp của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Sở Tư pháp, các Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản và doanh nghiệp bán đấu giá tài sản; đồng thời đã được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.  

Nghị định số 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản và có hiệu lực từ ngày 01/7/2010 là Nghị định tương đối phù hợp, đáp ứng cơ bản các quan điểm, yêu cầu đề ra.

2.  Nội dung cơ bản của Nghị định 17/2010/NĐ-CP của Chính phủ

 Nghị định gồm có 6 Chương với 57 Điều, được cơ cấu như sau:

Chương I. Quy định chung, gồm 4 điều (từ Điều 1 đến Điều 4).

Chương II. Đấu giá viên, gồm 9 điều (từ Điều 5 đến Điều 13).

Chương III. Tổ chức bán đấu giá tài sản, gồm 8 điều (từ Điều 14 đến Điều 21).

Chương IV. Trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản, gồm 28 điều (từ Điều 22 đến Điều 49).

Chương V. Quản lý nhà nước về bán đấu giá tài sản, gồm 5 điều (từ Điều 50 đến Điều 54).

Chương VI. Điều khoản thi hành, gồm 3 điều (từ Điều 55 đến Điều 57).

2.1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định số 17 quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục bán đấu giá, tổ chức bán đấu giá, đấu giá viên và quản lý nhà nước về bán đấu giá tài sản. Tài sản bán đấu giá theo Nghị định số 17/2010/NĐ-CP là các loại tài sản phải bán đấu giá theo quy định pháp luật. Tài sản thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân nếu có yêu cầu bán đấu giá thông qua tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp cũng được bán theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định này nhằm từng bước đưa hoạt động bán đấu giá trong xã hội trở thành một loại hình dịch vụ chuyên nghiệp.

Các loại tài sản phải bán đấu giá theo quy định của Nghị định này bao gồm:

a) Tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án;

b) Tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

c) Tài sản bảo đảm được xử lý bằng bán đấu giá theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm;

d) Tài sản nhà nước được xử lý bằng bán đấu giá theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; tài sản là quyền sử dụng đất trong trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất được bán đấu giá theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

đ) Các tài sản khác phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật.

Nghị định này không áp dụng đối với việc bán các tài sản nhà nước ở nước ngoài, tài sản chuyên dùng đặc biệt tại đơn vị vũ trang nhân dân. Việc bán đấu giá các tài sản đó phải tuân theo quy định của pháp luật có liên quan đối với loại tài sản đó.

Một điểm mới đột phá của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP là đấu giá quyền sử dụng đất phải tuân theo trình tự, thủ tục chung đối với việc bán đấu giá các loại tài sản phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật (trước 01/7/2010 bán đấu giá quyền sử dụng đất được thực hiện theo Quyết định 216/2005 QĐ-TTg ngày 31/8/2005 về việc ban hành quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất)

2.2.  Đấu giá viên

Nhằm phát triển đội ngũ đấu giá viên trở thành những người hành nghề dịch vụ bán đấu giá chuyên nghiệp, Nghị định quy định chặt chẽ hơn về tiêu chuẩn trở thành đấu giá viên, điều kiện hành nghề đấu giá. Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì có thể trở thành đấu giá viên: Có phẩm chất đạo đức tốt; Đã tốt nghiệp đại học ngành luật hoặc ngành kinh tế; Đã qua khóa đào tạo nghề đấu giá (Điều 5 Nghị định).

Khóa đào tạo nghề 03 tháng trong đó bao gồm thời gian đào tạo kiến thức cơ bản về pháp luật, về kỹ năng, nghiệp vụ bán đấu giá, đạo đức nghề nghiệp của đấu giá viên và thời gian thực tập hành nghề đấu giá (Điều 6 và Điều 8). Ngoài ra, để quản lý đội ngũ đấu giá viên chặt chẽ hơn, Nghị định quy định sau khi Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá, người được cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá phải làm việc thường xuyên tại một tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp. Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp phải có trách nhiệm đăng ký danh sách đấu giá viên của tổ chức mình tại Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt trụ sở của tổ chức bán đấu giá. Mục đích của quy định này để Sở Tư pháp nắm thông tin đầy đủ về các đấu giá viên hành nghề tại địa phương.

Ngoài ra, để nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động bán đấu giá tài sản, Nghị định còn quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của đấu giá viên. Mọi cuộc bán đấu giá đều phải do đấu giá viên điều hành và đấu giá viên là người chịu trách nhiệm hoàn toàn về cuộc bán đấu giá.

2.3. Tổ chức bán đấu giá tài sản

Thực hiện chủ trương tiếp tục xã hội hoá, chuyên nghiệp hóa tổ chức bán đấu giá tài sản, Điều 18 Nghị định xác định rõ các tổ chức bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp gồm có: Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản và doanh nghiệp bán đấu giá tài sản. Các Trung tâm và doanh nghiệp bán đấu giá tài sản bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong việc bán đấu giá các tài sản theo quy định của Nghị định này, trừ việc bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải được chuyển giao cho Trung tâm bán theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.

Để đảm bảo phù hợp với nhu cầu phát triển dịch vụ bán đấu giá tài sản trong nền kinh tế thị trường, Nghị định cũng giao trách nhiệm cho Sở Tư pháp xây dựng đề án về lộ trình chuyển đổi các Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản sang mô hình doanh nghiệp đối với tỉnh, thành phố có từ 02 doanh nghiệp bán đấu giá tài sản trở lên và trình Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt (Điều 53).

Ngoài các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp, Nghị định cũng quy định  02 loại Hội đồng:

Một là: Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện do Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là UBND cấp huyện) quyết định thành lập để bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính do cơ quan tịch thu từ cấp huyện trở xuống ra quyết định tịch thu theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện gồm đại diện cơ quan có thẩm quyền quyết định tịch thu tài sản, đại diện phòng Tài chính, phòng Tư pháp cấp huyện và đại diện các cơ quan có liên quan. Nghị định quy định rõ trách nhiệm của Hội đồng bán đấu giá tài sản, trong đó, có trách nhiệm phải “ký hợp đồng với tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp để tổ chức này cử đấu giá viên điều hành cuộc bán đấu giá tài sản của Hội đồng” (Điểm b khoản 1,Điều 21 Nghị định).

Hai: Hội đồng bán đấu giá tài sản trong trường hợp đặc biệt do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập để bán các tài sản có giá trị lớn, phức tạp bao gồm tài sản là trụ sở làm việc, tài sản khác gắn liền với đất (bao gồm cả quyền sử dụng đất) có nguyên giá theo sổ kế toán từ 1.000 (một ngàn) tỷ đồng trở lên; tài sản khác không phải là trụ sở làm việc, không phải là tài sản khác gắn liền với đất có giá khởi điểm để bán đấu giá từ 100 (một trăm) tỷ đồng trở lên; tài sản có nguồn gốc phức tạp, tài sản đặc biệt quý hiếm, có yêu cầu quản lý đặc biệt của Nhà nước hoặc các trường hợp đặc biệt khác theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; tài sản khác mà không thuê được tổ chức bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp thực hiện việc bán đấu giá. Đại diện bán đấu giá tài sản trong trường hợp đặc biệt bao gồm đại diện cơ quan có thẩm quyền quyết định bán đấu giá tài sản, cơ quan tài chính, cơ quan tư pháp cùng cấp và đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan.

Trình tự, thủ tục bán đấu giá của các Hội đồng bán đấu giá tài sản đều phải thực hiện theo quy định của Nghị định số 17. Đồng thời chế độ báo cáo của các Hội đồng bán đấu giá tài sản được Nghị định số 17 quy định rõ ràng hơn. Định kỳ 06 tháng và hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm báo cáo Sở Tư pháp về tổ chức, hoạt động của Hội đồng bán đấu giá tài sản do mình thành lập (Khoản 2 Điều 21 Nghị định). Đối với  Hội đồng bán đấu giá tài sản trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng này phải báo cáo bằng văn bản cho cơ quan ra quyết định thành lập Hội đồng bán đấu giá tài sản, đồng thời phải gửi Sở Tư pháp nơi thành lập Hội đồng về kết quả từng cuộc bán đấu giá tài sản.

2.4.  Điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp bán đấu giá tài sản 

Nghị định quy định rõ hơn về điều kiện đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp bán đấu giá tài sản. Để hoạt động trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản doanh nghiệp phải có ít nhất một đấu giá viên và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bán đấu giá tài sản phải là đấu giá viên; có trụ sở, cơ sở vật chất và các trang thiết bị cần thiết khác bảo đảm cho hoạt động bán đấu giá tài sản. Việc quy định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bán đấu giá tài sản phải là đấu giá viên nhằm tạo sự bình đẳng giữa Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản và doanh nghiệp bán đấu giá tài sản, đồng thời nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động bán đấu giá tài sản. Ngoài ra, Nghị định quy định bổ sung trách nhiệm của doanh nghiệp về việc thông báo cho Sở Tư pháp sau khi doanh nghiệp được cấp đăng ký kinh doanh.

2.5. Trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản

Phí tham gia đấu giá và khoản tiền đặt trước

Nghị định bổ sung quy định về việc xác định giá khởi điểm; sửa đổi quy định về khoản tiền đặt trước khi đăng ký tham gia đấu giá theo hướng tạo điều kiện cho tổ chức bán đấu giá và người có tài sản bán đấu giá thỏa thuận căn cứ vào tính chất, giá trị của từng loại tài sản, nhưng tối thiếu là 1% và tối đa không quá 15% giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (khoản 1 Điều 29 Nghị định);

Theo quy định của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP, khoản tiền đặt trước không quá 5% giá khởi điểm là quá thấp, nhiều trường hợp đặt cọc quá nhỏ dẫn đến người tham gia đấu giá dễ dàng bỏ cuộc. Vì vậy, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP đã quy định về việc nộp khoản tiền đặt trước khi đăng ký tham gia đấu giá theo hướng tạo điều kiện cho tổ chức bán đấu giá và người có tài sản bán đấu giá thỏa thuận căn cứ vào tính chất, giá trị của từng loại tài sản, nhưng tối đa không quá 15% giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá và khoản tiền đặt trước được nộp vào tài khoản tạm giữ của tổ chức bán đấu giá tài sản (khoản 1 Điều 29 Nghị định).

Quy định này nhằm khắc phục tình trạng những người tham gia đấu giá liên kết với nhau để dìm giá hoặc họ sẵn sàng chịu mất số tiền đặt trước trong trường hợp từ chối mua tài sản với mục đích gây khó khăn cho người có quyền và lợi ích liên quan hoặc vì mục đích vụ lợi. Đồng thời, quy định mức trần với sự linh hoạt nhất định vẫn bảo đảm phù hợp với thực tiễn của từng địa phương.

Từ chối mua tài sản

Điều 21 của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP quy định trong trường hợp người điều hành cuộc bán đấu giá đã công bố người mua được tài sản bán đấu giá mà người này từ chối mua thì tài sản được bán cho người trả giá liền kề nếu giá liền kề ít nhất bằng giá khởi điểm. Nếu người liền kề không đồng ý mua hoặc giá liền kề thấp hơn giá khởi điểm thì cuộc bán đấu giá không thành và khoản tiền đặt trước của người từ chối mua thuộc về người có tài sản bán đấu giá.

Tuy nhiên, quy định này đã bị lợi dụng trên thực tế, có tình trạng cố tình trả giá rất cao, được tuyên bố là người mua được tài sản rồi lại từ chối mua để người liền kề mua được tài sản và hai bên chia nhau số tiền chênh lệch. Ngoài ra, khả năng cuộc bán đấu giá không thành là rất cao vì người trả giá liền kề có thể không đồng ý mua, do đó, cần sửa đổi theo hướng quy định chế tài nghiêm khắc hơn đối với người từ chối mua và hạn chế sự thông đồng giữa một số người tham gia đấu giá. Vì vậy, Nghị định quy định phương án xử lý vấn đề này như sau (Điều 39 Nghị định):

-  Người từ chối mua tài sản không được hoàn trả khoản tiền đặt trước và khoản tiền đặt trước của người từ chối mua thuộc về người có tài sản bán đấu giá.

- Tài sản chỉ được bán cho người trả giá liền kề nếu mức chênh lệch giá của người trả giá liền kề với người từ chối mua tài sản thấp hơn hoặc bằng khoản tiền đặt trước.Quy định như vậy nhằm góp phần bảo đảm quyền lợi của người có tài sản, không làm giảm giá trị của tài sản bán đấu giá.

Hủy kết quả bán đấu giá 

Nghị định số 17/2010/NĐ-CP quy định rõ các trường hợp mà kết quả bán đấu giá bị hủy. Đó là, do thỏa thuận giữa người có tài sản bán đấu giá, người mua được tài sản bán đấu giá và tổ chức bán đấu giá tài sản trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; hợp đồng bán đấu giá tài sản, hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá bị Tòa án tuyên vô hiệu hoặc bị hủy theo quy định của pháp luật; kết quả bán đấu giá bị hủy theo quyết định của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc nếu không thực hiện việc niêm yết, thông báo công khai việc bán đấu giá tài sản.

Đặc biệt Nghị định số 17/2010/NĐ-CP bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của người trúng đấu giá. Trong trường hợp có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc sửa đổi một phần hoặc hủy toàn bộ các quyết định liên quan đến tài sản bán đấu giá do có vi phạm pháp luật thì kết quả bán đấu giá không đương nhiên bị hủy (trường hợp này kết quả bán đấu giá đương nhiên bị hủy theo quy định tại Điều 7.3 Thông tư số 03/2005/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 04 tháng 5 năm 2005 hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 05/2005/ND-CP).

2.6.  Quản lý nhà nước đối với hoạt động bán đấu giá tài sản

 Nghị định quy định Chính phủ thống nhất quản lý về bán đấu giá tài sản, Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về bán đấu giá tài sản trong phạm vi cả nước với một số nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể (Điều 50); trách nhiệm của Bộ Tài chính (Điều 51) và các Bộ, ngành khác (Điều 52); bổ sung các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Sở Tư pháp trong công tác quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động bán đấu giá  tại địa phương (Điều 53).

 Nghị định quy định về nguyên tắc xử lý vi phạm đối với các hành vi của cá nhân, tổ chức có liên quan đến tổ chức, hoạt động bán đấu giá; thủ tục, thẩm quyền xử lý vi phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp (Điều 54); quy định chuyển tiếp đối với các trường hợp doanh nghiệp, đấu giá viên đang hoạt động theo quy định của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP (Điều 55); xác định những điều khoản văn bản cần sửa đổi, thay thế, bãi bỏ (Điều 56).

3. Triển khai thi hành Nghị định số 17/2010/NĐ-CP của Chính phủ

3.1. Quá trình triển khai

Việc triển khai đồng bộ, hiệu quả Nghị định số 17/2010/NĐ-CP sẽ là tiền đề quan trọng để chuyên nghiệp hóa và tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bán đấu giá tài sản, phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đồng thời thúc đẩy hoạt động bán đấu giá phát triển, góp phần tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm cho một bộ phận người lao động, ngăn ngừa tiêu cực, tránh thất thoát tài sản, nhất là tài sản công, bảo đảm quyền lợi cho cá nhân, tổ chức có tài sản.  Thực hiện chủ trương và định hướng trên thì ngày 07/7/2010 Bộ Tư pháp có công văn số 2039/BTP-BTTP về việc phối hợp chỉ đạo triển khai Nghị định số 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản. Bộ Tư pháp đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt với các nội dung sau:

Tổ chức Hội nghị triển khai, phổ biến và quán triệt sâu sắc nội dung của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP đến cán bộ chủ chốt của các Sở, ngành, UBND quận, huyện, các cơ quan, đơn vị có liên quan, các Trung tâm và doanh nghiệp bán đấu giá tài sản nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tổ chức thực hiện hoạt động bán đấu giá tài sản tại địa phương.

Xây dựng Kế hoạch triển khai thi hành Nghị định số 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản tại địa phương để phối hợp thi hành đồng bộ, thống nhất các quy định của Nghị định; đồng thời, căn cứ vào điều kiện thực tế của từng địa phương để ban hành Chỉ thị của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố nhằm đôn đốc việc triển khai thi hành Nghị định số 17/2010/NĐ-CP.

Kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP, các Kế hoạch, Chỉ thị nêu trên tại địa phương, kịp thời có biện pháp hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện. 

Để bảo đảm triển khai hiệu quả Nghị định số 17/2010/NĐ-CP trên địa bàn, Bộ Tư pháp đề nghị Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phát huy vai trò giám sát, tăng cường đôn đốc, kiểm tra việc thi hành Nghị định số 17/2010/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản tại địa phương; hướng dẫn kịp thời mức thu các loại phí áp dụng trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản tại địa phương theo thẩm quyền, phù hợp với pháp luật về phí, lệ phí và hướng dẫn của Bộ Tài chính.

Bộ Tư pháp cũng đã kịp thời có công văn số 3175/BTP-BTTP ngày 09/9/2010 về việc Hội đồng bán đấu giá quyền sử dụng đất gửi HĐND, UBND các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, để tránh tình trạng ách tắc trong việc bán đấu giá quyền sử dụng đất trên địa bàn, đối với các Hội đồng bán đấu giá tài sản được thành lập trước ngày có hiệu lực của Nghị định 17/2010/NĐ-CP là 01/7/2010 mà đã tiếp nhận việc bán đấu giá quyền sử dụng đất đối với một số lô đất cụ thể và đã tiến hành việc bồi thường, giải phóng mặt bằng, có phương án đấu giá được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trước ngày 01/7/2010. theo đó các Hội đồng này vẫn tiếp tục thực hiện việc bán đấu giá lô đất trên theo trình tự, thủ tục quy định tại Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg.

3.2. Đánh giá kết quả bước đầu triển khai thi hành Nghị định số 17/2010/NĐ-CP của Chính phủ cho đến nay

Trên cơ sở nội dung của Kế hoạch triển khai thi hành Nghị định số 17/2010/NĐ-CP yêu cầu UBND các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương tập trung vào các vấn đề cụ thể là:

Chỉ đạo, phân công cụ thể nhiệm vụ của các Sở, ban, ngành liên quan, của UBND các quận, huyện thực hiện nghiêm túc các quy định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản, đặc biệt là việc bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất nhằm bảo đảm khách quan, minh bạch, hiệu quả và đúng theo quy định của pháp luật.

Không thành lập Hội đồng đấu giá quyền sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện để bán đấu giá quyền sử dụng đất, thực hiện đúng quy định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP về việc giao cho các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp (Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản, doanh nghiệp bán đấu giá tài sản) thực hiện bán đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất; Đối với địa phương đã giao việc bán đấu giá quyền sử dụng đất cho Tổ chức phát triển quỹ đất thì đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phân công trách nhiệm cho các Sở, ban, ngành liên quan phối hợp hướng dẫn Tổ chức phát triển quỹ đất ký hợp đồng với tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp để thực hiện việc bán đấu giá quyền sử dụng đất theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 17/2010/NĐ-CP; Đối với việc bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thì cần đảm bảo thực hiện đúng quy định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP và Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008.

Quan tâm củng cố, kiện toàn Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản gắn với lộ trình chuyển đổi Trung tâm này sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp, phát huy cơ chế tự chủ về tài chính, phát triển các doanh nghiệp bán đấu giá tài sản ở địa phương trước những yêu cầu mới về tăng cường hiệu quả hoạt động bán đấu giá tài sản, bảo đảm các tổ chức này đủ năng lực để thực hiện tốt việc bán đấu giá tài sản, nhất là tài sản thi hành án, tài sản nhà nước, tài sản là quyền sử dụng đất.

Chỉ đạo việc củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ của Phòng Bổ trợ tư pháp có đủ năng lực tham mưu cho Giám đốc Sở Tư pháp thực hiện tốt nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về bán đấu giá tài sản tại địa phương; chỉ đạo cơ quan công an và các Sở, ban, ngành liên quan phối hợp với Sở Tư pháp trong việc ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động bán đấu giá tài sản.

Theo đó, đánh giá sơ bộ cho đến nay thì đã có 06 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành chỉ thị và 17 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành kế hoạch triển khai Nghị định số 17/2010/NĐ-CP của Chính phủ về bán đấu giá tài sản, nhằm nhanh chóng giải quyết những bất cập, vướng mắc của hoạt động bán đấu giá. Nhìn chung các địa phương triển khai thi hành Nghị định số 17/2010/NĐ-CP tốt, bước đầu cho thấy sự phối hợp và quan tâm của UBND, HĐND các địa phương với hoạt động bán đấu giá, để hoạt động bán đấu giá nhanh chóng đi vào cuộc sống, giải quyết tốt những vướng mắc trong thực tiễn hiện nay.

 

 

                                         Phần thứ ba

KINH NGHIỆM BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI



 


I.  Bán đấu giá tài sản theo quy định của Bộ luật Thương mại Pháp

Hoạt động đấu giá và nghề đấu giá của Pháp xuất hiện từ thế kỷ XV và hiện nay rất phát triển. Bán đấu giá là hình thức mua bán tài sản được nhiều tổ chức và cá nhân lựa chọn. Bởi lẽ, các tổ chức bán đấu giá ở Pháp rất có uy tín, thông qua tổ chức bán đấu giá chủ sở hữu luôn bán được tài sản với giá cao trong một thời gian ngắn. Do vậy, doanh thu về bán đấu giá tài sản đóng góp lớn vào phát triển kinh tế của nước Pháp.

Đấu giá viên là một nghề có uy tín và thu nhập tương đối cao trong xã hội. Họ là những người không chỉ có kiến thức pháp luật, kiến thức về tài sản mà còn có kiến thức sâu rộng về thị trường, về giá trị tài sản và giá trị  nghệ thuật. Người muốn trở thành đấu giá viên phải có bằng luật (cử nhân luật) và kiến thức lịch sử nghệ thuật (Đại học đại cương 02 năm) và phải trải qua một kỳ thực tập đấu giá là 02 năm tại các cơ sở bán đấu giá tài sản. Để được thực tập tại các cơ sở bán đấu giá tài sản người có nguyện vọng thực tập phải vượt qua một kỳ thi đầu vào. Đây là một kỳ thi rất khó, trung bình chỉ có 10% trên tổng số thí sinh thi đỗ.

Khi hành nghề đấu giá, đấu giá viên bị ràng buộc bởi nhiều nghĩa vụ do luật định, phải có bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Vi phạm của đấu giá viên tùy theo mức độ có thể do Hội đồng đấu giá viên quốc gia thi hành kỷ luật hoặc quy trách nhiệm theo theo Bộ luật Hình sự Pháp. Ngoài ra, trong Bộ luật Hình sự Pháp cũng có điều khoản về tội thông đồng, dìm giá của những người tham gia đấu giá, vậy nên, trong thực tế hiện tượng này xảy ra không nhiều.

Bán đấu giá tài sản được quy định trong Bộ Luật Thương mại pháp. Điều L320-1 quy định : “Không ai có thể sử dụng bán đấu giá tài sản như một phương pháp thông dụng để thực hiện hoạt động thương mại của họ”. Điều kiện bắt buộc đối với hoạt động bán đấu giá tài sản phải do những cá nhân, tổ chức đủ điều kiện nhất định tiến hành.

Việc bán đấu giá tài sản là động sản tự nguyện chỉ được tiến hành khi đó là hàng hoá cũ. Đối với hàng hoá mới thì phải do các thương gia thực hiện. Bộ luật Thương mại Pháp quy định cơ quan quản lý về bán đấu giá tài sản tự nguyện là Ủy ban quản lý về bán đấu giá động sản tự nguyện. Ủy ban có tư cách pháp nhân, có trách nhiệm quản lý, cho phép các cá nhân tổ chức có đủ điều kiện tổ chức bán đấu giá động sản tự nguyện; đăng ký việc công bố các cá nhân thuộc cộng đồng Châu Âu; xử phạt  những vi phạm của các công ty, các chuyên gia đối với quy chế và nghĩa vụ nghề nghiệp của công tác bán đấu giá tài sản tự nguyện. Ủy ban được quyền từ chối hoặc rút giấy phép của một công ty.

Các Công ty bán đấu giá động sản tự nguyện được thực hiện hoạt động bán đấu giá, song chỉ được bán tài sản là động sản. Tài sản là bất động sản do các công chứng viên thực hiện. Tài sản là bất động sản để thi hành án thì do các thẩm phán trực tiếp bán đấu giá.

Các Công ty bán đấu giá động sản tự nguyện cũng sẽ hoạt động như người đại diện chủ sở hữu tài sản nhưng họ không có quyền nhân danh cá nhân mua hoặc bán trực tiếp hoặc gián tiếp động sản đưa ra bán đấu giá. Quy định trên có hiệu lực đối với cả Giám đốc công ty và các thành viên công ty. Những người này có thể bán tài sản của mình thông qua công ty.

Các công ty bán đấu giá động sản tự nguyện chỉ có thể thực hiện hoạt động của họ sau khi có sự cho phép của Ủy ban quản lý về bán đấu giá động sản tự nguyện được thành lập bảo đảm cơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất và tài chính đầy đủ theo quy định của pháp luật. Công ty phải bảo đảm tính trung thực và kinh nghiệm của người điều hành và kế hoạch để bảo đảm an toàn cho giao dịch với khách hàng. Các công ty bán đấu giá động sản tự nguyện phải trình Ủy ban quản lý về bán đấu giá động sản tự nguyện những thông tin cần thiết về trụ sở, nơi động sản được đưa ra bán, được trưng bày và nơi mà hoạt động bán đấu giá thường được tổ chức.

Công ty bán đấu giá phải có ít nhất 01 người trong số những người điều hành, thành viên hoặc nhân viên, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn điều hành phiên bán đấu giá hoặc có chứng chỉ, bằng cấp hoặc được Ủy ban quản lý về bán đấu giá động sản tự nguyện công nhận đủ tiêu chuẩn theo các điều kiện đã được xác định.

Về trình tự, thủ tục mở phiên đấu giá thì mỗi phiên bán đấu giá tài sản tự nguyện sẽ được công bố công khai theo cách thức phù hợp.

Người có tài sản bán đấu giá sẽ đưa ra giá tối thiểu và phải được đấu giá viên đồng ý (đấu giá viên của Pháp rất am hiểu giá cả thị trường). Giá tối thiểu không được công bố cho người tham gia đấu giá biết. Thông thường tài sản sẽ không được bán nếu giá được trả thấp hơn giá tối thiểu. Do đấu giá viên hiểu biết về giá trị tài sản nên người có tài sản bán đấu giá thường giao cho đấu giá viên quyết định giá khởi điểm. Giá khởi điểm được công bố công khai để người tham gia đấu giá biết. Người điều hành phiên đấu giá sẽ có quyền tự điều hành phiên đấu giá, xác định người trả giá cao nhất là người mua được tài sản hoặc công bố tài sản không được bán và lập biên bản bán đấu giá chính thức.

Biên bản bán đấu giá phải được lập trong thời hạn 01 ngày sau ngày kết thúc phiên đấu giá. Biên bản phải xác định tên địa chỉ của người sở hữu mới đã được tuyên bố là người mua được tài sản bán đấu giá, danh tính của người bán, mô tả tài sản và giá bán tài sản đó.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bán, thông qua công ty bán đấu giá tài sản, người bán tài sản có thể tự bán tài sản đối với tài sản đã bị công bố không bán được khi kết thúc phiên đấu giá. Yêu cầu về trưng bày và công khai trước khi bán sẽ không áp dụng đối với giao dịch này. Trong trường hợp đó, tài sản sẽ không được bán với giá thấp hơn giá người trả cuối cùng trước khi tài sản đó bị rút khỏi phiên đấu giá hoặc trong trường hợp không có ai trả giá hoặc giá thấp hơn giá tối thiểu. Người trả giá cao nhất nếu có sẽ được thông tin về điều này. Giao dịch này sẽ được ghi vào biên bản kèm theo biên bản bán đấu giá. Công ty bán đấu giá có trách nhiệm lưu giữ hồ sơ bán đấu giá.

Bộ Luật Thương mại Pháp còn cho phép công ty tổ chức bán đấu giá có thể bảo đảm về giá tối thiểu cho người có tài sản bán đấu giá. Giá này được thanh toán nếu như tài sản được bán. Phương thức này được áp dụng đối với các công ty đã ký hợp đồng bảo hiểm với một Công ty Bảo hiểm hoặc một tổ chức tín dụng mà theo đó công ty bảo hiểm hoặc tổ chức tín dụng cam kết trong trường hợp công ty đó bị thất bại thì công ty bảo hiểm hoặc tổ chức tín dụng này phải thanh toán sự chênh lệch giữa giá bảo đảm và giá bán thực tế nếu như tài sản không được bán với giá bảo đảm trong phiên đấu giá.

Công ty bán đấu giá động sản có thể đưa cho người bán tiền tạm ứng giá bán đối với tài sản được đưa ra bán. Công ty phải chịu trách nhiệm đối với bên bán và bên mua về giá cả và việc chuyển tài sản mà công ty bán. Bất kỳ điều khoản nào được đưa ra với mục đích tránh né hoặc hạn chế trách nhiệm này sẽ coi như chưa được đưa vào hợp đồng. Tài sản chỉ có thể chuyển tới người mua khi công ty nhận được tiền theo giá bán của tài sản hoặc khi có bảo lãnh về việc thanh toán của người mua.

Nếu người mua được tài sản đấu giá không thanh toán tiền, sau khi đã nhận được thông báo chính thức mà không có sự hồi âm thì tài sản sẽ được bán lại theo yêu cầu của người bán. Nếu bên bán không đưa ra yêu cầu bán lại trong vòng 01 tháng kể từ phiên đấu giá, việc bán đấu giá đó sẽ tự bị huỷ, thiệt hại sẽ do người mua chịu.

 

II. Bán đấu giá công khai của Canada:

Đạo luật về bán đấu giá công khai của Canada (tỉnh Alberta) quy định các loại tài sản đều có thể đấu giá công khai chỉ loại trừ những trường hợp không áp dụng đấu giá công khai đã được quy định trong Luật về thi hành án dân sự hoặc Lệnh của toà án có thẩm quyền quy định; hàng hoá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tịch thu để thu hồi thuế; đối với súc vật nuôi của người kinh doanh bán đấu giá có chức năng giao dịch và quản lý súc vật nuôi theo các quy định tại đạo luật về sản phẩm súc vật nuôi; tài sản thuộc quyền sở hữu của các tổ chức tôn giáo, từ thiện hoặc không sinh lợi; tài sản thuộc quyền sở hữu của các tổ chức giáo dục.

Về quy định người bán đấu giá tài sản:

Người kinh doanh đấu giá là cá nhân, công ty hợp danh hoặc công ty đối vốn có tham gia vào hoạt động đấu giá. Khi được Chủ tịch cơ quan quản lý hoạt động bán đấu giá cấp giấy phép thì cá nhân, tổ chức được tham gia vào hoạt động điều hành bán đấu giá, quảng cáo về hoạt động bán đấu giá, tự nhận là người kinh doanh bán đấu giá. Người kinh doanh bán đấu giá không được ủy quyền, cho phép hoặc chỉ đạo nhân viên của mình; tham gia, cho phép hoặc ủy quyền cho bất kỳ cá nhân nào khác điều hành bán đấu giá trừ khi nhân viên hoặc cá nhân này có đủ điều kiện điều hành bán đấu giá theo quy chế.

Cơ quan quản lý bán đấu giá tài sản:

Bộ trưởng bổ nhiệm Chủ tịch cơ quan quản lý bán đấu giá tài sản công khai. Chủ tịch có quyền cấp giấy phép cho người nộp đơn yêu cầu nếu xét thấy người làm đơn có đủ điều kiện theo quy định; Chủ tịch có quyền yêu cầu người làm đơn bổ sung thêm các thông tin trong thời hạn quy định; yêu cầu người làm đơn xác thực về thông tin cung cấp bằng bản khai có tuyên thệ hoặc bằng các hình thức khác; người được cấp phép muốn chấm dứt hoạt động có thời hạn phải thông báo cho Chủ tịch qua thư bảo đảm và khi hoạt động trở lại cũng phải thông báo.

Chủ tịch có quyền tước hoặc đình chỉ sử dụng giấy phép nếu người kinh doanh đấu giá vi phạm luật hoặc quy chế, nếu lợi ích công cộng yêu cầu.

Luật đấu giá của bang Albama quy định rất chặt chẽ tiêu chuẩn để trở thành đấu giá viên. Người muốn trở thành đấu giá viên phải trải qua khóa học gồm những  môn sau đây: 

(1) Kỹ năng trả giá theo từng bậc

(2) Pháp luật về đấu giá và đạo đức của đấu giá viên

(3) Luật hợp đồng

(4) Luật về người uỷ quyền và đại lý

(5) Điều hành phiên bán đấu giá

(6) Nghiệp vụ sổ sách và tài chính

(7) Quảng cáo (thông báo) bán đấu giá

(8) Bán đấu giá vật nuôi

(9) Bán đấu giá bất động sản

(10) Bán đấu giá tại các cơ sở bán đấu giá

(11) Bán đấu giá nông trại

(12) Bán đấu giá tài sản di chúc và nợ phá sản

(13) Bán đấu giá máy móc và thiết bị

(14) Bán đấu giá ôtô

(15) Thanh lý tài sản doanh nghiệp

(16) Bán đấu giá đồ cổ và đấu giá để gây quỹ.

Đối với phần đào tạo trên lớp, sinh viên được yêu cầu tham gia bán đấu giá trên thực tế. Việc thực tập bán đấu giá là một phần học có hướng dẫn của nhà trường. Diện mạo cá nhân, cư xử lịch thiệp và kỹ năng quảng cáo là yêu cầu cần thiết để gây ấn tượng mạnh cho mọi người tham dự. Kinh nghiệm thực hành về sổ sách, ngân quỹ, dán nhãn và mua bán hàng hóa cũng cần được đào tạo.

 

III. Luật về bán đấu giá tài sản của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

Về quy định người bán đấu giá tài sản

Người bán đấu giá tài sản là Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân được thành lập để tiến hành hoạt động bán đấu giá theo quy định của pháp luật. Doanh nghiệp bán đấu giá tài sản có thể được thành lập ở cấp thành phố hoặc thị xã và phải được sự chấp thuận của cơ quan quản lý bán đấu giá theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và khu tự trị. Luật phân định điều kiện thành lập hai loại doanh nghiệp bán đấu giá tài sản khác nhau loại bán đấu giá tài sản thông thường có vốn đăng ký ít nhất là 1.000.000 nhân dân tệ trong khi doanh nghiệp bán đấu giá tài sản là cổ vật phải có vốn đăng ký ít nhất là 10.000.000 nhân dân tệ đồng thời phải có đội ngũ đấu giá viên có kinh nghiệm trong việc bán cổ vật.

Đấu giá viên là người chủ trì cuộc bán đấu giá và phải đáp ứng được những điều kiện sau:

- Có bằng tốt nghiệp đại học và kinh nghiệm chuyên môn về bán đấu giá;

- Đã làm việc cho doanh nghiệp bán đấu giá từ hai năm trở lên;

- Có tư cách đạo đức tốt.

Những người đã bị sa thải và những người mà Thẻ đấu giá viên bị tịch thu dưới năm năm, những người đang thi hành án hình sự về những tội do cố ý sẽ không được làm Đấu giá viên.

Những người đủ tiêu chuẩn trên sẽ phải vượt qua cuộc thi tuyển chọn Đấu giá viên do Hiệp hội bán đấu giá tổ chức, nếu đạt yêu cầu của kỳ thi sẽ được Hiệp hội cấp chứng chỉ Đấu giá viên.

Về trình tự, thủ tục mở phiên đấu giá:

Cuộc bán đấu giá tài sản sẽ do đấu giá viên chủ trì. Người bán đấu giá tài sản phải công bố nội quy  bán đấu giá và những vấn đề cần thiết khác trước khi tiến hành bán đấu giá. Khi điều hành cuộc bán đấu giá, người bán đấu giá phải tiến hành lập biên bản bán đấu giá. Người lập biên bản và đấu giá viên ký vào biên bản. Khi cuộc đấu giá thành thì người mua được tài sản mới ký vào biên bản.

Nếu tài sản đấu giá đòi hỏi phải thực hiện các thủ tục như thay đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu và giấy chuyển quyền sở hữu theo quy định thì trên cơ sở văn bản bán đấu giá tài sản và các tài liệu khác có liên quan, người ủy quyền bán đấu giá tài sản và người mua được tài sản phải thực hiện các thủ tục cần thiết.

Cơ quan quản lý bán đấu giá tài sản:

Cơ quan quản lý bán đấu giá tài sản thống nhất trên toàn quốc chịu trách nhiệm trực tiếp trước Chính phủ. Sở Công nghiệp và Thương mại cấp giấy phép kinh doanh trong lĩnh vực đấu giá tài sản cho doanh nghiệp. Hiệp hội bán đấu giá tài sản là một tổ chức xã hội có tư cách pháp nhân và là tổ chức tự quản trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản, giám sát các doanh nghiệp bán đấu giá tài sản và đấu giá viên. Hiệp hội có quyền tổ chức các kỳ thi tuyển chọn đấu giá viên, cấp chứng chỉ đấu giá viên.

 

LUẬT VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN                                                                  CỦA NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA

(Luật này được thông qua tại Hội nghị lần thứ 8 ngày 05 tháng 7 năm 1996 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa)

Điều 1.

Luật này được ban hành nhằm tiêu chuẩn hoá hoạt động bán đấu giá, bảo đảm trật tự bán đấu giá và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia đấu giá.

Điều 2.

Luật này áp dụng đối với hoạt động bán đấu giá do các doanh nghiệp bán đấu giá tiến hành trong lãnh thổ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa.

Điều 3.

Bán đấu giá là hình thức bán và mua tài sản công khai theo đó các tài sản và quyền tài sản được bán cho người trả giá cao nhất.

Điều 4.

Hoạt động bán đấu giá phải tuân theo các văn bản pháp luật có liên quan và được thực hiện theo nguyên tắc công khai, bình đẳng, trung thực, vô tư và tin cậy.

Điều 5.

Cơ quan quản lý hoạt động bán đấu giá thực hiện quản lý hoạt động bán đấu giá và giám sát hoạt động bán đấu giá trên toàn quốc chịu trách nhiệm trước Chính phủ.

Điều 6.

Tài sản bán đấu giá là tài sản hoặc quyền tài sản do người uỷ quyền bán đấu giá sở hữu hoặc có quyền xử lý theo quy định pháp luật.

Điều 7.

Không được bán đấu giá tài sản hoặc quyền tài sản mà pháp luật cấm mua bán.

Điều 8.

Việc bán các tài sản và quyền tài sản mà việc chuyển giao quyền sở hữu phải được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc của Chính phủ, chỉ được thực hiện sau khi có sự chấp thuận đó.

Các cổ vật văn hoá phải được sự đánh giá và được phép của cơ quan quản lý văn hoá, nơi người bán đấu giá cư trú, trước khi đưa ra bán đấu giá.

Điều 9.

Việc bán đấu giá tài sản bị tịch thu bởi cơ quan hành chính theo quy định của pháp luật, tài sản dùng để nộp thuế hoặc tiền phạt và các tài sản bán đấu giá khác theo quy định của Chính phủ sẽ được thực hiện bởi người bán đấu giá do Uỷ ban nhân dân cấp huyện, nơi có tài sản chỉ định.

Việc bán đấu giá các tài sản bị tịch thu bởi Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật, tài sản dùng để trả tiền phạt và các tài sản vô chủ được thực hiện theo quy định của Khoản 1 Điều này.

Điều 10.

Người bán đấu giá là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân được thành lập để tiến hành hoạt động bán đấu giá theo quy định của Luật này và Luật Doanh nghiệp của nước CHND Trung Hoa.

Điều 11.

Doanh nghiệp bán đấu giá có thể được thành lập tại cấp thành phố hoặc thị xã. Việc thành lập doanh nghiệp bán đấu giá phải được sự chấp thuận của cơ quan quản lý bán đấu giá theo uỷ quyền của uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và khu tự trị, nơi doanh nghiệp có trụ sở.

Doanh nghiệp bán đấu giá phải đăng ký với Sở Công nghiệp và Thương mại để xin Giấy phép kinh doanh.

Điều 12.

Doanh nghiệp bán đấu giá phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

1. Có vốn đăng ký ít nhất là 1 triệu ND tệ;

2. Có tên, cơ cấu tổ chức, trụ sở và điều lệ riêng;

3. Có đấu giá viên và nhân viên đủ tiêu chuẩn để tiến hành hoạt động bán đấu giá;

4. Có quy chế bán đấu giá phù hợp với luật này và các quy định của pháp luật có liên quan;

5. Có Giấy phép hành nghề kinh doanh đặc biệt do Cơ quan Công an cấp;

6. Tuân theo những quy định của Chính phủ về phát triển hoạt động bán đấu giá;

7. Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của pháp luật.

Điều 13.

Doanh nghiệp bán đấu giá cổ vật văn hoá phải có vốn đăng ký ít nhất là 10 triệu ND tệ và có đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm trong việc bán đấu giá cổ vật.

Điều 14.

Cuộc bán đấu giá sẽ do Đấu giá viên chủ trì.

Điều 15.

Đấu giá viên phải đáp ứng được những điều kiện sau:

1. Có bằng tốt nghiệp đại học và kinh nghiệm chuyên môn về bán đấu giá;

2. Đã làm việc cho doanh nghiệp bán đấu giá từ hai năm trở lên;

3. Có tư cách đạo đức tốt.

Những người đã bị sa thải và những người mà Thẻ đấu giá viên bị tịch thu dưới năm năm, những người đang thi hành án hình sự về những tội do cố ý sẽ không được làm Đấu giá viên.

Điều 16.

Cuộc thi tuyển chọn Đấu giá viên sẽ hoàn toàn do Hiệp hội bán đấu giá tổ chức. Những người đạt yêu cầu của kỳ thi sẽ được Hiệp hội cấp chứng chỉ Đấu giá viên.

Điều 17.

Hiệp hội bán đấu giá là một tổ chức xã hội có tư cách pháp nhân, được thành lập theo quy định của pháp luật và là tổ chức tự quản trong lĩnh vực bán đấu giá. Hiệp hội thực hiện chức năng giám sát các doanh nghiệp bán đấu giá và Đấu giá viên theo quy định của luật này và Điều lệ của Hiệp hội.

Điều 18.

Người bán đấu giá có quyền yêu cầu người uỷ quyền bán đấu giá thông báo về nguồn gốc và tình trạng của tài sản bán đấu giá.

Người bán đấu giá thông báo về tình trạng của tài sản bán đấu giá cho người tham gia đấu giá.

Điều 19.

Người bán đấu giá có nghĩa vụ bảo quản tài sản bán đấu giá do người uỷ quyền giao để bán đấu giá.

Điều 20.

Khi nhận uỷ quyền, người bán đấu giá  không được uỷ quyền cho người bán đấu giá khác, trừ khi được người uỷ quyền đồng ý.

Điều 21.

Người bán đấu giá phải giữ bí mật danh phận của người uỷ quyền hoặc người mua nếu người uỷ quyền hoặc người mua đề nghị.

Điều 22.

Người bán đấu giá và các nhân viên khác không được tham gia vào phiên đấu giá do mình tổ chức và không được uỷ quyền cho người khác trả giá thay mình.

Điều 23.

Người bán đấu giá không được bán đấu giá tài sản của chính mình tại phiên đấu giá do mình tổ chức.

Điều 24.

Sau khi cuộc bán đấu giá kết thúc, theo thoả thuận, người bán đấu giá phải trả số tiền thu được từ việc bán đấu giá tài sản cho người uỷ quyền, chuyển giao tài sản bán đấu giá cho người mua được tài sản bán đấu giá.

Điều 25.

Người uỷ quyền bán đấu giá tài sản là cá nhân, pháp nhân hoặc tổ chức uỷ quyền cho người bán đấu giá bán tài sản và quyền tài sản cho mình.

Điều 26.

Người uỷ quyền có thể tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác tiến hành các thủ tục uỷ quyền bán đấu giá tài sản.

Điều 27.

Người uỷ quyền phải thông báo về nguồn gốc và tình trạng của tài sản bán đấu giá cho người bán đấu giá.

Điều 28.

Người uỷ quyền có quyền đưa ra giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá cho ngưòi bán đấu giá.

Đối với tài sản nhà nước cần phải tiến hành định giá trước khi bán đấu giá theo quy định của pháp luật hoặc của Chính phủ, thì việc định giá tài sản sẽ do một cơ quan được thành lập theo quy định của pháp luật tiến hành định giá. Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá sẽ được đưa ra đồng thời với kết quả giám định tài sản.

Điều 29.

Trước khi diễn ra cuộc đấu giá, người uỷ quyền có thể lấy lại tài sản bán đấu giá. Trong trường hợp này, người uỷ quyền phải trả các chi phí theo thoả thuận với người bán đấu giá. Trong trường hợp không có thoả thuận, người uỷ quyền phải trả cho người bán đấu giá các chi phí hợp lý.

Điều 30.

Người uỷ quyền không được tham gia trả giá hoặc uỷ quyền cho người khác tham gia trả giá cho mình tại cuộc bán đấu giá tài sản.

Điều 31.

Sau khi cuộc đấu giá kết thúc, nếu có thoả thuận về việc chuyển giao tài sản bán đấu giá, thì người uỷ quyền phải chuyển giao tài sản bán đấu giá cho người mua được tài sản bán đấu giá.

Điều 32.

Người tham gia đấu giá là cá nhân, pháp nhân hoặc tổ chức tham gia cuộc đấu giá tài sản bán đấu giá.

Điều 33.

Nếu có quy định của pháp luật về việc người tham gia đấu giá phải đáp ứng các yêu cầu nhất định về việc mua và bán tài sản đấu giá, thì người tham gia đấu giá phải đáp ứng các yêu cầu đó.

Điều 34.

Người tham gia đáu giá có thể tham gia đấu giá hoặc uỷ quyền cho người khác tham gia đấu giá cho mình.

Điều 35.

Người tham gia đấu giá có quyền được thông báo về tình trạng tài sản bán đấu giá, kiểm tra tài sản bán đấu giá và tham khảo ý kiến về tài sản bán đấu giá.

Điều 36.

Người tham gia đấu giá không được rút lại  giá  đã trả khi giá đã được công bố.

Khi những người tham gia đấu giá khác trả giá cao hơn thì giá đã trả trước không còn giá trị.

Điều 37.

Người tham gia đấu giá không được cố ý cấu kết với những người tham gia đấu giá khác và người bán đấu giá nhằm gây thiệt hại cho những người khác.

Điều 38.

Người mua được tài sản là người tham gia đấu giá trả giá cao nhất.

Điều 39.

Người mua được tài sản trả tiền mua tài sản bán đấu giá theo thoả thuận với người bán đấu giá. Người mua được tài sản không trả tiền theo thoả thuận phải chịu trách nhiệm về việc vi phạm hợp đồng, hoặc được sự đồng ý của người uỷ quyền, người bán đấu giá tài sản có thể tổ chức bán đấu giá lại.

Trong trường hợp đấu giá lại, người từ chối mua tài sản phải trả một khoản  phí. Người uỷ quyền sẽ phải trả các chi phí cho việc bán đấu giá lần đầu. Trường hợp giá tài sản lần bán đấu giá thấp hơn giá đã trả trước đó thì người từ chối mua tài sản bán đấu giá phải trả khoản tiền chênh lệch.

Điều 40.

Nếu người mua được tài sản bán đấu giá không nhận được tài sản như thoả thuận thì người bán đấu giá hoặc người uỷ quyền phải chịu trách nhiệm về việc vi phạm hợp đồng.

Người mua được tài sản không nhận tài sản như đã thoả thuận phải trả chi phí lưu giữ tài sản.

Điều 41.

Theo yêu cầu của người bán đấu giá, người uỷ quyền bán đấu giá tài sản phải xuất trình chứng minh thư của mình hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản bán đấu giá hoặc giấy tờ chứng minh rằng người uỷ quyền có quyền xử lý tài sản.

Điều 42.

Người bán đấu giá phải xác minh giấy tờ, tài liệu mà người uỷ quyền cung cấp. Nếu chấp nhận uỷ quyền thì người bán đấu giá phải ký hợp đồng uỷ quyền với người được uỷ quyền.

Điều 43.

Người bán đấu giá có thể tiến hành xác minh tài sản bán đấu giá nếu thấy cần thiết.

Trường hợp kết luận xác minh không phù hợp với tình trạng tài sản bán đấu giá nêu tại hợp đồng bán đấu giá tài sản thì người bán đấu giá có quyền yêu cầu sửa đổi hoặc bổ sung hợp đồng.

Điều 44.

Hợp đồng uỷ quyền gồm những điều khoản sau đây:

Tên và địa chỉ người uỷ quyền và người bán đấu giá;

Tên, đặc tính, số lượng và chất lượng tài sản bán đấu giá tài sản;

Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá;

Thời gian và địa điểm bán đấu giá;

Việc giao tài sản bán đấu giá hoặc thời gian và phương thức chuyển giao tài sản;

Phương thức, thời gian thanh toán tiền thu được từ việc bán đấu giá tài sản;

Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;

Những vấn đề khác theo thoả thuận của các bên.

Điều 45.

Người bán đấu giá phải thông báo về việc bán đấu giá 7 ngày trước khi tổ chức bán đấu giá.

Điều 46.

Thông báo bán đấu giá phải gồm những nội dung sau đây:

Thời gian và địa điểm bán đấu giá;

Tài sản bán đấu giá;

Thời gian và địa điểm trưng bày tài sản bán đấu giá;

Thủ tục mà người tham gia đấu giá phải tuân theo;

Các nội dung khác nếu thấy cần thiết.

Điều 47.

Thông báo bán đấu giá được đăng trên báo hoặc các phương tiện thông tin khác.

Điều 48.

Người bán đấu giá phải trưng bày tài sản bán đấu giá trước khi tiến hành bán đấu giá, tạo mọi điều kiện cần thiết cho việc xem xét tài sản bán đấu giá và cung cấp các thông tin liên quan khác. Thời gian trưng bày tài sản bán đấu giá không dưới 02 ngày.

Điều 49.

Người bán đấu giá phải công bố nội quy bán đấu giá và những vấn đề cần thiết khác trước khi tiến hành bán đấu giá.

Điều 50.

Nếu tài sản bán đấu giá không có giá khởi điểm thì người bán đấu giá phải làm rõ (việc không có giá khởi điểm) trước khi tiến hành bán đấu giá.

Nếu  tài sản bán đấu giá có giá khởi điểm nhưng người trả giá cao nhất trả giá thấp hơn giá khởi điểm thì giá đó không có giá trị và người bán đấu giá phải ngừng cuộc bán đấu giá.

Điều 51.

Cuộc bán đấu giá kết thúc khi giá cao nhất được trả thông qua việc Đấu giá viên khẳng định bằng cách gõ búa hoặc bằng cách khác kết thúc cuộc bán đáu giá.

Điều 52.

Sau khi cuộc bán đấu giá kết thúc, người mua được tài sản và người bán đấu giá sẽ ký kết một Văn bản bán đấu giá thành.

Điều 53.

Khi điều hành cuộc bán đấu giá, người bán đấu giá phải lập biên bản bán đấu giá. Biên bản sẽ do Đấu giá viên và người lập biên bản ký. Trường hợp cuộc bán đấu giá thành thì biên bản sẽ được cả người mua được tài sản ký.

Điều 54.

Người bán đấu giá phải lưu giữ sổ sách kế toán liên quan đến hoạt động của mình, biên bản bán đấu giá và các tài liệu liên quan khác.

Thời gian lưu giữ sổ sách kế toán, biên bản bán đấu giá và các tài liệu liên quan khác được tính từ lúc các tài liệu này được đưa vào máy tính đến lúc hợp đồng uỷ quyền bán đấu gía tài sản chấm dứt, nhưng không được dưới 05 năm.

Điều 55.

Nếu tài sản bán đấu giá đòi hỏi phải thực hiện các thủ tục như  thay đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu và giấy chuyển quyền sở hữu theo quy định của pháp luật, thì trên cơ sở Văn bản bán đấu giá thành và các tài liệu có liên quan do người bán đấu giá cung cấp, người uỷ quyền bán đấu giá và người mua được tài sản phải thực hiện các thủ tục cần thiết đó với các cơ quan có thẩm quyền.

Điều 56.

Người uỷ quyền, người mua được tài sản và người bán đấu giá có thể thống nhất  tỷ lệ phí bán đấu giá.

Nếu tỷ lệ này không được thoả thuận trước khi cuộc bán đấu giá kết thúc, người bán đấu giá có thể thu một khoản phí không vượt quá 5% giá bán tài sản từ người uỷ quyền và người mua được tài sản.

Trong trường hợp cuộc bán đấu giá không thành, người bán đấu giá có thể thu  phí theo thoả thuận với người uỷ quyền. Trường hợp không có thoả thuận về việc này, người bán đấu giá có thể thu một khoản phí bán đấu giá hợp lý.

Điều 57.

Kết thúc cuộc bán đấu giá các tài sản quy định tại Điều 9 của Luật này người bán đấu giá có thể thu từ người mua được tài sản một khoản phí không vượt quá 5% của giá bán tài sản đấu giá. Trường hợp cuộc bán đấu giá không thành, việc thu phí sẽ được thực hiện theo quy định của đoạn 3 Điều 56.

Điều 58.

Người uỷ quyền vi phạm Điều 6 của Luật này, uỷ quyền bán đấu giá tài sản mà mình không có quyền sở hữu hoặc xử lý theo luật, sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Người bán đấu giá nếu biết rõ rằng người uỷ quyền không có quyền sở hữu đối với tài sản hoặc không có quyền xử lý tài sản, quyền tài sản theo quy định của pháp luật mà vẫn tiến hành bán đấu giá tài sản thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Điều 59.

Nhân viên cơ quan nhà nước vi phạm quy định của Điều 9 Luật này, xử lý trái phép tài sản phải được bán đấu giá theo quy định của Uỷ ban nhân dân tỉnh, khu tự trị hoặc chính quyền địa phương, nơi có tài sản, sẽ bị xử lý theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại cho nhà nước thì phải bồi thường.

Điều 60.

Người có hành vi vi phạm Điều 11 Luật này, thành lập doanh nghiệp bán đấu giá mà không đăng ký hoạt động hoặc không được sự phê chuẩn thì doanh nghiệp sẽ bị đình chỉ hoạt động và thu nhập bất hợp pháp của doanh nghiệp sẽ bị Sở công nghiệp và thương mại tịch thu. Ngoài ra, người vi phạm còn bị phạt một khoản tiền từ 100% đến 500% khoản thu nhập bất hợp pháp.

Điều 61.

Người bán đấu giá và người uỷ quyền vi phạm những quy định Khoản 2 Điều 18 của Luật này, không nêu rõ tình trạng của tài sản mà gây thiệt hại cho người mua được tài sản thì người mua có quyền yêu cầu người bán đấu giá bồi thường. Nếu thiệt hại xảy ra do lỗi của người uỷ quyền, thì người bán đấu giá có quyền yêu cầu người uỷ quyền bồi thường.

Nếu trước cuộc bán đấu giá người bán đấu giá và người  uỷ quyền thông báo rằng họ không thể đảm bảo về chất lượng của tài sản bán đấu giá, thì họ sẽ không phải chịu trách nhiệm về tình trạng của tài sản bán đấu giá.

Nếu không có thông báo nào được đưa ra về tình trạng tài sản bán đấu giá, thì thời hạn yêu cầu đòi bồi thường là 01 năm. Thời hạn này được tính từ ngày bên có liên quan biết hoặc phải biết về việc quyền lợi của mình bị vi phạm.

Thời hạn yêu cầu bồi thường đối với thiệt hại về thân thể và tài sản do tài sản bán đấu giá gây nên sẽ được điều chỉnh bởi những quy định của đạo luật về Chất lượng hàng hoá của nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa và các quy định của pháp luật có liên quan.

Điều 62.

Người bán đấu giá hoặc nhân viên khác vi phạm quy định của Điều 22 của Luật này, tham gia vào cuộc bán đấu giá hoặc uỷ quyền cho người khác tham gia bán đấu giá cho mình, thì sẽ bị Sở công nghiệp và thương mại cảnh cáo và có thể bị phạt từ 100% đến 500% khoản phí bán đấu giá, trường hợp vi phạm nặng sẽ bị thu hồi giấy phép.

Điều 63.

Người bán đấu giá vi phạm Điều 23 Luật này, bán đấu giá tài sản hoặc quyền tài sản của chính mình tại cuộc bán đấu giá do chính người bán đấu giá tiến hành thì, sẽ bị Sở công nghiệp và thương mại tịch thu toàn bộ khoản thu từ việc bán đấu giá.

Điều 64.

Người uỷ quyền vi phạm quy định của Điều 30 Luật này, tham gia trả giá hoặc uỷ quyền cho người khác thay mặt mình tham gia trả giá, sẽ bị Sở công nghiệp và thương mại phạt tiền đến 30% giá bán tài sản bán đấu giá.

Điều 65.

Người tham gia đấu giá vi phạm quy định Điều 37 của Luật này, cấu kết với  người tham gia đấu giá khác hoặc với người bán đấu giá gây thiệt hại cho người khác thì cuộc bán đấu giá sẽ không có hiệu lực và người vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật. Sở Công nghiệp và Thương mại có thể xử phạt một khoản tiền từ 10% đến 30% của giá trả cao nhất đối với người tham gia bán đấu giá và từ 100% đến 500% giá trả cao nhất đối với người bán đấu giá có hành vi câu kết.

Điều 66.

Người bán đấu giá vi phạm quy định Phần 4, Chương 4 Luật này về phí bán đấu giá sẽ phải hoàn lại phần thu vượt quá cho người uỷ quyền và người mua. Ban vật giá có thể phạt người bán đấu giá một khoản tiền bằng 100% đến 500% phí đấu giá.

Điều 67.

Luật này áp dụng đối với người nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và tổ chức nước ngoài uỷ quyền bán đấu giá hoặc tham gia bán đấu giá trên lãnh thổ của nước Cộng hoà Nhân Dân Trung Hoa.

Điều 68.

Doanh nghiệp bán đấu giá thành lập trước khi Luật này có hiệu lực nhưng không đáp ứng những điều kiện quy định tại Luật này, nếu muốn tiếp tục hoạt động phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật này trong một thời hạn nhất định. Doanh nghiệp nào không đáp ứng những điều kiện quy định tại Luật này sẽ bị Sở Công nghiệp và thương mại tịch thu giấy phép và giấy đăng ký hành nghề. Chính phủ chịu trách nhiệm quy định chi tiết nội dung Điều này.

Điều 69.

Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1997.