HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA
CHÍNH PHỦ
ĐẶC SAN
TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT
Số 10/2010
CHỦ ĐỀ
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH
CHÍNH TRONG
VẤN ĐỀ QUỐC TỊCH VÀ NỘI
DUNG CƠ BẢN
CỦA MỘT SỐ VĂN BẢN
HƯỚNG DẪN THI HÀNH
LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM NĂM 2008
HÀ NỘI - NĂM 2010
CHUYÊN ĐỀ
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
TRONG VẤN ĐỀ QUỐC TỊCH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN
CỦA MỘT SỐ VĂN BẢN MỚI HƯỚNG DẪN THI
HÀNH
LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM NĂM 2008
Phần thứ nhất
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
TRONG LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM
VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH
Ngày
nay, cải cách hành chính là vấn đề mang tính toàn cầu. Cả các nước đang phát
triển và các nước phát triển đều xem cải cách hành chính như một động lực mạnh
mẽ để thúc đẩy tăng cường kinh tế, phát triển dân chủ và các mặt khác của đời
sống xã hội. Cải cách thủ tục hành chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm
của mục tiêu cải cách hành chính của các nước nói chung, đặc biệt ở nước ta cải
cách thủ tục hành chính được Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng. Tại các văn
kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước về nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đều chú trọng
đến cải cách hành chính, Chính phủ đã xây dựng một Chương trình tổng thể cải
cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001- 2010 trong đó cải cách về thủ tục hành
chính là một nội dung then chốt.
Cải
cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và công
bằng trong khi giải quyết các công việc hành chính. Loại bỏ những thủ tục rườm
rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho dân. Mẫu hoá
thống nhất các loại giấy tờ mà công dân cần phải làm khi có yêu cầu giải quyết
các công việc về sản xuất, kinh doanh và đời sống…..Từ những mục tiêu quan
trọng của Chương trình tổng thể cải cách hành chính, việc cải cách thủ tục hành
chính về quốc tịch được Quốc hội và các cơ quan quản lý Nhà nước về quốc tịch
đặc biệt quan tâm, việc sửa đổi Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 và xây dựng
các văn bản hướng dẫn thi hành Luật theo hướng cải cách về thủ tục hành chính
là cần thiết.
Ngày
13 tháng 11 năm 2008 tại kỳ họp thứ tư Quốc hội đã thông qua Luật Quốc tịch
Việt Nam năm 2008 thay thế Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 và có hiệu lực từ
ngày 01/7/2009. Tiếp theo, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này được ban
hành: ngày 22 tháng 9 năm 2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2009/NĐ-CP
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt
Nam; ngày 01 tháng 3 năm 2010 Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Bộ Công an đã ban
hành Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT/BTP-BNG-BCA hướng dẫn thi hành Nghị
định số 78/2009/NĐ-CP; ngày 25 tháng 3 năm 2010 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư
số 08/2010/TT-BTP Hướng dẫn mẫu giấy tờ về quốc tịch và mẫu số tiếp nhận các
việc về quốc tịch.
Kế
thừa những điểm cơ bản của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998, Luật Quốc tịch
Việt Nam năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã bổ sung các quy định cụ
thể về trình tự, thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch, nhằm cải cách thủ
tục, công khai minh bạch hoá các trình tự, thủ tục, quy định thời gian giải
quyết hồ sơ ở từng giai đoạn trong quy trình, tương ứng với trách nhiệm và tính
chất công việc phải giải quyết của từng cơ quan, rút ngắn đáng kể thời gian
giải quyết các việc về quốc tịch, tạo điều kiện cho người dân có cơ sở pháp lý
yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các
việc về quốc tịch. Cụ thể việc cải cách thủ tục
hành chính được quy định trong các văn bản quốc tịch hiện hành như sau:
I. TRONG VẤN ĐỀ NHẬP QUỐC TỊCH VIỆT NAM
Để
thấy rõ được trình tự, thủ tục nhập quốc tịch Việt Nam được cải cách như thế
nào, trước hết chúng ta nhìn lại các trình tự, thủ tục nhập quốc tịch Việt Nam
theo quy định của Luật Quốc tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành từ năm 1998
đến nay. Cụ
thể như sau:
1.
Luật Quốc tịch Việt Nam
năm 1998 và các văn bản hướng dẫn thi hành
1.1 Luật Quốc tịch Việt
Nan năm 1998
“Điều 20. Nhập quốc tịch Việt Nam:
1. Công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam có
đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam, thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu
có đủ các điều kiện sau đây: a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định
của pháp luật Việt Nam; b) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; tôn trọng
truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam; c) Biết tiếng Việt đủ
để hoà nhập vào cộng đồng xã hội Việt Nam; d) Đã thường trú ở Việt Nam từ năm
năm trở lên; đ) Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam. 2. Công dân nước
ngoài và người không quốc tịch có thể được nhập quốc tịch Việt Nam mà không
phải có đủ các điều kiện quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều này, nếu
thuộc một trong những trường hợp sau đây: a) Là vợ, chồng, con, cha hoặc mẹ của
công dân Việt Nam; b) Có công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam; c) Có lợi cho Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam...”
“Điều 8
Nghị định số 104/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 1998 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật quốc tịch Việt Nam, hồ sơ xin nhập quốc
tịch Việt Nam như sau: 1. Người nước ngoài xin nhập quốc tịch Việt Nam
phải làm đơn theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định. Kèm theo đơn xin nhập quốc tịch
Việt Nam phải có các giấy tờ sau đây : a) Bản sao Giấy khai sinh hoặc giấy tờ khác có giá
trị thay thế, kể cả của con chưa thành niên, nếu đồng thời xin nhập quốc tịch
cho người đó; b) Bản khai lý lịch theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định; c) Phiếu xác
nhận lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, nơi đương sự thường
trú, cấp; trong trường hợp đương sự không thường trú ở Việt Nam thì nộp phiếu
xác nhận lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước mà đương sự là công
dân hoặc thường trú, cấp; d) Giấy chứng nhận trình độ tiếng Việt, bao gồm cả
hiểu biết về văn hóa, lịch sử và pháp luật của Việt Nam theo quy định của Bộ
Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tư pháp; đ) Giấy xác nhận về thời gian đã thường trú
liên tục ở Việt Nam do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy
ban nhân dân cấp xã), nơi đương sự thường trú, cấp; nếu trước đây đương sự
thường trú ở địa phương khác, thì còn phải có giấy xác nhận về thời gian đã
thường trú do Ủy ban nhân dân cấp xã của địa phương đó cấp; e) Giấy xác nhận về chỗ ở, việc làm, thu nhập hợp
pháp hoặc tình trạng tài sản tại Việt Nam do Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đương
sự thường trú, cấp; g) Bản cam
kết về việc từ bỏ quốc tịch nước ngoài (nếu có) khi được nhập quốc tịch Việt
Nam. Trường hợp mặc nhiên mất quốc tịch nước ngoài khi được nhập quốc tịch Việt
Nam thì Bản cam kết trên được thay bằng giấy xác nhận của cơ quan đại diện
ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà đương sự là công dân về việc pháp luật
của nước đó quy định mặc nhiên mất quốc tịch trong trường hợp này.
Trong trường hợp đặc biệt, khi
người xin nhập quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài của họ theo quy
định tại khoản 3 Điều 20 của Luật Quốc tịch Việt Nam, thì không phải nộp giấy
tờ quy định tại điểm này, nhưng phải làm đơn xin giữ quốc tịch nước ngoài theo
mẫu do Bộ Tư pháp quy định; trong đơn phải nêu rõ lý do xin giữ quốc tịch nước
ngoài và cam kết việc giữ quốc tịch nước ngoài không cản trở việc thực hiện
quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam...”
1.2 Nghị định
số 104/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 1998 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành luật quốc tịch Việt Nam
Trình
tự thủ tục về việc được quy định tại 3 điều của Nghị định cụ thể:
“Điều
9. Miễn, giảm điều kiện xin nhập quốc tịch Việt
Nam: 1. Việc miễn, giảm một số điều
kiện nhập quốc tịch Việt Nam được quy định như sau: a) Người có chồng,
vợ, cha, mẹ hoặc con là công dân Việt Nam; người có Huân chương, Huy chương,
danh hiệu cao quý do Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam tặng thưởng hoặc có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, thì được giảm 02 năm về điều kiện thời gian đã thường
trú liên tục ở Việt Nam và được miễn các điều kiện về biết tiếng Việt và khả
năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam; b) Trong trường hợp cá biệt, khi việc nhập
quốc tịch Việt Nam của người nước ngoài sẽ có lợi đặc biệt cho sự phát triển
kinh tế, xã hội, khoa học, an ninh quốc phòng của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, thì được miễn các điều kiện về thời gian đã thường trú ở Việt Nam, biết tiếng Việt và khả năng bảo đảm cuộc
sống tại Việt Nam...”.
“Điều
10. Thủ tục, trình tự giải quyết tại cấp tỉnh:1. Trong thời hạn 04 tháng, kể từ
ngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm
chỉ đạo Sở Tư pháp, thẩm tra hồ sơ, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, kết
luận và đề nghị Bộ Tư pháp về việc giải quyết hồ sơ đó; 2. Trình tự giải quyết
hồ sơ được quy định như sau: a) Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ
sơ hợp lệ và thu lệ phí, Sở Tư pháp có văn bản gửi cơ quan Công an cùng cấp
(sau đây gọi là Công an cấp tỉnh), kèm theo 01 bộ hồ sơ để thẩm tra về nhân
thân; b) Trong thời hạn 30 ngày tiếp theo, Sở Tư pháp phải thẩm tra hồ sơ, đối
chiếu lời khai, chứng nhận và giấy tờ của
đương sự với các điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam; Trong trường hợp xét
thấy cần thẩm tra bổ sung về các điều kiện thực tế của người xin nhập quốc tịch
Việt Nam (như về năng lực hành vi, thời gian đã thường trú ở Việt Nam, khả năng
bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam hay trình độ tiếng Việt), Sở Tư pháp phối hợp
với các cơ quan chuyên môn thực hiện; c) Trong thời hạn 60 ngày đối với Công an
cấp tỉnh và 30 ngày đối với các cơ quan chuyên môn khác, kể từ ngày nhận được
yêu cầu của Sở Tư pháp, các cơ quan này phải
tiến hành thẩm tra theo chức năng chuyên ngành và trả lời bằng văn bản cho Sở
Tư pháp; d) Ngay sau ngày nhận được kết quả thẩm tra của Công an cấp
tỉnh và các cơ quan chuyên môn khác, Sở Tư pháp dự thảo văn bản, trình Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, kết luận và ký văn bản đề nghị Bộ Tư pháp,
kèm theo 02 bộ hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam của đương sự....”.
“Điều 11. Thủ tục, trình tự giải quyết tại Cơ quan ngoại giao, lãnh sự
Việt Nam: 1.
Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và thu lệ phí đối với
trường hợp cá biệt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Nghị định này, Cơ
quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam phải xem xét, thẩm tra hồ sơ, đối chiếu lời
khai, chứng nhận và các giấy tờ của đương sự với các điều kiện nhập quốc tịch
Việt Nam và có văn bản kết luận, đề nghị việc giải quyết hồ sơ xin nhập quốc
tịch Việt Nam gửi Bộ Ngoại giao để chuyển
cho Bộ Tư pháp, kèm theo 02 bộ hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam của đương sự; 2.
Trong trường hợp kết luận đương sự chưa có đủ điều kiện nhập quốc tịch Việt
Nam, Cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam thông báo bằng văn bản cho đương sự
biết; nếu đương sự không nhất trí với kết luận đó, thì có quyền khiếu nại theo
quy định của pháp luật”.
“Điều
12. Thủ tục, trình tự giải quyết tại cấp Trung ương: 1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ
ngày nhận được văn bản đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Cơ quan ngoại
giao, lãnh sự Việt Nam, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ và nếu xét
thấy hồ sơ đã hoàn tất, đương sự là
người có đủ điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật,
thì có văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ để được ủy quyền ký Tờ trình Chủ
tịch nước xem xét, quyết định. Trong trường hợp xét thấy hồ sơ chưa hoàn tất
hoặc có vấn đề cần làm rõ trong hồ sơ, Bộ Tư pháp có văn bản yêu cầu Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh hoặc thông qua Bộ Ngoại giao yêu cầu Cơ quan ngoại giao, lãnh
sự Việt Nam hoàn tất hồ sơ hoặc thẩm tra bổ sung. Trong trường hợp này thì thời
hạn trên là 75 ngày. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của
Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam phải
hoàn tất hồ sơ hoặc làm rõ những vấn đề được yêu cầu và trả lời bằng văn bản
cho Bộ Tư pháp; 2. Ngay sau ngày nhận
được ý kiến ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp thông báo cho Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh hoặc Cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam về việc đương sự đã
hoàn tất hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam. Trong trường hợp cần thiết, Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh hoặc Cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam cấp cho người xin
nhập quốc tịch Việt Nam Giấy xác nhận về việc hoàn tất hồ sơ để người đó làm
thủ tục xin thôi quốc tịch nước ngoài của họ; 3. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ
ngày nhận được ý kiến ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, hoặc trong trường hợp
cần thiết, thì kể từ ngày nhận được Giấy xác nhận thôi quốc tịch nước ngoài của
đương sự, Bộ Tư pháp hoàn tất hồ sơ; Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ
tướng Chính phủ, ký Tờ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định, kèm theo 01 bộ
hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam của đương sự. Đối với trường hợp đặc biệt
đương sự xin giữ quốc tịch nước ngoài, trong Tờ trình phải nêu rõ đề nghị về
việc đó...”.
1.3 Thông
tư số 09/1998/TTLT/BGD&ĐT-BTP ngày 31 tháng 12 năm 1998 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo và Bộ Tư pháp quy định một trong những văn bằng chứng chỉ Giấy chứng nhận trình độ tiếng Việt
Để cụ thể hóa về điều kiện và
giấy tờ chứng minh trình độ tiếng Việt để xem xét cho nhập quốc tịch Việt Nam
được quy định tại Thông tư số 09/1998/TTLT/BGD&ĐT-BTP ngày 31 tháng 12 năm
1998 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tư pháp quy định một trong những văn bằng
chứng chỉ Giấy chứng nhận trình độ
tiếng Việt.
“Giấy
chứng nhận trình độ tiếng Việt quy định tại Thông tư liên tịch này (sau đây gọi
là Thông tư) là căn cứ để công nhận người nước ngoài biết tiếng Việt đủ để hoà
nhập vào cộng đồng xã hội Việt Nam theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 20 của
Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998.
1. Các
văn bằng và chứng chỉ sau đây có giá trị là Giấy chứng nhận trình độ tiếng
Việt: Chứng chỉ trình độ tiếng Việt do các cơ sở đào tạo quy định tại điểm 3
của Thông tư này cấp; Bằng tốt nghiệp các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học
chuyên nghiệp hoặc Trung học phổ thông của Việt Nam; Bằng tốt nghiệp Khoa tiếng
Việt của một trường đại học của nước ngoài. 2.Người nước ngoài xin nhập quốc
tịch Việt Nam mà không có một trong các loại văn bằng quy định tại mục b và mục
c điểm 2 của Thông tư này phải nộp đơn đăng ký kiểm tra trình độ tiếng Việt
(theo mẫu quy định) tại một trong các Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
của Việt Nam và nộp lệ phí kiểm tra. 3. Sau khi nhận được Đơn đăng ký và kiểm
tra trình độ tiếng Việt, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn phải có kế
hoạch tổ chức kiểm tra và thông báo thời gian, địa điểm, nội dung kiểm tra cho
người nộp đơn biết. 4. Chứng chỉ trình độ
tiếng Việt được cấp cho người đạt trình độ tiếng Việt và hiểu biết về văn hoá, lịch sử, pháp luật
Việt Nam theo chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt. 5. Hiệu trưởng
các trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn có trách nhiệm chuẩn bị chương
trình giảng dạy tiếng Việt, văn hoá, lịch sử và pháp luật Việt Nam phù hợp và
bảo đảm việc kiểm tra theo đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 6. Chứng
chỉ trình độ tiếng Việt do Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
của Việt Nam cấp và có giá trị trong thời hạn 02 năm...”.
Theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam năm
1998 và các văn bản hướng dẫn thi hành, có một số quy định không hợp lý, như về
thời hạn giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam là 12 tháng, trong đó
thời hạn tại cấp tỉnh là 04 tháng (thời hạn quy định như vậy là quá dài). Về
chứng chỉ biết tiếng Việt được quy định như trên ta thấy, quy định này có nhiều
bất cập, vì số lượng lớn người nước ngoài xin nhập quốc tịch Việt Nam đã sinh
sống tại Việt Nam trên 20 năm và đã lớn tuổi, hoặc đối tượng nghèo, người dân
tộc ở vùng biên giới Lào, Campuchia, Trung Quốc. Nếu bắt họ phải theo học khóa
đào tạo tiếng Việt tại trường Đại học là điều khó thực hiện được.
Ngoài ra Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998
và các văn bản hướng dẫn thi hành còn quy định một số điều kiện không rõ ràng,
rườm rà, quá chung chung, gây khó khăn cho người xin nhập quốc tịch Việt Nam và
cho cán bộ trực tiếp giải quyết, như điều kiện thường trú 5 năm tại Việt Nam,
điều kiện để bảo đảm cuộc sống..... Chính vì như vậy, nên Luật Quốc tịch năm
2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã sửa đổi và cải cách theo hướng thuận
lợi hơn cho người dân cũng như cán bộ thi hành công vụ.
2. Các quy định cụ về trình tự,
thủ tục nhập quốc tịch Việt Nam trong Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và các
văn bản hướng dẫn thi hành.
2.1 Nhập quốc tịch Việt Nam được quy định tại Điều
19, 20, 21 và Điều 22 Luật Quốc tịch năm 2008
“Điều 19. Điều kiện được nhập quốc tịch Việt
Nam: 1. Công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam
có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu
có đủ các điều kiện sau đây: a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định
của pháp luật Việt Nam; b) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; tôn trọng
truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam; c) Biết tiếng Việt đủ
để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam; d) Đã thường trú ở Việt Nam từ 5 năm trở
lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam; đ) Có khả năng bảo đảm cuộc
sống tại Việt Nam.
2. Người xin nhập quốc tịch Việt
Nam có thể được nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải có các điều kiện quy định
tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều này, nếu thuộc một trong những trường hợp
sau đây: a) Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam; b)
Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam; c) Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam….”
“Điều 20. Hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Name: 1. Hồ
sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam gồm có các giấy tờ sau đây: a) Đơn xin nhập quốc
tịch Việt Nam; b) Bản sao Giấy khai sinh, Hộ
chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay thế; c) Bản khai lý lịch; d) Phiếu
lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp đối với thời gian người
xin nhập quốc tịch Việt Nam cư trú ở Việt Nam, Phiếu lý lịch tư pháp do cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp đối với thời gian người xin nhập quốc
tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Phiếu
lý lịch tư pháp phải là phiếu được cấp không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ
sơ; đ) Giấy tờ chứng minh trình độ Tiếng Việt; e) Giấy tờ chứng minh về chỗ ở,
thời gian thường trú ở Việt Nam; g) Giấy tờ chứng minh bảo đảm cuộc sống ở Việt
Nam….”.
“Điều 21. Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam: 1.
Người xin nhập quốc tịch Việt Nam nộp hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi cư trú. Trong
trường hợp hồ sơ không có đầy đủ các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 20 của
Luật này hoặc không hợp lệ thì Sở Tư pháp thông báo ngay để người xin nhập
quốc tịch Việt Nam bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ.
2.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp
gửi văn bản đề nghị cơ quan Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau
đây gọi chung là cấp tỉnh) xác minh về nhân thân của người xin nhập quốc tịch
Việt Nam. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận
được đề nghị của Sở Tư pháp, cơ quan Công an cấp tỉnh có trách nhiệm xác minh
và gửi kết quả đến Sở Tư pháp. Trong thời gian này, Sở Tư pháp phải tiến hành
thẩm tra giấy tờ trong hồ sơ xin nhập quốc
tịch Việt Nam.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh,
Sở Tư pháp có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư
pháp, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, kết luận và đề
xuất ý kiến gửi Bộ Tư pháp.
3.
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề xuất của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy có đủ
điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam thì gửi thông báo bằng văn bản cho người xin
nhập quốc tịch Việt Nam để làm thủ tục xin thôi quốc tịch nước ngoài, trừ
trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài
hoặc là người không quốc tịch. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được giấy cho thôi quốc tịch nước ngoài của người xin nhập quốc tịch Việt
Nam, Bộ trưởng Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem
xét, quyết định. Trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc
tịch nước ngoài, người xin nhập quốc tịch Việt Nam là người không quốc tịch
thì trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề xuất của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy
người xin nhập quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện được nhập quốc tịch Việt
Nam thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.
4.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Thủ tướng Chính phủ,
Chủ tịch nước xem xét, quyết định.”
“Điều
22. Trình tự, thủ tục và hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam đối với người
không quốc tịch đã cư trú ổn định tại Việt Nam: Người không quốc tịch
mà không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân, nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh
thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên tính đến ngày Luật này có hiệu lực và tuân thủ
Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình
tự, thủ tục và hồ sơ do Chính phủ quy định”
2.2 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm
2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
Quốc tịch Việt Nam năm 2008
“Điều 5. Một số điều kiện được nhập quốc tịch Việt
Nam: Các điểm c, d và đ khoản 1 Điều 19
Luật Quốc tịch Việt Nam được quy định như sau: 1. Biết tiếng Việt đủ để hoà
nhập vào cộng đồng Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được đánh giá
trên cơ sở khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt với công dân Việt Nam trong cuộc
sống, phù hợp với môi trường sống và làm việc của người đó. 2. Người xin nhập
quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch
Việt Nam phải là người đang thường trú tại Việt Nam và được cơ quan công an có
thẩm quyền của Việt Nam cấp thẻ thường trú. Thời gian thường trú tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được tính
từ ngày người đó được cấp thẻ thường trú. 3. Khả năng bảo đảm cuộc sống tại
Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được chứng minh bằng tài sản,
nguồn thu nhập hợp pháp của người đó hoặc sự bảo lãnh của tổ chức, cá nhân tại
Việt Nam.
Điều 6. Những trường hợp được miễn một số điều kiện
được nhập quốc tịch Việt Nam: Các điểm b
và c khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam được quy định như sau: 1. Người có
công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
phải là người được tặng thưởng Huân chương, Huy chương, danh hiệu cao quý khác
của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa
miền Nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc được cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam xác nhận về công lao đặc biệt đó. 2.
Người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam phải là người có tài năng trong các lĩnh vực khoa học,
kinh tế, văn hoá, xã hội, nghệ thuật, thể thao, được cơ quan, tổ chức nơi người
đó làm việc chứng nhận và cơ quan quản lý nhà nước cấp bộ hoặc Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh xác nhận việc nhập quốc tịch của họ sẽ đóng góp cho sự phát triển
trong các lĩnh vực nói trên của Việt Nam.
Điều 7. Một số giấy tờ trong hồ sơ xin nhập quốc
tịch Việt Nam: 1. Các giấy tờ quy định
tại điểm b, đ, e và g khoản 1 Điều 20 Luật Quốc tịch Việt Nam được quy định như
sau: a) Giấy tờ khác có giá trị thay thế Giấy khai sinh, Hộ chiếu của người xin
nhập quốc tịch Việt Nam là những giấy tờ có giá trị chứng minh quốc tịch nước
ngoài của người đó; b) Giấy tờ chứng minh trình độ tiếng Việt của người xin
nhập quốc tịch Việt Nam là một trong các giấy tờ sau đây: bản sao bằng tốt
nghiệp sau đại học, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trung học phổ
thông hoặc trung học cơ sở của Việt Nam; bản sao văn bằng hoặc chứng chỉ chứng
nhận trình độ tiếng Việt do cơ sở đào tạo tiếng Việt của Việt Nam cấp.
Trong trường hợp
người xin nhập quốc tịch Việt Nam khai báo biết tiếng Việt đủ để hoà nhập theo
quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này, nhưng không có một trong các
giấy tờ nêu trên, thì Sở Tư pháp tổ chức phỏng vấn trực tiếp để kiểm tra trình
độ tiếng Việt của người đó theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp. Kết quả phỏng vấn
phải được lập thành văn bản; người trực tiếp phỏng vấn căn cứ vào tiêu chuẩn
quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này để đề xuất ý kiến và chịu trách
nhiệm về ý kiến đề xuất của mình; c) Bản sao Giấy khai sinh của người con chưa
thành niên cùng nhập quốc tịch Việt Nam theo cha mẹ hoặc giấy tờ khác chứng
minh quan hệ cha con, mẹ con. Trường hợp chỉ cha hoặc mẹ nhập quốc tịch Việt
Nam mà con chưa thành niên sinh sống cùng người đó nhập quốc tịch Việt Nam theo
cha hoặc mẹ thì còn phải nộp văn bản thoả thuận của cha mẹ về việc nhập quốc
tịch Việt Nam cho con; d) Bản sao Thẻ thường trú; đ) Giấy tờ chứng minh bảo đảm
cuộc sống ở Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam gồm một trong các
giấy tờ sau: giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản; giấy xác nhận mức lương
hoặc thu nhập do cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc cấp; giấy xác nhận của
cơ quan thuế về thu nhập chịu thuế; giấy tờ chứng minh được sự bảo lãnh của tổ
chức, cá nhân tại Việt Nam; giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị
trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi thường trú của người xin nhập
quốc tịch Việt Nam về khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người đó.
2. Người được miễn
một số điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 19
Luật Quốc tịch Việt Nam thì nộp giấy tờ chứng minh điều kiện được miễn, cụ thể
là: a) Người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam phải nộp bản sao Giấy chứng
nhận kết hôn chứng minh quan hệ hôn nhân; b) Người là cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ
của công dân Việt Nam phải nộp bản sao Giấy khai sinh hoặc giấy tờ hợp lệ khác
chứng minh quan hệ cha con, mẹ con; c) Người có công lao đặc biệt đóng góp cho
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam phải nộp bản sao Huân chương, Huy
chương, giấy chứng nhận danh hiệu cao quý khác hoặc giấy xác nhận của cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam; d) Người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam
của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải nộp giấy
chứng nhận của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, được cơ quan quản lý nhà
nước cấp bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận về việc nhập quốc tịch Việt
Nam của họ sẽ đóng góp cho sự phát triển của một trong các lĩnh vực nói tại
khoản 2 Điều 6 Nghị định…”.
“Điều 8. Giải quyết việc nhập quốc tịch Việt Nam theo
quy định của Điều 22 Luật Quốc tịch Việt Nam: 1. Người không quốc tịch,
không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân, đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt
Nam từ ngày 01 tháng 7 năm 1989 trở về trước (sau đây gọi là người không quốc
tịch) có nguyện vọng được nhập quốc tịch Việt Nam thì làm hồ sơ xin nhập quốc
tịch Việt Nam gồm Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam và Bản khai lý lịch theo mẫu
do Bộ Tư pháp quy định. 2. Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin nhập quốc
tịch Việt Nam của người không quốc tịch quy định tại khoản 1 Điều này được thực
hiện như sau: a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở Tư pháp phối hợp với cơ
quan Công an cấp tỉnh, Sở Ngoại vụ (nếu có) và Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp huyện) hướng dẫn
Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc rà soát, lập danh sách, hỗ trợ làm hồ sơ,
xác minh về nhân thân của người xin nhập quốc tịch Việt Nam. Ủy ban nhân dân
cấp huyện xem xét danh sách và hồ sơ xin nhập quốc tịch và đề nghị Sở Tư pháp
giải quyết việc cho nhập quốc tịch Việt Nam. Sở Tư pháp phối hợp với cơ
quan Công an cấp tỉnh, Sở Ngoại vụ thẩm định, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh; b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, kết luận và đề xuất về
việc xin nhập quốc tịch Việt Nam của những người trong danh sách và gửi Bộ Tư
pháp; c) Căn cứ vào danh sách và hồ sơ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề xuất, Bộ
trưởng Bộ Tư pháp thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ ký tờ trình kèm theo danh
sách và hồ sơ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. Trong trường hợp cần
thiết, Bộ Tư pháp trao đổi với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao trước khi trình Chủ
tịch nước. 3. Thời hạn nộp hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam theo quy
định tại Điều này đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2012. Hết thời hạn này, những
người nói tại khoản 1 Điều này mà chưa nộp hồ sơ, nếu có nguyện vọng nhập quốc
tịch Việt Nam, thì việc nhập
quốc tịch Việt Nam của họ
được giải quyết theo quy định tại các Điều 19, 20 và 21 Luật Quốc tịch Việt Nam. 4. Bộ Tư
pháp có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao hướng dẫn Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh trong việc xây dựng kế hoạch rà soát, lập danh sách và hỗ trợ
việc giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam cho những người quy định tại
khoản 1 Điều này”.
-
Về khả năng biết tiếng Việt của người xin nhập quốc tịch Việt Nam: Theo quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam thì một trong những
điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam là phải “biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam”. Khoản 1
Điều 5 Nghị định đã quy định cụ thể vấn đề này. Đồng thời, điểm b khoản 1 Điều
7 quy định rõ các loại giấy tờ chứng minh trình độ tiếng Việt của người xin
nhập quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, trong thực tế, không phải tất cả những
người xin nhập quốc tịch Việt Nam,
đặc biệt là người nghèo đều có điều
kiện theo học để được cấp văn bằng, chứng chỉ chứng nhận trình độ tiếng Việt. Do
đó, Nghị định quy định bổ sung trường hợp không có văn bằng, chứng chỉ nhưng
khai báo biết tiếng Việt thì sẽ được kiểm tra trình độ tiếng Việt theo hình
thức phỏng vấn để đánh giá người đó có biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng
đồng Việt Nam hay không. Về thủ tục này đã tạo điều kiện thuận tiện rất nhiều
cho người dân, đặc biệt là người có hoàn cảnh khó khăn.
-
Về điều kiện thường trú tại Việt Nam
của người xin nhập quốc tịch Việt Nam:
Theo quy định của Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam
thì điều kiện bắt buộc chung đối với người xin nhập quốc tịch Việt Nam là phải thường trú tại Việt Nam. Để phân
biệt rõ giữa thường trú và tạm trú, khoản 2 Điều 5 Nghị định quy định người xin nhập quốc tịch
Việt Nam phải là người đang thường trú tại Việt Nam và được cơ quan Công an có
thẩm quyền của Việt Nam cấp Thẻ thường trú. Thời gian thường trú tối thiểu 5
năm của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được tính từ ngày người đó được
cấp thẻ thường trú (thời gian tạm trú không được tính). Riêng đối với người
được miễn một số điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 2
Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam thì không bắt buộc phải có đủ 5 năm thường trú
tại Việt Nam nhưng vẫn phải là người đã được cấp thẻ thường trú. Quy định này
để bảo đảm người nhập quốc tịch Việt Nam
gắn bó với tổ quốc Việt Nam,
dân tộc Việt Nam
một cách ổn định.
-
Về điều kiện bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt
Nam: Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam thì một
trong những điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam là người nhập quốc tịch phải
“có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt
Nam”. Khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam
của người xin nhập quốc tịch Việt Nam chủ yếu là khả năng về vật
chất, khả năng này được xem xét, đánh giá từ rất nhiều nguồn khác nhau. Vì vậy,
Nghị định quy định khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người xin nhập
quốc tịch Việt Nam được chứng minh bằng tài sản, nguồn thu nhập hợp pháp của
người đó hoặc sự bảo lãnh của tổ chức, cá nhân tại Việt Nam (điểm đ khoản 1
Điều 7 của Nghị định). Quy định đã cụ
thể hơn so với quy định của Nghi định số 104/1998/NĐ- CP ngày 31/12/1998 của
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch 1998.
- Về giấy tờ chứng minh một số trường hợp được miễn điều
kiện nhập quốc tịch Việt Nam
Để
làm rõ trường hợp được miễn một số điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam theo
quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam, Nghị định
đã quy định thể tại các điểm a, b, c và
d khoản 2 Điều 7 Nghị định: các giấy tờ chứng minh có trong hồ sơ xin nhập quốc
tịch Việt Nam như bản sao Giấy chứng nhận kết hôn chứng minh quan hệ hôn nhân
của người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam, bản sao Giấy khai sinh chứng
minh quan hệ cha con, mẹ con....
-
Về giải quyết việc nhập quốc tịch Việt Nam cho người không quốc tịch. Người
không quốc tịch không có các giấy tờ về nhân thân cư trú lâu năm trên lãnh thổ
Việt Nam
là một thực tế tồn đọng từ nhiều năm nay chưa giải quyết xong. Trong quá trình
xây dựng dự án Luật quốc tịch Việt Nam, vấn đề này đã được thảo luận kỹ và tinh
thần là giải quyết việc nhập quốc tịch Việt Nam cho những người thuộc đối tượng
nêu trên theo quy trình, thủ tục đơn giản.
Nhìn chung, Nghị định đã được thể hiện theo tinh thần
nêu trên, đồng thời đề cao trách nhiệm và tính chủ động của các cơ quan của nhà
nước trong việc giải quyết vấn đề quốc tịch cho những người không quốc tịch
thuộc diện quy định tại Điều 22 Luật quốc tịch Việt Nam, nhằm giúp những người
không quốc tịch ổn định cuộc sống. Để thực hiện nhiệm vụ nêu trên, Uỷ ban nhân
dân các tỉnh nơi có người không quốc tịch sinh sống sẽ phải chỉ đạo các Sở,
ban, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã rà soát, lập danh sách, hỗ trợ
người không quốc tịch hoàn thiện về hồ sơ và đề xuất ý kiến gửi Bộ Tư pháp. Đây
là công việc mang tính chất quá độ, chuyển tiếp nhằm giải quyết những tồn đọng
của nhiều năm nay về vấn đề người không quốc tịch cư trú trên lãnh thổ Việt Nam
nên nhiệm vụ này cần được xác định thời hạn để giải quyết dứt điểm, theo đó,
khoản 3 Điều 8 Nghị định quy định thời hạn giải quyết đến hết ngày 31 tháng 12
năm 2012. Quy định nêu trên cũng là phù hợp với Luật quốc tịch. Do có sự đổi
mới và cải cách một cách cơ bản về trình tự, thủ tục các hồ sơ xin nhập quốc
tịch Việt Nam mà từ tháng
07/2009 đến nay đã có 458 người nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam.
II. VẤN ĐỀ TRỞ
LẠI QUỐC TỊCH VIỆT NAM
So với Luật Quốc tịch năm 1998 và các văn bản hướng
dẫn thi hành Luật, thì các quy định về trình tự, thủ tục trở lại quốc tịch của Luật Quốc tịch năm 2008
và các văn bản hướng dẫn thi hành đã sửa đổi, bổ sung theo hướng cải cách, minh
bạch và đơn giản, thuận lợi cho người dân cũng như các cơ quan trực tiếp tiếp
nhận và giải quyết hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam.
1. Các quy định của Luật Quốc tịch năm
2008 về trình tự, thủ tục trở lại quốc tịch Việt Nam
“Điều
23. Các trường hợp được trở lại quốc tịch Việt Nam: 1. Người đã mất quốc tịch
Việt Nam theo quy định tại Điều 26 của Luật này có đơn xin trở lại quốc tịch
Việt Nam thì có thể được trở lại quốc tịch Việt Nam, nếu thuộc một trong những
trường hợp sau đây: a) Xin hồi hương về Việt Nam; b) Có vợ, chồng, cha đẻ, mẹ
đẻ hoặc con đẻ là công dân Việt Nam;
c) Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam; d) Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đ) Thực hiện
đầu tư tại Việt Nam; e) Đã thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước
ngoài, nhưng không được nhập quốc tịch nước ngoài. 2. Người xin trở lại quốc
tịch Việt Nam không được trở
lại quốc tịch Việt Nam, nếu
việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam. 3. Trường hợp người bị tước
quốc tịch Việt Nam xin trở
lại quốc tịch Việt Nam thì
phải sau ít nhất 5 năm, kể từ ngày bị tước quốc tịch mới được xem xét cho trở
lại quốc tịch Việt Nam.
4. Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam
phải lấy lại tên gọi Việt Nam
trước đây, tên gọi này phải được ghi rõ trong Quyết định cho trở lại quốc tịch
Việt Nam.
5. Người được trở lại quốc tịch Việt
Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người sau đây, trong trường
hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép: a) Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ
hoặc con đẻ của công dân Việt Nam; b) Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; c) Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
Điều 24. Hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam:
1. Hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam gồm có các giấy tờ sau đây: a) Đơn xin
trở lại quốc tịch Việt Nam; b) Bản sao Giấy khai sinh, Hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay thế; c) Bản khai lý
lịch; d) Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp đối
với thời gian người xin trở lại quốc tịch Việt Nam cư trú ở Việt Nam, Phiếu
lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp đối với thời gian
người xin trở lại quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Phiếu lý lịch tư pháp
phải là phiếu được cấp không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ sơ; đ) Giấy tờ
chứng minh người xin trở lại quốc tịch Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam;
e) Giấy tờ chứng minh đủ điều kiện trở lại quốc tịch Việt Nam theo
quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này….”.
Điều
25. Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ
xin trở lại quốc tịch Việt Name: 1. Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam
nếu cư trú ở trong nước thì nộp hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi cư trú, nếu cư trú ở
nước ngoài thì nộp hồ sơ cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại. Trong
trường hợp hồ sơ không có đầy đủ các giấy tờ quy định tại Điều 24 của Luật này
hoặc không hợp lệ thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo ngay để người xin trở
lại quốc tịch Việt Nam bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ. 2. Trong thời hạn 5 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp gửi văn bản đề nghị cơ
quan Công an cấp tỉnh xác minh về nhân thân của người xin trở lại quốc tịch
Việt Nam.
Trong
thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, cơ quan Công an
cấp tỉnh có trách nhiệm xác minh và gửi kết quả đến Sở Tư pháp. Trong thời gian
này, Sở Tư pháp phải tiến hành thẩm tra giấy tờ trong hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam.Trong thời
hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, Sở Tư pháp có
trách nhiệm hoàn tất hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trong thời
hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, kết luận và đề xuất ý kiến gửi Bộ Tư pháp. 3. Trong thời hạn 20
ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thẩm tra và
chuyển hồ sơ kèm theo ý kiến đề xuất về việc xin trở lại quốc tịch Việt Nam về Bộ Ngoại giao để chuyển đến Bộ Tư pháp.
Trong trường hợp cần thiết, Bộ Tư pháp đề nghị Bộ Công an xác minh về nhân thân
của người xin trở lại quốc tịch Việt Nam. 4. Trong thời hạn 20 ngày, kể
từ ngày nhận được văn bản đề xuất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc
của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra
lại hồ sơ, nếu xét thấy người xin trở lại quốc tịch Việt Nam có đủ điều
kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam thì gửi thông báo bằng văn bản cho người
đó để làm thủ tục xin thôi quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp người xin
trở lại quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài hoặc là người không
quốc tịch. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được giấy xác nhận
thôi quốc tịch nước ngoài của người xin trở lại quốc tịch Việt Nam, Bộ
trưởng Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét,
quyết định.
Trường
hợp người xin trở lại quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài,
người xin trở lại quốc tịch Việt Nam là người không quốc tịch thì trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề xuất của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh hoặc của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Tư pháp có
trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy người xin trở lại quốc tịch
Việt Nam có đủ điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam thì báo cáo Thủ tướng
Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. 5. Trong thời hạn 20 ngày,
kể từ ngày nhận được đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước xem xét,
quyết định”.
2. Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22
tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật Quốc tịch Việt Nam
“Điều 9. Một số điều kiện được trở lại quốc tịch
Việt Nam: Các điều kiện quy định tại điểm
c, d và đ khoản 1 Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam được quy định như sau: 1.
Người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam và người mà việc trở lại quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho nhà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng theo quy định tại các khoản 1
và 2 Điều 6 của Nghị định này. 2. Người thực hiện đầu tư tại Việt Nam phải có dự án đầu tư đã được cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam
cấp giấy tờ chứng nhận việc đầu tư đó.
Điều 10. Một số giấy tờ trong hồ sơ xin trở lại
quốc tịch Việt Nam: 1. Các giấy tờ quy
định tại các điểm đ và e khoản 1 Điều 24 Luật Quốc tịch Việt Nam bao gồm: a)
Các giấy tờ chứng minh người xin trở lại quốc tịch Việt Nam đã từng có quốc
tịch Việt Nam là một trong các giấy tờ sau đây: bản sao Giấy khai sinh; bản sao
Quyết định cho thôi quốc tịch Việt Nam hoặc Giấy xác nhận mất quốc tịch Việt
Nam; giấy tờ khác có ghi quốc tịch Việt Nam hoặc có giá trị chứng minh quốc
tịch Việt Nam trước đây của người đó; b) Giấy tờ chứng minh đủ điều kiện trở
lại quốc tịch Việt Nam là một trong các giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c
và d khoản 2 Điều 7 của Nghị định này hoặc giấy tờ chứng minh người xin trở lại
quốc tịch Việt Nam đang làm thủ tục xin hồi hương về Việt Nam hoặc bản sao giấy
tờ chứng nhận việc đầu tư tại Việt Nam. 2. Con chưa thành niên cùng trở lại
quốc tịch Việt Nam
theo cha mẹ thì phải nộp bản sao Giấy khai sinh của người con hoặc giấy tờ khác
chứng minh quan hệ cha con, mẹ con. Trường hợp chỉ cha hoặc mẹ trở lại quốc
tịch Việt Nam mà con chưa thành niên sống cùng người đó cùng trở lại quốc tịch
Việt Nam theo cha hoặc mẹ thì phải nộp văn bản thoả thuận của cha mẹ về việc
trở lại quốc tịch Việt Nam của con…
Điều 11. Xác minh hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt
Nam: 1. Trong trường hợp cần thiết phải xác minh thêm về nhân thân của
người xin trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 3 Điều 25 Luật
Quốc tịch Việt Nam thì Bộ Tư pháp có văn bản nêu rõ những nội dung cụ thể đề
nghị Bộ Công an xác minh. 2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn
bản đề nghị của Bộ Tư pháp, Bộ Công an có trách nhiệm xác minh và trả lời kết
quả bằng văn bản cho Bộ Tư pháp”.
Theo các quy định
nêu trên thì thời hạn tối đa để giải quyết một hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt
Nam là 90 ngày, theo văn bản pháp luật quốc tịch cũ thì thời hạn giải quyết là
120 ngày; bổ sung thêm 2 trường hợp để được trở lại quốc tịch Việt Nam, đó là
(thực hiện đầu tư tại Việt Nam và việc đầu tư tại Việt Nam phải có dự án đầu tư
đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy tờ chứng nhận việc đầu tư
đó; đã thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài, nhưng không được
nhập quốc tịch nước ngoài; Trường hợp người bị tước quốc tịch Việt Nam xin trở
lại quốc tịch Việt Nam thì phải sau ít nhất 05 năm, kể từ ngày bị tước quốc
tịch mới được xem xét cho trở lại quốc tịch Việt Nam). Ngoài ra còn quy định cụ
thể hơn các giấy tờ có trong hồ sơ xin
trở lại quốc tịch Việt Nam, người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thì phải nộp Huân chương, huy chương, giấy
chứng nhận danh hiệu cao quý hoặc giấy xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền của Việt Nam hoặc Người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là người có tài năng trong các
lĩnh vực khoa học, kinh tế, văn hoá, xã hội, nghệ thuật, thể thao, được cơ
quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng nhận và cơ quan quản lý nhà nước cấp
bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận việc nhập quốc tịch của họ sẽ đóng
góp cho sự phát triển trong các lĩnh vực nói trên của Việt Nam.
Do có những quy định mở rộng những đối tượng được trở
lại quốc tịch Việt Nam, cũng như rút ngắn thời hạn giải quyết hồ sơ, nên từ khi
Luật Quốc tịch năm 2008 có hiệu lực và Nghi định số 78/NĐ-CP được ban hành thì
đã có nhiều người Việt Nam đã thôi quốc tịch Việt Nam xin trở lại quốc tịch
Việt Nam.
III. VẤN ĐỀ THÔI
QUỐC TỊCH VIỆT NAM
1. Các quy
định về trình tự, thủ tục xin thôi quốc tịch Việt Nam theo Luật Quốc tịch năm 2008
“Điều
27. Căn cứ thôi quốc tịch Việt Nam:
1. Công dân Việt Nam có đơn
xin thôi quốc tịch Việt Nam
để nhập quốc tịch nước ngoài thì có thể được thôi quốc tịch Việt Nam. 2. Người
xin thôi quốc tịch Việt Nam chưa được thôi quốc tịch Việt Nam, nếu thuộc một
trong những trường hợp sau đây: a) Đang nợ thuế đối với Nhà nước hoặc đang có
nghĩa vụ tài sản đối với cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân ở Việt Nam; b) Đang bị
truy cứu trách nhiệm hình sự; c) Đang chấp hành bản án, quyết định của Toà án
Việt Nam; d) Đang bị tạm giam để chờ thi hành án; đ) Đang chấp hành quyết định
áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh,
trường giáo dưỡng…3. Người xin thôi quốc tịch Việt Nam
không được thôi quốc tịch Việt Nam,
nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam. 4. Cán bộ,
công chức và những người đang phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam không được thôi quốc tịch Việt Nam…
Điều
28. Hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam: 1. Hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam bao gồm: …d) Phiếu lý lịch tư pháp do cơ
quan có thẩm quyền của Việt Nam
cấp. Phiếu lý lịch tư pháp phải là phiếu được cấp không quá 90 ngày tính đến
ngày nộp hồ sơ;… e) Giấy xác nhận không nợ thuế do Cục thuế nơi người xin thôi
quốc tịch Việt Nam cư trú cấp; g) Đối với người trước đây là cán bộ, công chức,
viên chức hoặc phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã nghỉ hưu,
thôi việc, bị miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức hoặc giải ngũ, phục viên chưa
quá 05 năm thì còn phải nộp giấy của cơ quan,
tổ chức, đơn vị đã ra quyết định cho nghỉ hưu, cho thôi việc, miễn nhiệm,
bãi nhiệm, cách chức hoặc giải ngũ, phục viên xác nhận việc thôi quốc tịch Việt
Nam của người đó không phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam….
Điều
29. Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ
xin thôi quốc tịch Việt Nam:
1. Người xin thôi quốc tịch Việt Nam
nếu cư trú ở trong nước thì nộp hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi cư trú, nếu cư trú ở
nước ngoài thì nộp hồ sơ cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại. Trong trường hợp
hồ sơ không có đầy đủ các giấy tờ quy định tại Điều 28 của Luật này hoặc không
hợp lệ thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo ngay để người xin thôi quốc
tịch Việt Nam bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ. 2. Trường hợp người xin thôi quốc
tịch Việt Nam cư trú ở trong nước thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp có trách nhiệm đăng thông báo về việc xin
thôi quốc tịch Việt Nam trên một tờ báo viết hoặc báo điện tử ở địa phương
trong ba số liên tiếp và gửi đăng trên Trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp;
trường hợp người xin thôi quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài thì trong
thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đại diện
Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm đăng thông báo về việc xin thôi quốc tịch
Việt Nam trên Trang thông tin điện tử của mình. Thông báo trên Trang thông tin
điện tử phải được lưu giữ trên đó trong thời gian ít nhất là 30 ngày, kể từ
ngày đăng thông báo. 3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ
sơ hợp lệ, Sở Tư pháp gửi văn bản đề nghị cơ quan Công an cấp tỉnh xác minh về
nhân thân của người xin thôi quốc tịch Việt Nam. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ
ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, cơ quan Công an cấp tỉnh có trách nhiệm
xác minh và gửi kết quả đến Sở Tư pháp. Trong thời gian này, Sở Tư pháp phải
tiến hành thẩm tra giấy tờ trong hồ sơ xin
thôi quốc tịch Việt Nam.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh,
Sở Tư pháp có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư
pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, kết luận và đề
xuất ý kiến gửi Bộ Tư pháp. 4. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ
hợp lệ, cơ quan đại diện Việt Nam
ở nước ngoài có trách nhiệm thẩm tra và chuyển hồ sơ kèm theo ý kiến đề xuất về
việc xin thôi quốc tịch Việt Nam
về Bộ Ngoại giao để chuyển đến Bộ Tư pháp. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Tư
pháp đề nghị Bộ Công an xác minh về nhân thân của người xin thôi quốc tịch Việt
Nam.
5. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề xuất của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh hoặc của cơ
quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ
sơ, nếu xét thấy người xin thôi quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện được thôi
quốc tịch Việt Nam thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét,
quyết định. 6. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Thủ
tướng Chính phủ, Chủ tịch nước xem xét, quyết định” .
2.
Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng
9 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Quốc tịch Việt Nam
Với
quy định về trình tự, thủ tục theo Luật Quốc tịch năm 1998 và Nghị định số
104/NĐ-CP có những quy định thực sự gây phiền hà cho người dân, nhất là những
trường hợp xin thôi quốc tịch Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài, sau một thời
gian, cơ quan tiếp nhận hồ sơ mới chuyển về cơ quan có thẩm quyền ở trong nước,
khi hồ sơ đến Bộ Tư pháp thì một số giấy tờ có trong hồ sơ đã hết thời hạn quy
định. Hồ sơ chuẩn bị quá phức tạp, lại qua nhiều khâu trung gian trước khi đến
cơ quan có thẩm quyền quyết định. Nhiều trường hợp thậm chí mất 06 tháng đến 01
năm, sau đó hồ sơ còn qua thủ tục xác minh về nhân thân của cơ quan công an,
thời hạn cũng không được kịp thời nên dẫn đến tình trạng, có trường hợp xin
thôi quốc tịch Việt Nam chưa xong thì giấy hứa cho nhập quốc tịch nước ngoài đã
hết hiệu lực. Từ những bất cập nêu trên mà Luật Quốc tịch năm 2008 và các văn
bản hướng dẫn đã được đổi mới, điều chỉnh theo hướng đơn giản hóa dân chủ, minh
bạch, công khai, giảm phiền hà cho người dân.
Việc
sửa đổi Luật quốc tịch năm 1998 đã đánh dấu một bước quan trọng trong bối cảnh
đất nước ta đã có nhiều thay đổi lớn trong phát triển kinh tế - xã hội. Chính
vì vậy, việc các nhà làm luật đã pháp điển hóa các quy định trong Nghị định quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 như hồ sơ
và trình tự thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch để đưa vào trong Luật quốc
tịch là phù hợp với chủ chương cũng như cách làm mới của Nhà nước ta trong việc
xây dựng pháp luật trong thời gian gần đây.
Trình tự, thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch
Việt Nam
nhìn chung được quy định khá chi tiết trong Luật. Đối với việc giải quyết hồ sơ
xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, cần tuân theo một quy trình
chặt chẽ về thủ tục và đảm bảo về thời gian. Luật quốc tịch đã phân bổ thời gian
giải quyết cho các cơ quan liên quan (Sở Tư pháp, Công an tỉnh, các cơ quan ở
Trung ương và các cơ quan chuyên môn khác). Nhìn chung, quy trình giải quyết
các việc về quốc tịch là thống nhất, tương đối giống nhau. Trong việc giải
quyết các vấn đề về quốc tịch, ở trong nước, Sở Tư pháp là cơ quan đầu mối tại
địa phương, chịu trách nhiệm chính trước UBND cấp tỉnh và giúp UBND cấp tỉnh
trong việc tiếp nhận hồ sơ, xem xét, kiểm tra, đối chiếu hồ sơ với các điều
kiện của đương sự trên thực tế theo Luật định. Đồng thời, sau khi thẩm tra kỹ
lưỡng hồ sơ và có ý kiến của các cơ quan liên quan, Sở Tư pháp làm văn bản báo
cáo trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét, kết luận và đề xuất ý kiến gửi Bộ Tư
Pháp để trình Chủ tịch nuớc xem xét, quyết định.
Với việc cải cách này, Luật Quốc tịch năm 2008 là một
trong những Luật đã có quy định tạo ra những thuận lợi để người dân dễ dàng nắm
bắt chủ chương chính sách của Nhà nước ta cũng như cách thức giải quyết mọi
việc về quốc tịch. Một trong những cải cách đó là việc giảm tối đa về thời gian giải quyết các việc về quốc tịch, từ
đó từng bước nâng cao vai trò trách nhiệm của từng cơ quan tham gia trong quá
trình xem xét, giải quyết. Chẳng hạn, tối đa giải quyết xin nhập quốc tịch Việt
Nam là 120 ngày, đối với hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam là gần 90 ngày và
giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam là hơn 60 ngày, kể từ ngày UBND
tỉnh, Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Việc quy
định rõ thời hạn này đòi hỏi các cơ quan chức năng nâng cao trách nhiệm giải
quyết các việc về quốc tịch, chống việc kéo dài, sách nhiễu, tiêu cực, gây
phiền hà cho dân, đồng thời tạo ra cơ sở để nhân dân thực hiện quyền giám sát
tiến độ giải quyết các việc về quốc tịch và thực hiện quyền khiếu nại, khiếu
kiện đối với những vi phạm về thời hạn. Nếu so với Luật Quốc tịch năm 1998 thì
thời gian giải quyết các việc về quốc tịch giảm từ 3 tháng cho đến 8 tháng tùy
thuộc vào từng loại việc giải quyết. Có thể nói việc quy định như trên trong
Luật Quốc tịch năm 2008 là bước tiến lớn trong việc cải cách thủ tục hành
chính, nhằm đáp ứng một cách tối đa nhu cầu của người dân trong việc giải quyết
các thủ tục hành chính.
Luật
quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã quy định tương đối cụ thể các vấn đề về quốc
tịch Việt Nam như: chính sách về quốc tịch, nguyên tắc quốc tịch, các điều kiện
nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam, hồ sơ và trình tự, thủ tục giải quyết
các việc xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, v.v... Tuy nhiên,
Luật quốc tịch Việt Nam chưa thể quy định chi tiết tất cả các vấn đề về hồ sơ,
trình tự và thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch, do đó, Luật quốc tịch
Việt Nam đã giao cho Chính phủ quy định chi tiết 10 điều. Ngoài ra, Luật quốc
tịch Việt Nam
cũng có một số quy định mới so với các đạo luật quốc tịch trước đây như: vấn đề
hai quốc tịch, đăng ký giữ quốc tịch, v.v... cần phải được cụ thể hóa và hướng
dẫn thêm để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước. Vì vậy, Nghị định số 78/2009/NĐ-CP
ngày 22 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam đã quy định cải cách một số trình tự,
thủ tục hành chính để đáp ứng được nguyện vọng của người dân thuận tiện, đơn
giản nhất và đảm bảo công tác quản lý về quốc tịch được chặt chẽ và hoàn thiện
hơn.
Việc
minh bạch hóa các kết quả giải quyết về quốc tịch cũng là cách làm mới, theo đó
Luật quy định phải đăng trên công báo nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Quyết định cho nhập, cho trở lại, cho thôi, tước quốc tịch Việt Nam và huỷ bỏ
Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam. Trong Luật Quốc tịch còn giao thêm
trách nhiệm cho Bộ Tư pháp trong việc thông báo kết quả giải quyết các việc về
quốc tịch trên Trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp. Cách làm này sẽ tạo điều
kiện tối đa để người dân khắp mọi nơi dễ dàng tiếp cận những thông tin về tiến
độ và kết quả giải quyết hồ sơ của họ. Đây cũng là một trong đòi hỏi chính đáng
của người dân.
IV. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC
GIẢI QUYẾT HỒ SƠ XIN TRỞ LẠI QUỐC TỊCH VIỆT NAM
Trở
lại quốc tịch Việt Nam là việc một người trước đây đã từng có quốc tịch Việt
Nam theo quy định của pháp luật về quốc tịch (do được thôi, bị tước, không đăng
ký giữ quốc tịch Việt Nam, bị mất quốc tịch Việt Nam theo điều ước quốc tế và
một số trường hợp khác) nay được trở lại quốc tịch Việt Nam theo quyết định của
Chủ tịch nước.
Trở
lại quốc tịch là một hiện tượng bình thường của đời sống xã hội và cũng là một
thông lệ quốc tế khi một cá nhân có quốc tịch gốc của một nước nhưng vì lý do
nào đó đã mất quốc tịch gốc. Ví dụ, nhiều công dân Việt Nam xuất cảnh ra nước
ngoài trước đây đã được Chủ tịch nước cho thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc
tịch nước ngoài nay vì lý do hồi hương, về Việt Nam đầu tư và có nguyện vọng
được trở lại quốc tịch Việt Nam thì pháp luật cũng tạo điều kiện thuận lợi để
cho họ được trở lại quốc tịch Việt Nam.
Về
bản chất, việc xin trở lại quốc tịch Việt Nam
cũng giống như việc xin nhập quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên chỉ khác về đối
tượng khi người xin trở lại quốc tịch Việt Nam là người mà trước đây đã từng có
quốc tịch Việt Nam nhưng nay đã bị mất quốc tịch Việt Nam theo quy định tại
Điều 26 của Luật Quốc tịch.
1. Điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam
Theo
quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật Quốc tịch thì người xin trở lại quốc tịch
Việt Nam có thể được trở lại quốc tịch Việt Nam nếu thuộc một trong các trường
hợp sau:
“….
- Xin hồi hương về Việt Nam;
- Có vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con
đẻ là công dân Việt Nam;
- Có công lao đặc
biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam;
- Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam;
- Thực hiện đầu tư tại Việt Nam;
- Đã thôi quốc tịch Việt Nam để nhập
quốc tịch nước ngoài, nhưng không được nhập quốc tịch nước ngoài.”
Để
cụ thể hoá một số điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam, Nghị định số
78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2009 quy định chi tiết và hướng dẫn như sau:
1. Người có
công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam và
người mà việc trở lại quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng theo quy định tại các khoản 1, 2 Điều 6 của
Nghị định này.
2. Người
thực hiện đầu tư tại Việt Nam phải có dự án đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy tờ
chứng nhận việc đầu tư đó”.
Trong trường hợp việc xin trở lại
quốc tịch Việt Nam của một cá nhân làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt
Nam thì người xin trở lại quốc tịch Việt Nam không được chấp nhận cho trở lại
quốc tịch Việt Nam. Việc quy định các điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam
như trên là nhằm bảo đảm rằng những người xin trở lại quốc tịch là những người
thực sự có đầy đủ các điều kiện về vật chất, tinh thần, về chính trị để trở về
sinh sống tại Việt Nam, là người sẽ mang lại những lợi ích thiết thực cho sự
phát triển của đất nước Việt Nam. Không ai có thể lợi dụng việc mang quốc tịch
Việt Nam để làm phương hại đến lợi ích của Nhà nước Việt Nam. Đây là một chế
định thể hiện rất rõ chủ quyền quốc gia trong các quy định về quốc tịch.
2. Hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam
Hồ sơ xin trở lại quốc
tịch Việt Nam phải được lập thành 3 bộ và được quy định chi tiết tại Điều 24
của Luật Quốc tịch, gồm có các giấy tờ sau đây:
a) Đơn xin trở lại quốc
tịch Việt Nam;
b)
Bản sao Giấy khai sinh, Hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay thế;
c) Bản khai lý lịch;
d) Phiếu lý
lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp đối với thời gian người
xin trở lại quốc tịch Việt Nam cư trú ở Việt Nam, Phiếu lý lịch tư pháp do
cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp đối với thời gian người xin trở lại
quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Phiếu lý lịch tư pháp phải là phiếu
được cấp không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ sơ;
đ) Giấy tờ chứng minh người xin trở lại
quốc tịch Việt Nam đã từng
có quốc tịch Việt Nam..”
Một số giấy tờ có trong hồ sơ xin trở lại quốc tịch
Việt Nam
được cụ thể hoá như sau:
-
Các giấy tờ chứng minh người xin trở lại quốc tịch Việt Nam đã từng có quốc
tịch Việt Nam là một trong các giấy tờ sau đây: bản sao Giấy khai sinh; bản sao
Quyết định cho thôi quốc tịch Việt Nam; giấy tờ khác có ghi quốc tịch Việt Nam
hoặc có giá trị chứng minh quốc tịch Việt Nam trước đây của người đó.
-
Giấy tờ chứng minh đủ điều kiện trở lại quốc tịch Việt Nam là một trong các
giấy tờ quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 19 của Luật Quốc tịch hoặc
giấy tờ chứng minh người xin trở lại quốc tịch Việt Nam đang làm thủ tục xin
hồi hương về Việt Nam hoặc bản sao giấy tờ chứng nhận việc đầu tư tại Việt Nam.
- Trong trường hợp con chưa thành niên cùng xin trở
lại quốc tịch Việt Nam
theo cha mẹ thì phải nộp bản sao Giấy khai sinh của người con hoặc giấy tờ khác
chứng minh quan hệ cha con, mẹ con. Trường hợp chỉ cha hoặc mẹ trở lại quốc
tịch Việt Nam mà con chưa
thành niên sống cùng người đó cùng trở lại quốc tịch Việt Nam theo cha hoặc mẹ thì phải nộp văn bản thoả
thuận của cha mẹ về việc trở lại quốc tịch Việt Nam của con.
3. Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin trở
lại quốc tịch Việt Nam.
Theo quy định
tại Điều 25 của Luật Quốc tịch, thời hạn giải quyết việc xin trở lại quốc tịch
Việt Nam là 75 ngày, trong đó, thời hạn xem xét, thẩm tra và có ý kiến đề xuất
giải quyết việc xin trở lại quốc tịch Việt Nam tại UBND cấp tỉnh là 30 ngày, kể
từ ngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Do vậy, trong khi chờ đợi văn bản trả lời kết quả xác
minh nhân thân của Công an tỉnh (đối với hồ sơ xin trở lại quốc tịch nộp tại Sở
Tư pháp), thì Sở Tư pháp chủ động thẩm tra, nghiên cứu hồ sơ của đương sự so
với các điều kiện xin trở lại quốc tịch để hoàn tất hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh xem xét, kết luận và đề xuất ý kiến gửi Bộ Tư pháp.
Trong
trường hợp cần thiết phải xác minh thêm về nhân thân của người xin trở lại quốc
tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 3 Điều 25 của Luật Quốc tịch Việt Nam thì
Bộ Tư pháp có văn bản nêu rõ những nội dung cụ thể đề nghị Bộ Công an xác minh.
Thời hạn Bộ Công an trả lời kết quả xác minh theo yêu cầu của Bộ Tư pháp là 30
ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của Bộ Tư pháp
Tương
tự như việc giải quyết xin nhập quốc tịch Việt Nam, trình tự giải quyết việc
xin trở lại quốc tịch tại Bộ Tư pháp được quy định tại khoản 4 Điều 25 Luật
Quốc tịch Việt Nam. Như trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề
xuất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra
lại hồ sơ, nếu xét thấy người xin trở lại quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện
được trở lại quốc tịch Việt Nam thì gửi thông báo bằng văn bản cho người đó để
làm thủ tục xin thôi quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp người xin trở lại
quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài hoặc là người không quốc tịch.
Khi nhận được kết quả về việc đương sự đã thôi quốc tịch nước ngoài của mình,
thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, Bộ trưởng Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng
Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. Đối với trường hợp người xin
trở lại quốc tịch Việt Nam
có đơn xin giữ quốc tịch nước ngoài hoặc người đó là người không quốc tịch, thì
thời hạn giải quyết tại Bộ Tư pháp rút xuống chỉ còn 15 ngày. Sau khi Bộ Tư pháp báo cáo Chính phủ để trình Chủ
tịch nước, thì trong thời hạn 20 ngày, Chủ tịch nước xem xét và quyết định về
việc cho trở lại quốc tịch Việt Nam.
Sau khi được Chủ tịch nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam, thì
người đó trở thành công dân Việt Nam và được hưởng đầy đủ các quyền và lợi ích
hợp pháp mà Nhà nước Việt Nam dành cho công dân của mình, cũng như phải thực
hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước Việt Nam.
4. Những bất cập về trình tự, thủ tục về việc giải
quyết các hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam
Từ khi Luật Quốc tịch năm 2008 và
các văn bản hướng dẫn thi hành Luật có hiệu lực thi hành, có rất nhiều người đã
được thôi quốc tịch Việt Nam cư trú ở trong nước cũng như ở nước ngoài có
nguyện vọng xin trở lại quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, khi xin trở lại quốc
tịch Việt Nam thì cơ quan trực tiếp giải quyết cũng như người dân đã gặp khó
khăn như sau:
Thứ nhất: Theo quy định của Luật Quốc tịch năm 2008 và Nghị
định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2009 quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam, đã có sự mở rộng những trường
hợp cho phép được giữ quốc tịch nước ngoài nhưng đương sự phải chứng minh có
công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có lợi cho Nhà nước
Việt Nam hoặc hoàn cảnh đặc biệt của họ …Chính vì có sự ngộ nhận là cứ thuộc
diện ưu tiên thì đương nhiên không phải thôi quốc tịch gốc, nên đại đa số những
người xin trở lại quốc tịch Việt Nam đều có nguyện vọng được giữ quốc tịch nước
ngoài. Khi cơ quan có thẩm quyền thông báo họ phải thôi quốc tịch nước ngoài
thì họ không muốn trở lại quốc tịch Việt Nam nữa vì lý do họ còn có những quyền
lợi về kinh tế, gia đình…ở nước sở tại, nhất là những trường hợp xin trở lại
quốc tịch Việt Nam nhưng vẫn cư trú ở nước ngoài và họ cũng không thông báo lại
cho cơ quan có thẩm quyền biết để xử lý. Vì vậy, hồ sơ xin trở lại quốc tịch
Việt Nam
của những đương sự này luôn trong tình trạng chưa được giải quyết dứt điểm. Có
tình trạng như vậy là do người dân thiếu hiểu biết hoặc hiểu không rõ các quy
định của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành về việc trở lại quốc tịch Việt Nam.
Thứ hai: Hiện nay, các cơ quan trực tiếp tiếp nhận, giải quyết
một số hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam gặp khó khăn khi đương sự không
xuất trình được Phiếu lý lịch do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp trong
thời gian đương sự cư trú ở nước ngoài:
+
Trường hợp đương sự có thời gian cư trú ở nước ngoài nhưng hiện nay đã về Việt
Nam cư trú và xin trở lại quốc tịch Việt Nam, nếu yêu cầu đương sự quay lại
nước trước kia cư trú để xin cấp Phiếu Lý lịch tư pháp thì khó thực hiện được.
+
Trường hợp đương sự xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài
nhưng không được nhập quốc tịch nước ngoài, hiện nay vẫn đang cư trú ở nước
ngoài (người không quốc tịch, nhất là những trường hợp phụ nữ Việt Nam lấy chồng
Đài Loan, Hàn Quốc), những trường hợp này xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì
cũng gặp rất nhiều khó khăn khi xin cấp Phiếu Lý lịch tư pháp của cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài, bởi vì cơ quan có thẩm quyền nước sở tại từ chối cấp
cho các đối tượng này.
Nhà
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
có chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người đã mất quốc tịch Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam. Đây là
chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, khuyến khích người
Việt Nam
định cư ở nước ngoài hướng về Tổ quốc. Các quy định về trình tự, thủ tục xin
trở lại quốc tịch Việt Nam của Luật và văn bản hướng dẫn thi hành được cải cách
và cụ thể hơn đã tạo điều kiện thuận lợi cho những người gốc Việt Nam quay trở
lại đầu tư về Việt Nam và được hưởng những ưu đãi đầu tư như đối với công dân
Việt Nam. Đồng thời, cũng giải quyết được vướng mắc hiện nay là nhiều trường
hợp đã xin thôi quốc tịch Việt Nam
nhưng không được nhập quốc tịch nước ngoài.
Phần thứ hai
VỀ VIỆC THỰC HIỆN MỘT SỐ NỘI DUNG
QUAN TRỌNG CỦA LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM
2008
I. NHẬP QUỐC TỊCH VIỆT NAM THEO LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM NĂM 2008
Luật
Quốc tịch Việt Nam năm 2008 được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ tư
ngày 13 tháng 11 năm 2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009 và thay thế
Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998.
Đến
nay, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này đã được ban hành và có hiệu lực,
cụ thể là :
-
Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam;
-
Thông tư liên tịch số 05/2010/BTP-BNG-BCA ngày 01 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tư
pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an hướng dẫn thi hành Nghị định số 78/2009/NĐ-CP
ngày 22 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam (có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng
4 năm 2010);
-
Thông tư số 08/2010/TT-BTP ngày 25 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn
mẫu giấy tờ về quốc tịch và mẫu sổ tiếp nhận các việc về quốc tịch (có hiệu lực
thi hành từ ngày 10 tháng 5 năm 2010);
-
Thông tư số 146/2009/TT-BTC ngày 20 tháng 7 năm 2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn
chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng lệ phí giải quyết các việc liên quan đến
quốc tịch;
-
Thông tư số 135/2010/TT-BTC ngày 13 tháng 9 năm 2010 của Bộ Tài chính về sửa
đổi, bổ sung Thông tư số 146/2009/TT-BTC ngày 20 tháng 7 năm 2009 của Bộ Tài
chính hướng dẫn chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng lệ phí giải quyết các việc
liên quan đến quốc tịch.
So
với Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này
thì hệ thống các văn bản pháp luật về quốc tịch hiện nay khá hoàn thiện, cụ thể
và chi tiết, đây là một thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước về quốc tịch,
cũng như công tác giải quyết các việc về quốc tịch.
Trong
phạm vi chuyên đề này, chúng ta tìm hiểu sâu hơn về các quy định của pháp luật
hiện hành về quốc tịch trong việc giải quyết cho nhập quốc tịch Việt nam, thôi
quốc tịch Việt Nam, giữ quốc tịch Việt Nam, giải quyết vấn đề quốc tịch cho dân
di cư tại khu vực biên giới.
1. Nhập quốc tịch là gì?
Nhập
quốc tịch là việc một cá nhân sau khi đáp ứng đầy đủ những điều kiện mà pháp
luật quy định được trở thành công dân của một Nhà nước thông qua quyết định của
cơ quan có thẩm quyền. Việc có quốc tịch của một nước sẽ làm phát sinh quyền và
nghĩa vụ của công dân đối với một nhà nước và ngược lại, cũng làm phát sinh
trách nhiệm của một nhà nước đối với công dân của mình. Chính vì vậy, khi một
người nước ngoài muốn nhập quốc tịch Việt Nam
nghĩa là theo ý kiến chủ quan của mình, họ muốn thiết lập những mối quan hệ
pháp lý và chính trị giữa họ với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Một cách
cụ thể hơn, họ muốn được hưởng những quyền cơ bản về kinh tế, chính trị, xã hội
như một công dân Việt Nam, tuy nhiên họ cũng phải thực hiện những nghĩa vụ của
một công dân Việt Nam đối với Nhà nước Việt Nam theo quy định của pháp luật
Việt Nam. Việc người nước ngoài muốn nhập quốc tịch Việt Nam có thể do
nhiều lý do khác nhau. Có người xin nhập quốc tịch Việt Nam chỉ thuần túy vì lý
do kinh tế, nhập quốc tịch Việt Nam là để ổn định cuộc sống, làm ăn lâu dài tại
Việt Nam, có thể nói những người xin nhập quốc tịch Việt Nam vì lý do này chiếm
số lượng chủ yếu những người trong thời gian qua được Chủ tịch nước xem xét, quyết
định cho nhập quốc tịch Việt Nam.
Bên
cạnh lý do trên, có người xin nhập quốc tịch Việt Nam không phải vì lý do kinh
tế, mà vì nhiều lý do khác nhau, như việc một vận động viên thể thao muốn nhập
quốc tịch Việt Nam để được cống hiến lâu dài cho Câu lạc bộ, đồng thời phấn đấu
để được thi đấu dưới màu cờ sắc áo của Đội tuyển Việt Nam, hoặc việc nhập quốc
tịch Việt Nam vì những lý do là tình cảm như do có vợ, có chồng là công dân
Việt Nam, do yêu mến và có nhiều năm gắn bó với đất nước Việt Nam, có nhiều đóng
góp cho Việt Nam…Nhưng dù với bất cứ lý do gì thì việc xin nhập quốc tịch Việt
Nam cũng phải tuân thủ những quy định chung của Luật Quốc tịch Việt Nam và các
văn bản hướng dẫn thi hành Luật này.
2. Điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam
Điều
kiện nhập quốc tịch Việt Nam được quy định tại Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam
và Điều 5 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam.
Theo
các quy định này, thì công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường
trú ở Việt Nam có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam thì có thể được nhập quốc
tịch Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện sau đây:
-
Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam;
-
Tuân thủ hiến pháp và pháp luật Việt Nam;
tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam;
-
Biết tiếng Việt đủ để hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam. Điều kiện này được quy định cụ
thể tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP: “Biết tiếng Việt đủ để hòa nhập vào cộng
đồng Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được đánh giá trên cơ sở
khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt với công dân Việt Nam trong cuộc sống, phù
hợp với môi trường sống và làm việc của người đó”. Như vậy, người xin nhập quốc
tịch Việt Nam thì phải có
một trình độ tiếng Việt nhất định để có khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt với
người Việt Nam.
Tuy nhiên, không nhất thiết những người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải có
trình độ tiếng Việt như nhau, mà điều này tùy thuộc vào môi trường sống và làm
việc của người đó, ví dụ: người xin nhập quốc tịch Việt Nam sinh sống tại các
vùng biên giới giữa Việt Nam với Lào hoặc Trung Quốc, nghề nghiệp chính của họ
là làm nông nghiệp cùng gia đình thì yêu cầu về trình độ tiếng Việt của họ sẽ
không giống với một người xin nhập quốc tịch Việt Nam mà sống tại các thành phố
lớn, công việc của họ là kinh doanh, giảng dạy…đòi hỏi phải giao tiếp nhiều với
người Việt Nam.
-
Đã thường trú ở Việt Nam từ
5 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam. Thời gian
thường trú tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam sẽ được tính kể
từ ngày người đó được cấp Thẻ thường trú (khoản 2 Điều 5 Nghị định số
78/2009/NĐ-CP). Như vậy, người xin nhập quốc tịch Việt Nam sẽ phải có Thẻ thường
trú do cơ quan Công an cấp, và thời gian thường trú 5 năm tại Việt Nam được
tính kể từ ngày người đó được cấp Thẻ thường trú.
-
Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam. Khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt
Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được chứng minh bằng tài sản, nguồn
thu nhập hợp pháp của người đó hoặc sự bảo lãnh của tổ chức, cá nhân tại Việt
Nam. Như vậy, người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải chứng minh được với cơ
quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam về các điều kiện thực tế của mình như:
điều kiện về nhà ở, mức thu nhập có đủ và sự ổn định của thu nhập để đảm bảo
cuộc sống bình thường tại Việt Nam.
-
Người xin nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài (khoản 3
Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam). Việc quy định điều kiện này là để hạn chế
tình trạng một người có thể có hai hoặc nhiều quốc tịch, dễ gây ra những hậu
quả pháp lý phức tạp.
-
Ngoài các điều kiện trên, người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải có tên gọi
Việt Nam. Tên gọi này do người xin nhập quốc tịch Việt Nam lựa chọn và được ghi
rõ trong đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam.
Người
xin nhập quốc tịch Việt Nam sẽ không được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó
làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam.
Quy
định các điều kiện trên đây là nhằm để đảm bảo một người nước ngoài khi được
nhập quốc tịch Việt Nam đã có sự hiểu biết nhất định về chính sách, pháp luật
của Nhà nước Việt Nam, về văn hoá, phong tục tập quán của Việt Nam… từ đó họ có
thể dễ dàng hòa nhập vào cộng đồng xã hội Việt Nam và ổn định cuộc sống, làm
ăn, sinh sống tại Việt Nam. Đây là những điều kiện rất quan trọng để cơ quan có
thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam xem xét, quyết định việc cho nhập quốc tịch
Việt Nam.
3. Miễn điều kiện được nhập quốc tịch
Việt Nam
Không
phải tất cả những người có nguyện vọng muốn được nhập quốc tịch Việt Nam thì
đều phải có đầy đủ tất cả các điều kiện nói trên, Luật Quốc tịch Việt Nam năm
2008 cũng có những quy định mang tính mở, tạo điều kiện cho một số đối tượng
được nhập quốc tịch Việt Nam mà không nhất thiết phải có đủ tất cả các điều
kiện nói trên.
Khoản
2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam và Điều 6 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP quy định
những trường hợp được miễn một số điều kiện khi xin nhập quốc tịch Việt Nam, cụ
thể là:
-
Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam;
-
Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Người có công lao đặc biệt
đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam là những người: được
tặng thưởng Huân chương, Huy chương, danh hiệu cao quý khác của Nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miên Nam Việt Nam,
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc được cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền của Việt Nam xác nhận về công lao đặc biệt đó.
-
Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Người mà việc nhập quốc
tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
phải là người có tài năng trong các lĩnh vực khoa học, kinh tế, văn hóa, xã
hội, nghệ thuật, thể thao, được cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng
nhận và cơ quan quản lý nhà nước cấp bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận
việc nhập quốc tịch của họ sẽ có đóng góp cho sự phát triển trong các lĩnh vực
nói trên của Việt Nam.
Như
vậy, những người xin nhập quốc tịch Việt Nam mà thuộc một trong các trường hợp
nói trên thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải có điều kiện về
tiếng Việt, khả năng đảm bảo cuộc sống tại Việt Nam và không nhất thiết phải có
đủ 5 năm thường trú tại Việt Nam kể từ ngày được cơ quan công an cấp thẻ thường
trú.
Ngoài
việc được miễn một số điều kiện nói trên, những người xin nhập quốc tịch Việt
Nam mà thuộc một trong những trường hợp này sẽ không phải thôi quốc tịch nước
ngoài, nếu được Chủ tịch nước cho phép (khoản 3 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt
Nam). Tuy nhiên, để được Chủ tịch nước xem xét, quyết định cho nhập quốc tịch
Việt Nam mà không phải thôi quốc tịch nước ngoài thì họ phải đưa ra được những
lý do đặc biệt để xin giữ quốc tịch nước ngoài, ví dụ nếu họ thôi quốc tịch
nước ngoài của họ khi được nhập quốc tịch Việt Nam thì sẽ mất quyền được hưởng
lương hưu, trợ cấp xã hội của nước mà họ đang có quốc tịch, mà đây lại là nguồn
thu nhập duy nhất của họ…Điều này có nghĩa rằng, không phải tất cả những người
xin nhập quốc tịch Việt Nam thuộc những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19
Luật Quốc tịch Việt Nam thì đều không phải thôi quốc tịch nước ngoài khi được
nhập quốc tịch Việt Nam mà chỉ trong những trường hợp đặc biệt mới được Chủ
tịch nước xem xét.
Quy
định được miễn các điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam là tạo điều kiện cho
người nước ngoài, người không quốc tịch có thể đoàn tụ gia đình với thân nhân
của họ là công dân Việt Nam; cũng nhằm thể hiện sự biết ơn, đền đáp công lao
của Nhà nước Việt Nam đối với những người đã có công đóng góp đáng kể trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Mặc khác, việc tạo điều kiện cho
những người nước ngoài có tài năng có thể mang lại những lợi ích đặc biệt về
khoa học, kinh tế, văn hóa, xã hội, nghệ thuật, thể thao được nhập quốc tịch
Việt Nam là để giúp họ yên tâm, gắn bó và cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp
xây dựng và phát triển đất nước. Đây là những quy định mềm dẻo, giúp cho các
đối tượng nên trên được nhập quốc tịch Việt Nam một cách thuận lợi, dễ dàng.
4. Hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam
Người
nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú tại Việt Nam nếu có nguyện
vọng xin nhập quốc tịch Việt Nam thì phải nộp hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt
Nam.
Theo
quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật Quốc tịch Việt Nam và Điều 7 Nghị định số
78/2009/NĐ-CP thì hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam bao gồm các giấy tờ sau
đây:
-
Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam. Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam được khai theo
mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 08/2010/TT-BTP ngày 25 tháng 3 năm 2010 của
Bộ Tư pháp về hướng dẫn mẫu giấy tờ về quốc tịch và mẫu sổ tiếp nhận các việc
về quốc tịch;
-
Bản sao Giấy khai sinh, Hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay thế. Trong
trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam không có Bản sao Giấy khai sinh
hoặc Hộ chiếu thì họ có thể nộp những giấy tờ có giá trị chứng minh quốc tịch
nước ngoài của mình (điểm a, khoản 1 Điều 7 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP);
-
Bản khai lý lịch. Người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải có bản khai lý lịch
theo mẫu được ban hành kèm theo Thông tư số 08/2010/TT-BTP ngày 25 tháng 3 năm
2010 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn mẫu giấy tờ về quốc tịch và mẫu sổ tiếp nhận
các việc về quốc tịch;
-
Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp đối với thời
gian người xin nhập quốc tịch Việt Nam cư trú ở Việt Nam, Phiếu Lý lịch tư pháp
do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp đối với thời gian người xin nhập
quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Phiếu lý lịch tư pháp phải là phiếu
được cấp không quá 90 ngày tính đến thời điểm nộp hồ sơ;
-
Giấy tờ chứng minh trình độ tiếng Việt. Người xin nhập quốc tịch Việt Nam có
thể nộp một trong các giấy tờ sau đây để chứng minh trình độ tiếng Việt của
mình, đó là: bản sao bằng tốt nghiệp sau đại học, đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp, trung học phổ thông hoặc trung học cơ sở của Việt Nam; bản sao
văn bằng hoặc chứng chỉ chứng nhận trình độ tiếng Việt do cơ sở đào tạo tiếng
Việt của Việt Nam cấp.
Trong
trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam khai báo biết tiếng Việt đủ để hòa
nhập vào cộng đồng Việt Nam, nhưng không có một trong các giấy tờ nêu trên, thì
Sở Tư pháp tổ chức phỏng vấn trực tiếp để kiểm tra trình độ tiếng Việt của
người đó theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp. Kết quả phỏng vấn phải được lập thành
văn bản; người trực tiếp phỏng vấn căn cứ vào tiêu chuẩn quy định tại khoản 1
Điều 5 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP để đề xuất ý kiến và chịu trách nhiệm về ý
kiến đề xuất của mình (điểm b, khoản 1 Điều 7 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP).
-
Giấy tờ chứng minh về chỗ ở, thời gian thường trú ở Việt Nam.
Để
chứng minh về chỗ ở của mình tại Việt Nam người xin nhập quốc tịch Việt Nam có
thể nộp hợp đồng thuê nhà, giấy tờ chứng minh việc người đó đang được cơ quan,
tổ chức nơi họ làm việc tạo điều kiện về chỗ ở…
Để
chứng minh thời gian thường trú tại Việt Nam người xin nhập quốc tịch Việt Nam
phải nộp bản sao Thẻ thường trú (điểm d khoản 1 Điều 7 Nghị định số
78/2009/NĐ-CP).
-
Giấy tờ chứng minh bảo đảm cuộc sống ở Việt Nam. Người xin nhập quốc tịch Việt
Nam có thể nộp một trong các giấy tờ sau đây để chứng minh khả năng tự bảo đảm
cuộc sống của mình tại Việt Nam: giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản; giấy
xác nhận của cơ quan thuế về thu nhập chịu thuế; giấy xác nhận mức lương hoặc
thu nhập do cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc cấp; giấy tờ chứng minh được
sự bảo lãnh của tổ chức, cá nhân tại Việt Nam; giấy xác nhận của Ủy ban nhân
dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người xin nhập quốc tịch Việt Nam
về khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người đó.
Những
người được miễn một số điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam quy định tại khoản 2
Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam thì được miễn các giấy tờ tương ứng với điều
kiện được miễn (khoản 2 Điều 20 Luật Quốc tịch Việt Nam). Tuy nhiên, họ phải
nộp giấy tờ để chứng minh điều kiện được miễn, cụ thể là:
-
Người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam phải nộp bản sao Giấy chứng nhận
kết hôn chứng minh quan hệ hôn nhân (điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số
78/2009/NĐ-CP);
-
Người là cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam phải nộp bản sao Giấy
khai sinh hoặc giấy tờ hợp lệ khác chứng minh quan hệ cha con, mẹ con (điểm b
khoản 2 Điều 7 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP);
-
Người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Việt Nam phải nộp bản sao Huân chương, Huy chương, giấy chứng nhận danh hiệu
cao quý khác hoặc giấy xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam
(điểm c khoản 2 Điều 7 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP);
-
Người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam phải nộp giấy chứng nhận của cơ quan, tổ chức nơi người
đó làm việc, được cơ quan quản lý nhà nước cấp bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
xác nhận về việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ sẽ đóng góp cho sự phát triển
của một trong các lính vực nói tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP
(điểm d khoản 2 Điều 7 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP).
Trong
trường hợp trẻ em chưa thành niên cùng nhập quốc tịch Việt Nam theo cha mẹ thì
hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam phải bổ sung bản sao Giấy khai sinh của người
con chưa thành niên hoặc giấy tờ khác chứng minh quan hệ cha con, mẹ con.
Trường hợp chỉ cha hoặc mẹ nhập quốc tịch Việt Nam mà con chưa thành niên sinh
sống cùng người đó nhập quốc tịch Việt Nam theo cha hoặc mẹ thì còn phải nộp
văn bản thỏa thuận của cha mẹ về việc nhập quốc tịch Việt Nam cho con.
Các
giấy tờ trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài cấp phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp điều ước quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác. Những
giấy tờ này cũng phải được dịch sang tiếng Việt và chứng thực theo quy định của
pháp luật Việt Nam.
Hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam phải được
lập thành 3 bộ.
Khi
nộp hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam, người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải
nộp lệ phí là 3.000.000đ.
5. Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ
xin nhập quốc tịch Việt Nam
Trình
tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam được quy định cụ thể
tại Điều 21 Luật Quốc tịch Việt Nam.
Người
xin nhập quốc tịch Việt Nam nộp hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi người đó cư trú. Trong
trường hợp hồ sơ không có đầy đủ các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 20 của
Luật Quốc tịch Việt Nam hoặc không hợp lệ thì Sở Tư pháp thông báo ngay để
người xin nhập quốc tịch Việt Nam bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ.
Trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết
hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam tại cấp tỉnh được quy định cụ thể như sau:
-
Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp gửi
văn bản đề nghị cơ quan Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xác minh
về nhân thân của người xin nhập quốc tịch Việt Nam.
-
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, cơ quan
Công an cấp tỉnh có trách nhiệm xác minh và gửi kết quả đến Sở Tư pháp. Trong
thời gian này, Sở Tư pháp phải tiến hành thẩm tra giấy tờ trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam.
-
Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, Sở Tư
pháp có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
-
Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp,
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, kết luận và đề xuất ý
kiến gửi Bộ Tư pháp.
Như
vậy, thời hạn giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam tại cấp tỉnh tối đa
gần 60 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trong thời gian này,
Sở Tư pháp phải có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ và có tờ trình trình Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải có trách nhiệm xem xét, kết luận và
đề xuất ý kiến gửi Bộ Tư pháp. Ý kiến đề xuất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải
thể hiện được đầy đủ quan điểm của Ủy ban nhân dân trong việc đề nghị giải
quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam này, như: người xin nhập quốc tịch Việt
Nam có đủ điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định không, hồ sơ đã
đầy đủ chưa, người xin nhập quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện để được Chủ tịch
xem xét cho nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải thôi quốc tịch nước ngoài
không?...
Trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết hồ sơ
xin nhập quốc tịch Việt Nam tại cấp trung ương được quy định cụ thể như sau:
-
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề xuất của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy có đủ
điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam thì gửi thông báo bằng văn bản cho người xin
nhập quốc tịch Việt Nam để làm thủ tục xin thôi quốc tịch nước ngoài, trừ
trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài
hoặc là người không quốc tịch. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được giấy cho thôi quốc tịch nước ngoài của người xin nhập quốc tịch Việt
Nam, Bộ trưởng Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem
xét, quyết định.
Trường
hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài, người
xin nhập quốc tịch Việt Nam là người không quốc tịch thì trong thời hạn 20
ngày, kể từ ngày nhận được đề xuất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tư
pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy người xin nhập quốc
tịch Việt Nam có đủ điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam thì báo cáo Thủ
tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.
-
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Thủ tướng Chính phủ,
Chủ tịch nước xem xét, quyết định.
Với
trình tự giải quyết ở Bộ Tư pháp như đã trình bày ở trên sẽ không bao gồm thời
gian người xin nhập quốc tịch Việt Nam làm thủ tục xin thôi quốc tịch gốc.
Trong thời gian qua, có rất nhiều trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam
khi làm thủ tục xin thôi quốc tịch gốc thường mất rất nhiều thời gian, vì vậy
thời hạn giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam của họ thường bị kéo dài.
Kết
quả giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam của người nước ngoài và người
không quốc tịch sẽ được Bộ Tư pháp thông báo, kết quả này cũng được đăng trên
cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.
Người
đã được nhập quốc tịch Việt Nam, dù cư trú ở trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam
mà cố ý khai báo không đúng sự thật hoặc giả mạo giấy tờ khi xin nhập quốc tịch
Việt Nam thì Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam có thể bị hủy bỏ, nếu được
cấp chưa quá 5 năm.
II. THÔI QUỐC TỊCH VIỆT NAM THEO LUẬT
QUỐC TỊCH VIỆT NAM 2008
Thôi
quốc tịch Việt Nam là việc công dân hiện đang có quốc tịch Việt Nam, tự nguyện
xin thôi quốc tịch và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho thôi quốc
tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài hoặc trường hợp đang có quốc tịch Việt
Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài, nay tự nguyện xin thôi quốc tịch Việt
Nam.
1. Căn cứ thôi quốc tịch Việt Nam
Theo
quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật Quốc tịch Việt Nam thì công dân Việt Nam có
đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài thì có thể được
thôi quốc tịch Việt Nam.
Như
vậy, việc xin thôi quốc tịch Việt Nam là hoàn toàn xuất phát từ sự tự nguyện
của công dân Việt Nam và lý do duy nhất để công dân Việt Nam xin thôi quốc tịch
Việt Nam là để nhập quốc tịch nước ngoài (hoặc đã có quốc tịch nước ngoài).
Cũng
có một số ít trường hợp đang có quốc tịch Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước
ngoài, nay tự nguyện xin thôi quốc tịch Việt Nam để được hưởng quyền lợi của
nước mà họ đang là công dân (ví dụ 1 công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch
Hoa Kỳ, nay được bổ nhiệm làm viên chức ngoại giao của Hoa Kỳ tại Hà Nội; người
này tự nguyện xin thôi quốc tịch Việt Nam).
Tuy
nhiên, không phải mọi trường hợp có đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam thì đều
được Chủ tịch nước xem xét, quyết định cho thôi quốc tịch Việt Nam. Những người
xin thôi quốc tịch Việt Nam thuộc các trường hợp sau đây sẽ chưa được thôi quốc
tịch hoặc không được thôi quốc tịch Việt Nam (khoản 2 Điều 27 Luật Quốc tịch
Việt Nam):
*
Người xin thôi quốc tịch Việt Nam chưa được thôi quốc tịch Việt Nam, nếu thuộc
một trong những trường hợp sau đây:
-
Đang nợ thuế đối với Nhà nước hoặc đang có nghĩa vụ tài sản đối với cơ quan, tổ
chức hoặc cá nhân ở Việt Nam. Trong trường hợp này, nếu cơ quan thuế hoặc cơ
quan, tổ chức là chủ nợ có văn bản yêu cầu chưa cho người đó thôi quốc tịch
Việt Nam thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ không giải quyết việc cho thôi quốc tịch
Việt Nam;
-
Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
-
Đang chấp hành bản án, quyết định của Toà án Việt Nam;
-
Đang bị tạm giam để chờ thi hành án;
-
Đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo
dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng.
Việc
quy định như trên là đảm bảo sự chặt chẽ theo quy định của pháp luật.Việc có
quốc tịch Việt Nam làm phát sinh những quyền và nghĩa vụ nhất định giữa công
dân với nhà nước, vì vậy, công dân Việt Nam cần phải giải quyết xong tất cả
những nghĩa vụ đối với cơ quan nhà nước Việt Nam, đối với tổ chức và cá nhân
Việt Nam thì mới có thể được Chủ tịch nước cho thôi quốc tịch Việt Nam.
*
Những trường hợp sau đây không được thôi quốc tịch Việt Nam:
- Người xin thôi quốc tịch Việt Nam không được
thôi quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của
Việt Nam.
-
Cán bộ, công chức và những người đang phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân
Việt Nam không được thôi quốc tịch Việt Nam.
2. Hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam
Công
dân Việt Nam có nguyện vọng xin thôi quốc tịch Việt Nam thì phải làm hồ sơ xin
thôi quốc tịch Việt Nam.
* Đối với trường hợp người xin thôi quốc
tịch Việt Nam đang cư trú ở trong nước thì hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam
bao gồm các giấy tờ sau đây:
-
Đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam; Bản khai lý lịch (mẫu Đơn xin thôi quốc tịch
Việt Nam và bản khai lý lịch của người xin thôi quốc tịch Việt Nam được ban
hành kèm theo Thông tư số 08/2010/TT-BTP ngày 25 tháng 3 năm 2010);
-
Bản sao Hộ chiếu Việt Nam, Giấy chứng
minh nhân dân hoặc một trong các giấy tờ sau đây để chứng minh quốc tịch Việt
Nam: Giấy khai sinh, trường hợp Giấy khai sinh không thể hiện rõ quốc tịch Việt
Nam thì phải kèm theo giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của cha mẹ, Quyết
định cho nhập quốc tịch Việt Nam, Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam,
Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi đối với trẻ em là người nước ngoài,
Quyết định cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi;
-
Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp. Phiếu lý lịch
tư pháp phải là phiếu được cấp không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ sơ;
-
Giấy tờ xác nhận về việc người đó đang làm thủ tục nhập quốc tịch nước ngoài.
Đây là giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận hoặc bảo đảm
cho người đó được nhập quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp pháp luật nước đó
không quy định về việc cấp giấy này. Trường hợp người xin thôi quốc tịch Việt
Nam đã có quốc tịch nước ngoài thì nộp bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân
khác do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp để chứng minh người đó đang có
quốc tịch nước ngoài;
-
Giấy xác nhận không nợ thuế do Cục thuế nơi người xin thôi quốc tịch Việt Nam
cư trú cấp;
-
Đối với người trước đây là cán bộ, công chức, viên chức hoặc phục vụ trong lực
lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã nghỉ hưu, thôi việc, bị miễn nhiệm, bãi
nhiệm, cách chức hoặc giải ngũ, phục viên chưa quá 5 năm thì còn phải nộp giấy
của cơ quan, tổ chức, đơn vị đã ra
quyết định cho nghỉ hưu, cho thôi việc, miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức hoặc
giải ngũ, phục viên xác nhận việc thôi quốc tịch Việt Nam của người đó không
phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam. Giấy xác nhận này do thủ trưởng
cơ quan, đơn vị nơi đã ra quyết định cho nghỉ hưu, cho thôi việc, miễn nhiệm,
cách chức, giải ngũ hoặc phục viên căn cứ vào quy chế của ngành để xác nhận
việc thôi quốc tịch Việt Nam của người đó không ảnh hưởng đến việc bảo vệ bí
mật quốc gia hoặc không trái với quy định của ngành đó.
* Đối với trường hợp người xin thôi quốc
tịch Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài thì hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam
bao gồm các giấy tờ sau đây:
-
Đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam; Bản khai lý lịch (mẫu Đơn xin thôi quốc tịch
Việt Nam và bản khai lý lịch của người xin thôi quốc tịch Việt Nam được ban
hành kèm theo Thông tư số 08/2010/TT-BTP ngày 25 tháng 3 năm 2010);
-
Bản sao Hộ chiếu Việt Nam, Giấy chứng
minh nhân dân hoặc một trong các giấy tờ sau đây để chứng minh quốc tịch Việt
Nam: Giấy khai sinh, trường hợp Giấy khai sinh không thể hiện rõ quốc tịch Việt
Nam thì phải kèm theo giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của cha mẹ, Quyết
định cho nhập quốc tịch Việt Nam, Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam,
Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi đối với trẻ em là người nước ngoài,
Quyết định cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi;
-
Giấy tờ xác nhận về việc người đó đang làm thủ tục nhập quốc tịch nước ngoài.
Đây là giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận hoặc bảo đảm
cho người đó được nhập quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp pháp luật nước đó
không quy định về việc cấp giấy này. Trường hợp người xin thôi quốc tịch Việt
Nam đã có quốc tịch nước ngoài thì nộp bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân
khác do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp để chứng minh người đó đang có
quốc tịch nước ngoài.
*
Các giấy tờ trong hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền
của nước ngoài cấp phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp điều ước quốc
tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác. Những
giấy tờ này cũng phải được dịch sang tiếng Việt và chứng thực theo quy định của
pháp luật Việt Nam.
Hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam phải được
lập thành 3 bộ.
Khi
nộp hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam, người xin thôi quốc tịch Việt Nam phải
nộp lệ phí; nếu nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp thì lệ phí là 2.500.000đ; nếu nộp hồ
sơ tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thì lệ phí là 200 USD.
3. Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam
Người
xin thôi quốc tịch Việt Nam nếu cư trú ở trong nước thì nộp hồ sơ cho Sở Tư
pháp nơi cư trú, nếu cư trú ở nước ngoài thì nộp hồ sơ cho cơ quan đại diện
Việt Nam ở nước sở tại.
-
Khi tiếp nhận hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam, nếu thấy hồ sơ đã đầy đủ và
hợp lệ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ ghi vào Sổ thụ lý hồ sơ, đồng thời cấp cho
người nộp hồ sơ Phiếu tiếp nhận hồ sơ theo mẫu quy định và phải đóng dấu treo
của cơ quan tiếp nhận hồ sơ. Trong trường hợp hồ sơ không đầy đủ, không hợp lệ
thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn cho người xin thôi quốc tịch Việt Nam bổ
sung, hoàn thiện hồ sơ.
*
Trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam tại
cấp tỉnh
Theo quy định tại Điều 29 Luật Quốc tịch Việt Nam,
thì thời hạn giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam trong vòng 105 ngày.
Trong đó, thời hạn xem xét, thẩm tra và có ý kiến đề xuất giải quyết việc xin
thôi quốc tịch Việt Nam tại cấp tỉnh là 70 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp nhận đủ
hồ sơ hợp lệ (đối với trường hợp được miễn thủ tục thẩm tra hồ sơ thì thời hạn
giải quyết tại UBND cấp tỉnh chỉ còn 40 ngày). Cụ thể như sau:
-
Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp có
trách nhiệm đăng thông báo về việc xin thôi quốc tịch Việt Nam trên một tờ báo
viết hoặc báo điện tử ở địa phương trong ba số liên tiếp và gửi đăng trên Trang
thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.Thông báo trên Trang thông tin điện tử phải
được lưu giữ trên đó trong thời gian ít nhất là 30 ngày, kể từ ngày đăng thông
báo. Cùng thời gian này, Sở Tư pháp gửi văn bản đề nghị cơ quan Công an cấp
tỉnh xác minh về nhân thân của người xin thôi quốc tịch Việt Nam.
-
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, cơ quan
Công an cấp tỉnh có trách nhiệm xác minh và gửi kết quả đến Sở Tư pháp. Trong
thời gian này, Sở Tư pháp phải tiến hành thẩm tra giấy tờ trong hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam.
-
Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, Sở Tư
pháp có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
-
Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, kết luận và đề xuất ý
kiến gửi Bộ Tư pháp.
* Trình tự,
thủ tục và thời hạn giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam tại các Cơ
quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
Thời hạn xem xét, thẩm tra và có ý kiến đề xuất giải
quyết việc xin thôi quốc tịch Việt Nam tại Cơ
quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài là 20 ngày, kể từ ngày Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Cụ thể:
-
Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đại
diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm đăng thông báo về việc xin thôi quốc
tịch Việt Nam trên Trang thông tin điện tử của mình.
-
Trong thời hạn 20 ngày, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm
thẩm tra và chuyển hồ sơ kèm theo ý kiến đề xuất về việc xin thôi quốc tịch
Việt Nam về Bộ Ngoại giao để chuyển đến Bộ Tư pháp.
Ngoài
ra, Thông tư số 05/2010/TTLT/BTP-BNG-BCA ngày 01/3/2010 về hướng dẫn thi hành
Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam đã có hướng
dẫn cụ thể về trách nhiệm của Sở Tư pháp và Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
trong việc thẩm tra hồ sơ, khoản 2 Điều 2 quy định: Cơ quan tiếp nhận hồ sơ
thực hiện việc thẩm tra hồ sơ nhằm kiểm tra
tính hợp pháp của các giấy tờ có trong hồ sơ và tính xác thực của các thông tin
về người xin thôi quốc tịch Việt Nam. Sở Tư pháp đề nghị cơ quan có thẩm quyền
kiểm tra, xác minh nếu thấy có những điểm chưa rõ ràng, thiếu chính xác về họ
tên, địa chỉ, quan hệ gia đình hoặc mục đích xin thôi quốc tịch Việt Nam.
Khoản 4 Điều 2 cũng quy định: Đối với hồ sơ xin thôi quốc
tịch Việt Nam, Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm phân loại thành thuộc
diện được miễn xác minh về nhân thân theo quy định tại Điều 30 Luật Quốc tịch
Việt Nam và hồ sơ thuộc diện cần phải xác minh về nhân thân. Trường hợp hồ sơ
xin thôi quốc tịch Việt Nam thuộc diện được miễn xác minh về nhân thân thì thời hạn của giấy tờ bảo đảm cho nhập quốc tịch
nước ngoài phải còn ít nhất là 120 ngày, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ; trường hợp
không được miễn thủ tục xác minh về nhân thân thì thời hạn phải còn ít nhất là
150 ngày, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ.
Bên
cạnh đó, khi gửi văn bản đề xuất ý kiến về việc giải quyết hồ sơ xin thôi quốc
tịch Việt Nam, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
gửi Bộ Tư pháp danh sách những người được đề nghị giải quyết cho thôi quốc tịch
Việt Nam vào địa chỉ thư điện tử cuả Bộ Tư pháp: quoctich@moj.gov.vn.
* Miễn thủ tục
xác minh về nhân thân
Hồ
sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam phải qua thủ tục xác minh về nhân thân của cơ
quan công an, tuy nhiên, hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam của những người
thuộc các trường hợp sau đây không phải qua thủ tục xác minh về nhân thân:
Người dưới 14 tuổi; người sinh ra và định cư ở nước ngoài; người đã định cư ở
nước ngoài từ 10 năm trở lên; người đã được xuất cảnh theo diện đoàn tụ gia
đình (Điều 30 Luật Quốc tịch Việt Nam).
Quy
định về việc miễn thủ tục thẩm tra về nhân thân cho các đối tượng nói trên là
một bước cải cách thủ tục thành chính trong lĩnh vực quốc tịch, rút ngắn thời
gian giải quyết hồ sơ.
* Trình tự,
thủ tục và thời hạn giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam tại cấp trung
ương
-
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề xuất của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh hoặc của cơ
quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ
sơ, nếu xét thấy người xin thôi quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện được thôi
quốc tịch Việt Nam thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ
ký tờ trình trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. Trong trường hợp cần
thiết, Bộ Tư pháp đề nghị Bộ Công an xác minh về nhân thân của người xin thôi
quốc tịch Việt Nam.
-
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Thủ tướng Chính phủ,
Chủ tịch nước xem xét, quyết định.
Trong
trường hợp Chủ tịch nước quyết định cho thôi quốc tịch Việt Nam, Bộ Tư pháp sẽ
thông báo quyết định của Chủ tịch nước cho người xin thôi quốc tịch Việt Nam.
Trong trường hợp người xin thôi quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài, Bộ Tư
pháp sẽ gửi bản sao Quyết định kèm theo danh sách những người được thôi quốc
tịch Việt Nam cho Bộ Ngoại giao để chuyển cho Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước
ngoài nơi đã tiếp nhận hồ sơ; đồng thời, Bộ Tư pháp đăng tải trên Trang thông
tin điện tử của Bộ Tư pháp.
Từ
ngày 01 tháng 7 năm 2009 đến nay (ngày Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 có hiệu
lực thi hành), việc giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam theo quy định
mới đã có nhiều thay đổi, số lượng hồ sơ thuộc diện phải xác minh giảm, thời
hạn giải quyết hồ sơ cũng đã được rút ngắn. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, từ
ngày 01/7/2009 đến nay, Chủ tịch nước đã ký quyết định cho thôi quốc tịch Việt
Nam đối với 14.179 người, trong đó chủ yếu là công dân Việt Nam đang cư trú tại
nước ngoài xin thôi quốc tịch Việt Nam (chiếm khoảng 98%). Trong số công dân Việt
Nam đang cư trú tại nước ngoài xin thôi quốc tịch Việt Nam thì có 9.162 công
dân đang cư trú tại Đài Loan, số này chủ yếu là phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài
Loan, nay xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch Đài Loan ổn định cuộc
sống lâu dài tại Đài Loan cùng gia đình. Còn lại, chủ yếu là công dân Việt Nam
hiện đang cư trú tại CHLB Đức, Hàn Quốc, Lào, Hồng Kông, Séc, Đan Mạch, Na
Uy…Trong thời gian gần đây, số hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam của công dân
Việt Nam đang cư trú tại Hàn Quốc cũng tăng nhanh, do số phụ nữ Việt Nam lấy
chồng Hàn Quốc trong những năm qua đến nay đã đủ điều kiện để phía Hàn Quốc xem
xét, cho nhập quốc tịch Hàn Quốc.
Có
thể nói rằng, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi
hành Luật này đã quán triệt mạnh mẽ tinh thần cải cách thủ tục hành chính của
Đảng và Nhà nước. Việc quy định cụ thể thời hạn giải quyết hồ sơ, trình tự, thủ
tục giải quyết vào luật và việc minh bạch hóa các kết quả giải quyết hồ sơ như
đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp cũng là một cách làm mới,
tạo điều kiện tối đa để người dân khắp mọi nơi dễ dàng tiếp cận những thông tin
xung quanh kết quả giải quyết của mình.
III.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ QUỐC TỊCH ĐỐI VỚI DÂN
DI CƯ TỰ DO TẠI CÁC KHU VỰC BIÊN GIỚI
1. Tình
hình người không quốc tịch cư trú ổn định ở nước ta
Theo
quan niệm quốc tế, tình trạng không quốc tịch có 2 dạng chính: 1) không
quốc tịch theo luật (de jure) nghĩa là một người không có khả năng xin được
xác nhận quốc tịch hoặc không được coi là công dân của một nước nào đó theo quy
định của luật pháp nước đó, 2) không quốc
tịch theo thực tế (de factor)
nghĩa là một người không thể có bất cứ giấy tờ gì để chứng minh quốc tịch của
mình.
Khoản 2 Điều 2 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998
đã giải thích cụm từ “người không quốc
tịch” là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước
ngoài. Thuật ngữ này vẫn tiếp tục được sử dụng lại tại khoản 2 Điều 3 Luật Quốc
tịch Việt Nam năm 2008. Quan điểm tiến bộ và chính sách nhất quản của Nhà nước
ta về hạn chế tình trạng không quốc tịch được thể hiện tại Điều 8 Luật Quốc
tịch Việt Nam năm 2008: “Nhà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo
điều kiện cho trẻ em sinh ra trên
lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch và những
người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam theo
quy định của Luật này”.
Người
không quốc tịch, người không rõ quốc tịch cư trú trên lãnh thổ Việt Nam đã có
từ lâu và vẫn còn tồn đọng từ nhiều năm nay. Số cư dân này chủ yếu tập trung ở
một số tỉnh, thành phố phía Nam, Tây Nguyên, biên giới phía Tây và phía Bắc. Do
nước ta có chung đường biên giới trên đất liền với ba nước láng giềng, qua
nhiều thời kì, những năm chiến tranh và việc đường biên giới quốc gia chậm được
phân định mốc giới nên việc di cư tự do qua biên giới đã diễn ra dễ dàng và kéo
dài, dẫn đến số dân không quốc tịch hoặc không rõ quốc tịch cư trú trên lãnh
thổ nước ta khá nhiều. Trải qua nhiều năm cư trú, làm ăn, sinh sống ổn định
trên lãnh thổ nước ta, đến nay số cư dân này đã thực sự hoà nhập vào cộng đồng xã
hội Việt Nam về mọi mặt đời sống: sản xuất, sinh hoạt, học tập, hôn nhân, làm
việc, kinh doanh... Nghề nghiệp của họ chủ yếu là làm ruộng, làm rẫy, làm thợ,
một số ít làm kinh doanh, buôn bán nhỏ. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, những người
này cũng như các con, cháu của họ chưa được hưởng các quyền công dân và cũng
không phải làm các nghĩa vụ công dân vì chưa được xác định là có quốc tịch Việt
Nam. Thực trạng này không những làm cho cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn, mà
còn làm phát sinh nhiều vấn đề phức tạp trong việc quản lý dân cư tại địa
phương, nhất là dân cư dọc biên giới.
Trong
những năm gần đây có sự điều chỉnh đường biên giới giữa nước ta với các nước
láng giềng thông qua các hiệp định về hoạch định biên giới, theo đó có một bộ
phận dân cư là công dân của nước láng giềng sau cắm mốc sinh sống ổn định trên
lãnh thổ Việt Nam. Trong hiệp định không quy định rõ số cư dân này đương nhiên
có quốc tịch Việt Nam, cho nên nếu họ muốn có quốc tịch Việt Nam (hầu hết đều
là người dân tộc, nghèo, trình độ văn hoá thấp, không hiểu biết về tình trạng
hộ tịch, quốc tịch), thì phải làm thủ tục nhập quốc tịch. Thực tế việc giải
quyết vấn đề này rất chậm vì để được nhập quốc tịch Việt Nam họ phải hội tụ đủ
các các điều kiện, phải làm thủ tục xin thôi quốc tịch gốc, phải nộp khoản lệ
phí cao so với mức thu nhập của họ. Trong số những cư dân này, có một số lượng
không nhỏ người đang trong tình trạng không có quốc tịch hoặc không rõ quốc
tịch vì bản thân họ không có giấy tờ chứng minh quốc tịch của mình và cơ quan
nhà nước cũng không có sổ gốc, tài liệu gì xác định quốc tịch của họ. Các địa
phương chưa có thống kê, phân loại đầy đủ, cụ thể danh sách những người sống ổn
định trên khu vực mới được hoạch định thành lãnh thổ Việt Nam.
Theo
nghiên cứu và báo cáo của các địa phương, có thể khái quát nguời không quốc
tịch, người không rõ quốc tịch cư trú ở nước ta thành 5 nhóm: 1) những người tị
nạn từ Campuchia đến sinh sống tại các tỉnh phía Nam, 2) những người di cư tự
do từ Lào sang Việt Nam sống dọc 10 tỉnh biên giới phía Tây, 3) những người di
cư tự do từ Campuchia đến sinh sống tại
các tỉnh phía Nam, 4) những người di cư
tự do từ Trung quốc sang Việt Nam sống tại các tỉnh biên giới phía Bắc,
5) những người đã thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài nhưng vì
nhiều lý do khác nhau họ không nhập được quốc tịch của nước đó nay họ trở về
Việt Nam sinh sống và rơi vào tình trạng không quốc tịch.
Để
thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước
về công tác quốc tịch, phục vụ việc xây dựng Luật quốc tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành,
ngày 03-6-2008, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 1707/BTP-HCTP đề nghị Uỷ ban nhân
dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo Sở Tư pháp, Công an cấp
tỉnh và các cơ quan hữu quan phối hợp tiến hành rà soát, lập danh sách những
người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch hiện đang cư trú, làm ăn
sinh sống ổn định tại địa phương từ 5 năm trở lên. Theo báo cáo thống kê không
đầy đủ của 47/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, tính đến 30-7-2008, có 9.709 người nước ngoài sống ổn định tại 47
địa phương nêu trên từ 5 năm trở lên, trong đó có 8.256 người có quốc tịch nước
ngoài công dân nước ngoài và 1.453 người không quốc tịch.
Trong
những năm qua, Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực trong việc giúp Chính phủ thực
hiện quản lý nhà nước về quốc tịch, phối hợp với các Cơ quan đại diện ngoại
giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, Uỷ ban nhân dân và Sở Tư pháp
của các tỉnh, thành phố trực trung ương đã thụ lý, xem xét, giải quyết một khối
lượng rất lớn hồ sơ xin nhập, xin thôi, xin trở lại quốc tịch Việt Nam, cấp
giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, việc giải quyết hồ sơ xin
nhập quốc tịch Việt Nam trong nhiều năm qua chưa đáp ứng được nhu cầu của người
dân, số lượng người nước ngoài, đặc biệt là số người không quốc tịch sống trên
lãnh thổ Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam là quá nhỏ so với nhu cầu thực
tế.
Điều 8 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 quy định về
hạn chế tình trạng không quốc tịch: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
tạo điều kiện cho… những người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam được nhập
quốc tịch Việt Nam”. Theo quy định tại Điều 20 của Luật năm 1998 này thì
thủ tục nhập quốc tịch Việt Nam của những người không quốc tịch cũng giống như
thủ tục đối với người nước ngoài thuần túy, không được miễn hoặc giảm về điều
kiện, thủ tục và phải nộp đầy đủ lệ phí. Trong những năm qua, một phần do quy
định của Luật Quốc tịch và các văn bản hướng dẫn Luật về điều kiện, thủ tục, trình
tự giải quyết cho nhập quốc tịch còn cứng nhắc, phức tạp; một phần do tư duy
của chúng ta về vấn đề quốc tịch còn hơi nặng nề, chặt chẽ nên không sớm đề
xuất các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết cho số cư dân này nhập
quốc tịch Việt Nam. Tính từ tháng 1 năm 1999 đến tháng 9 năm 2010, sau hơn 11
năm, Bộ Tư pháp đã làm thủ tục trình Chủ tịch nước cho phép gần 800 trường hợp
được nhập quốc tịch Việt Nam, trong số đó chủ yếu là người Trung Quốc hiện đang
sinh sống tập trung tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam và người
Campuchia tị nạn; Trong số người nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam chủ
yếu tập trung vào đối tượng là người tỵ nạn Campuchia, số này chiếm khoảng 80%,
người không quốc tịch được nhập quốc tịch Việt Nam khoảng 10%, số còn lại là
người Trung Quốc (Đài Loan), Ấn Độ, Pakistan, Pháp, Hàn Quốc… Số lượng người không quốc tịch sống ổn định
từ nhiều năm trên lãnh thổ Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam là rất ít,
nhất là đối với dân di cư tự do dọc các tỉnh biên giới phía Tây và Tây-Nam.
2. Vấn đề quốc
tịch đối với người Campuchia tị nạn
Để
giải quyết tình trạng dân di cư tự do dọc biên giới Việt Nam - Campuchia, từ
những năm 1976 đến 1889 Chính phủ Việt Nam đã cùng Cao uỷ Liên hợp quốc về người
tị nạn (UNHCR) thành lập một số trại tị nạn ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương,
Bình Phước để quản lý và giúp đỡ những người này.
Trong nhiều năm qua, Chính phủ Việt Nam đã chỉ
đạo các ngành xem xét cho những người này được nhập quốc tịch nếu họ có đủ các điều kiện theo quy định của
Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998.
Ngày 04/12/2007 Văn phòng Chính phủ có văn bản thông
báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đồng ý với đề nghị của Bộ
Ngoại giao về việc đẩy nhanh giải quyết nhập quốc tịch Việt Nam cho người
Campuchia lánh nạn trước đây. Theo đó, Bộ Ngoại giao đã đề nghị Thủ tướng Chính
phủ giao cho Bộ Tư pháp thành lập Nhóm công tác liên Bộ: Tư pháp, Ngoại giao,
Công an và một số cơ quan chức năng để lên kế hoạch cụ thể thực hiện việc đẩy
nhanh giải quyết nhập quốc tịch Việt Nam cho số người này và xử lý các vấn đề
nảy sinh.
Ngày 22 tháng 8 năm 2008, Bộ
trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 1578/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch giải quyết vấn đề quốc tịch cho người Campuchia lánh
nạn hiện đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và Bình
Phước. Đối với những trường hợp lánh nạn diệt chủng Pol Pot từ Campuchia đến
Việt Nam từ những năm 1970 đến năm 1983 mà không có giấy tờ chứng minh quốc
tịch gốc và đã từng được đăng ký tại các trại tị nạn thì sẽ được xem xét, giải
quyết cho nhập quốc tịch Việt Nam theo diện người không quốc tịch. Đối với
những trường hợp hiện đang làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận thôi quốc tịch
Campuchia (324 hồ sơ), và những trường hợp xin Giấy chứng nhận không có quốc
tịch Campuchia (75 hồ sơ), nếu phía Campuchia xác nhận được số người này là
người có quốc tịch Campuchia và cấp giấy cho thôi quốc tịch Campuchia thì phía
Việt Nam sẽ giải quyết nhập quốc tịch theo thủ tục thông thường. Trường hợp
ngược lại phía Campuchia không xác nhận hoặc không có ý kiến trả lời cụ thể thì
phía Việt Nam sẽ xem xét, trình Chủ tịch nước cho họ nhập quốc tịch Việt Nam
theo diện người không quốc tịch.
Theo kế hoạch này, Bộ Tư pháp có trách nhiệm chủ trì và phối hợp chặt chẽ với các
Bộ, ngành ở Trung ương và Uỷ ban nhân dân TP Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và
Bình Phước thúc đẩy nhanh chóng việc giải quyết vấn đề nhập quốc tịch cho người
lánh nạn Campuchia một cách thống nhất và đồng bộ theo kế hoạch; chỉ đạo và
hướng dẫn Sở Tư pháp cùng với các cơ quan liên quan ở địa phương thực hiện việc
khảo sát, thống kê, phân loại, phỏng vấn, lập hồ sơ những người có nhu cầu xin
nhập quốc tịch Việt Nam, trình cơ quan có thẩm quyền cấp trên xem xét, giải
quyết; chỉ đạo và hướng dẫn Sở Tư pháp thực hiện đăng ký kết hôn và các việc hộ
tịch khác theo các văn bản pháp luật hiện hành, đối với những trường hợp đã
được Chủ tịch nước quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam; kiểm tra, đánh giá
việc thực hiện của địa phương. Trên cơ sở đó, các cơ quan có thẩm quyền phối
hợp kịp thời để giải quyết tình trạng di cư tự do của dân Campuchia tị nạn cũng
như người không quốc tịch tại các địa phương.
Theo thống kê và báo cáo của các Sở Tư pháp phía Nam,
từ những năm 1970 đến năm 1983 có khoảng 125.000 người Campuchia tị nạn sang
Việt Nam, tập trung chủ yếu tại một số địa phương như: TP Hồ Chí Minh, Bình
Dương, Bình phước, Đồng Nai, An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh v.v... Chính phủ
Việt Nam đã chỉ đạo các địa phương, cùng với Cao ủy Liên hợp quốc về người tị
nạn (UNHCR) đã thành lập một số trại ở một số tỉnh phía Nam để quản lý và giúp
đỡ số người lánh nạn này. Sau khi Pol Pốt bị lật đổ, với sự hỗ trợ của UNHCR,
Chính phủ Việt Nam đã trao đổi với Chính phủ Campuchia thu xếp cho đa số người
tị nạn nêu trên hồi hương về Campuchia, đồng thời một số được thu xếp cho đi
tái định cư ở nước thứ ba. Số còn lại khoảng mấy nghìn người chủ yếu là người
gốc Việt Nam, gốc Campuchia và gốc Hoa vì không thể thu xếp đi định cư ở nước
thứ ba nên họ đã ở lại Việt Nam làm ăn, sinh sống.
Tuy nhiên, trong thời gian qua, mới có hơn 400 người
có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam đã được nhập quốc tịch
Việt Nam và khoảng 1000 người đang hoàn tất thủ tục cuối cùng để được nhập quốc
tịch Việt Nam. Những người còn lại chưa được nhập quốc tịch Việt Nam vì trong
quá trình làm hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam, họ khai là có quốc tịch
Campuchia nhưng lại không có giấy tờ gì để chứng minh quốc tịch Campuchia của
họ hoặc chứng minh được quốc tịch Campuchia của mình nhưng lại không thể xin
thôi quốc tịch Campuchia để nhập quốc tịch Việt Nam. Do vậy, việc giải quyết
quốc tịch cho đối tượng này cũng gặp không ít khó khăn.
3. Vấn đề
dân di cư tự do dọc biên giới Việt - Lào
Tình
trạng di cư của dân Lào và dân Việt Nam qua lại sinh sống dọc biên giới chung
của hai nước đã có từ lâu. Vấn đề người Lào, người Lào gốc Việt di cư tự do
sang cư trú ở các tỉnh giáp biên giới Việt Nam-Lào là thực trạng đã tồn tại từ nhiều năm nay và vẫn còn đang
tiếp diễn, tập trung chủ yếu ở 10 tỉnh có đường biên giới Việt - Nam: Sơn La, Điện
Biên, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng
Nam và Kon Tum. Theo Báo cáo thống kê của Uỷ ban nhân dân các tỉnh gửi Bộ Tư
pháp thì số dân di cư tự do tập trung nhiều nhất tại Quảng Trị (406 hộ/2012 nhân khẩu), Kon
Tum (383 hộ/ 1157 nhân khẩu), Nghệ An (388 hộ), Thừa Thiên Huế (112 hộ/447 nhân
khẩu).
Tình
trạng di cư tự do dọc biên giới Việt - Lào xuất phát từ nhiều nguyên nhân như
tập quán du canh, du cư lâu đời; điều kiện kinh tế ở Lào khó khăn hơn nên nhân
dân Lào di cư sang Việt Nam để làm ăn, sinh sống và do thực hiện Hiệp định
hoạch định biên giới. Hầu hết những đối tượng này đều có cuộc sống kinh tế khó
khăn, trình độ dân trí thấp, không có bất cứ giấy tờ gì để làm căn cứ xác định
nhân thân của họ, mặc du phần lớn trong số họ khai là có quốc tịch Lào, tuy
nhiên họ đếu không chứng minh được quốc tịch của mình; quan niệm về hôn nhân
còn rất đơn giản, nhiều cặp vợ chồng sống chung với nhau nhưng không đăng ký
kết hôn, sinh con đẻ cái nhưng không khai sinh cho con, con cái cũng không có giấy
khai sinh và các giấy tờ khác để có thể đi học, xin việc làm. Những người này
sống tập trung tại các xã có đường biên giới chung với Lào, có thời gian cư trú
ổn định trên lãnh thổ Việt Nam và có nguyện vọng xin nhập quốc tịch Việt Nam,
mong muốn được gắn bó lâu dài với tổ quốc Việt Nam.
Từ năm 1990 đến nay, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào đã
ký một số biên bản thỏa thuận giải quyết dân di cư tự do dọc biên giới của hai
nước.
Cuối
tháng 11/2007, trong chuyến thăm và làm việc tại CHDCNN Lào, Bộ trưởng Bộ Tư
pháp Việt Nam đã tiếp kiến Phó Thủ tướng Thường trực CHDCNN Lào và hội đàm với
Bộ trưởng Bộ Tư pháp CHDCNN Lào, qua đó Bộ trưởng Bộ Tư pháp Việt Nam đã trao
đổi thông tin và đề nghị với phía Lào phối hợp tìm biện pháp giải quyết sớm đối
với vấn đề quốc tịch cho người Việt Nam và Lào sinh sống tại các tỉnh biên giới
Việt-Lào. Hai bên đều thống nhất nội dung ưu tiên hợp tác giữa hai Bộ Tư pháp
trong thời gian tới là tập trung giải quyết vấn đề quốc tịch và hộ tịch cho đối
tượng này trên cơ sở phù hợp với pháp luật của mỗi nước, thông lệ, tập quán
quốc tế và mối quan hệ hữu nghị, truyền thống đặc biệt của hai nước.
Ngày
03/6/2008, Bộ Tư pháp có Công văn 1707/TP-HCTP đề nghị Uỷ ban nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (trong đó bao gồm cả các tỉnh dọc biên
giới Việt Nam - Lào) chỉ đạo các Sở Tư pháp phối hợp với Công an cấp tỉnh và
các cơ quan có liên quan tiến hành rà soát, lập danh sách thống kê những người
có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch hiện đang cư trú ổn định tại địa
phương từ 05 năm trở lên. Cho đến cuối năm 2008 đã có hơn 40 tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương gửi báo cáo kết quả về Bộ Tư pháp.
Bộ
Tư pháp cũng đã cử cán bộ cấp vụ tham gia Nhóm công tác liên hợp giải quyết vấn
đề dân di cư tự do và kết hôn không giá thú trong khu vực biên giới Việt Nam -
Lào; tham gia ý kiến và thẩm định dự thảo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về
việc giải quyết tình trạng di cư tự do, vượt biên trái phép và kết hôn không
giá thú ở khu vực biên giới của hai nước.
Ngày 20/10/2008, Thủ tướng Chính
phủ đã ký ban hành Chỉ thị số 31/2008/CT-TTg về việc giải quyết tình trạng di
cư tự do, vượt biên trái phép và nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng
chưa đăng ký kết hôn dọc khu vực biên giới Việt Nam - Lào. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ,
Bộ Tư pháp đã có Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 31/2008/CT-TTg của
Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quyết định số 500/QĐ-BTP ngày 04/3/2009
của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ngày 04/3/2009, Bộ trưởng Bộ Tư
pháp đã ký Quyết định số 500/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ
thị này.
Ngày
07/5/2009, Bộ Tư pháp có Công văn số 1430/BTP-HCTP hướng dẫn Uỷ ban nhân dân
các tỉnh có chung đường biên giới với Lào thực hiện một số nội dung về việc
nhập quốc tịch Việt Nam đối với số người Lào di cư tự do và rà soát, hệ thống
hoá các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương liên quan đến giải quyết tình
trạng di cư tự do, vượt biên trái phép và nam nữ sống chung với nhau như vợ
chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn ở khu vực biên giới Việt Nam – Lào. (Kèm theo các mẫu giấy tờ làm hồ sơ xin nhập
quốc tịch Việt Nam và mẫu Báo cáo rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp
luật)
Ngày 07/5/2009, Bộ Tư pháp có Công văn số
1431/BTP-HCTP về việc cử cán bộ tham gia Nhóm rà soát, hệ thống hoá văn bản quy
phạm pháp luật thực hiện Chỉ thị số 31/2008//CT-TTg.
Ngày 26/3/2010, Bộ Tư pháp có Công văn số
792/BTP-HCTP về việc báo cáo kết quả triển khai thực hiện Kế hoạch triển khai
Chỉ thị số 31/2008/CT-TTg
Ngày
29/4/2010, Bộ Tư pháp có Công văn số 1206/BTP-HCTP về việc cử cán bộ tham gia
Nhóm công tác liên hợp giải quyết các vấn đề di cư tự do, vượt biên trái phép
và nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn ở khu vực
biên giới Việt Nam – Lào (gồm Vụ Hành chính tư pháp, Vụ Hợp tác quốc
tế, Vụ Pháp luật quốc tế - Bộ Tư pháp, Cục Lãnh sự, Ủy ban về người Việt Nam ở
nước ngoài -Bộ Ngoại giao, Vụ Pháp chế - Bộ Công an, Vụ Pháp chế - Ủy ban dân
tộc).
Ngày 11/9/2010, Bộ Tư pháp có văn bản số 3197/BTP-HCTP
gửi Văn phòng Chính phủ góp ý kiến về đề xuất của Bộ Ngoại giao để Thủ tướng có
văn bản tiếp tục chỉ đạo các Bộ Ngành, các tỉnh biên giới liên quan trong đó
nhấn mạnh cần có biện pháp thiết thực, thành lập các Tổ công tác liên ngành (Tư
pháp, Công An, Ngoại Vụ, Biên Phòng, UBND huyện, xã) lưu động đến tận địa bàn
huyện, xã để khảo sát, thống kê, phân loại, tuyên truyền, vận động và hướng
dẫn, hỗ trợ bà con làm hồ sơ xin đăng ký hộ tịch, xin nhập quốc tịch Việt Nam
theo hướng đơn giản hóa thủ tục và miễn một số điều kiện đã được pháp luật về
hộ tịch, quốc tịch quy định, nhất là chỉ đạo Bộ Tài chính ưu tiên hỗ trợ kinh
phí cho 10 tỉnh biên giới với Lào, trước mắt là cho tỉnh Nghệ An và Kon Tum để
triển khai các hoạt động của Tổ công tác liên ngành lưu động và đón nhận số bà
con không được phép cư trú tại Lào, thuộc đối tượng phải chuyển giao về Việt
Nam, tổ chức cuộc sống, hỗ trợ kinh phí để bà con tái thiết nhà cửa, khôi phục
sản xuất ngay sau khi trở về Việt Nam. Do xuất phát từ hoàn cảnh đặc biệt nên hầu hết họ
đều là dân nghèo nên Chính phủ Việt Nam miễn
lệ phí cho họ, tạo điều kiện thuận lợi để họ có quốc tịch, có các giấy tờ về hộ
tịch để ổn định cuộc sống trên lãnh thổ Việt Nam, cụ thể: những người Lào di cư sang Việt Nam mà có nguyện vọng xin nhập quốc tịch Việt Nam đã được phép cư
trú ổn định trước ngày 01/01/2009 được miễn lệ phí theo quy định tại Khoản 4
Điều 2 Thông tư số 146/2009/TT-BTC ngày 20/7/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn
chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng lệ phí giải quyết các việc liên quan đến
quốc tịch.
Đối với số dân di cư từ Lào sang
Việt Nam, có nguyện vọng nhập quốc tịch Việt Nam, nhất trí sẽ báo cáo Chính phủ
mỗi nước xem xét, quyết định cho họ được nhập quốc tịch theo nguyên tắc sau:
-
Đối với những người có giấy tờ khẳng định họ có quốc tịch Lào thì họ phải làm
đầy đủ thủ tục xin thôi quốc tịch Lào để được nhập quốc tịch Việt Nam.
-
Đối với những người không có giấy tờ khẳng định họ có quốc tịch Lào hoặc quốc
tịch một nước thứ ba, phía Việt Nam sẽ có công hàm gửi Đại sứ quán Lào tại Việt
Nam đề nghị phía Lào trong thời hạn 06 tháng trả lời bằng văn khẳng định họ
không có quốc tịch Lào, phía Việt Nam sẽ xem xét cho phép những người này được
nhập quốc tịch Việt Nam như đối với những người không quốc tịch hoặc tình trạng
quốc tịch không rõ ràng.
Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với Bộ
ngoại giao cùng với các Bộ ngành, địa phương và các cơ quan hữu quan của phía
Lào tích cực tham gia các hoạt động của Nhóm công tác liên hợp Việt - Lào xây
dựng chương trình và hướng dẫn địa phương giải quyết ở 2 cặp tỉnh thí điểm Kon
Tum - Sê Kông và Nghệ An -Bô Li Khăm xay trong quý 4 năm 2010; đồng thời chủ
trì và phối hợp chặt chẽ với các bộ ngành và chính quyền địa phương các tỉnh
biên giới thúc đẩy nhanh việc giải quyết nhập quốc tịch và đăng ký hộ tịch cho
dân di cư tại khu vực biên giới Việt- Lào theo từng cặp tỉnh còn lại; chỉ đạo
và hướng dẫn Sở Tư pháp thực hiện việc đăng
ký hộ tịch đối với những người dân di cư kết hôn không giá thú đã cư trú ổn
định tại các tỉnh biên giới của mỗi nước; tiếp nhận giải quyết hồ sơ xin nhập
quốc tịch và thực hiện đăng ký kết hôn và các việc hộ tịch khác; liên hệ với Cơ
quan đại diện ngoại giao và Bộ Tư pháp của phía bên kia về danh sách số người
Lào được phép ở lại xin nhập quốc tịch Việt Nam cũng như số người Việt Nam được
phép ở lại xin nhập quốc tịch Lào và hoàn tất thủ tục trình cấp có thẩm quyền
của hai nước xem xét, quyết định cho nhập quốc tịch trên nguyên tắc có đi, có
lại, phù hợp với quy định pháp luật của mỗi nước và thông lệ, tập quán quốc tế.
Để
giải quyết dứt điểm tình trạng dân di cư tự do tại các địa phương, đặc biệt là
dân di cư từ Lào và Campuchia như đã nêu trên, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008
ra đời là công cụ pháp lý hữu hiệu và đáp ứng yêu cầu của cuộc sống một cách
kịp thời. Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã đưa ra chế định: “Người không quốc tịch mà không có đầy đủ
giấy tờ về nhân thân, nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ hai mươi
năm trở lên tính đến ngày Luật này có hiệu lực và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật
Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục và hồ sơ do
Chính phủ quy định”(Điều 22).
Đây
là quy định mang tính chất chuyển tiếp, được thực hiện trong vòng 03 năm, nhằm
giải quyết dứt điểm một lần những tồn đọng về tình trạng người không quốc tịch
làm ăn, sinh sống ổn định trên toàn lãnh thổ Việt Nam; đảm bảo quyền có quốc
tịch của mỗi cá nhân, hạn chế tình trạng không quốc tịch; đồng thời xác định rõ
ràng trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan trong việc quản lý, giải quyết các
việc về quốc tịch.
Với
quy định này, đối tượng điều chỉnh là những người không có đầy đủ các giấy tờ
chứng minh Việt Nam hoặc quốc tịch nước ngoài, đã cư trú ổn định trên lãnh thổ
Việt Nam từ 20 năm trở lên tính đến ngày 01/7/2009, tuân thủ Hiến pháp, pháp
luật Việt Nam và có nguyện vọng xin nhập quốc tịch Việt Nam.
Trên
cơ sở quy định này, ngày 18/10/2010, Bộ Tư pháp có Công văn số 3701/BTP-HCTP đôn
đốc và hướng dẫn Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây
dựng và triển khai kế hoạch thực hiện Điều 22 Luật Quốc tịch Việt Nam (Theo báo
cáo của các địa phương, số người không quốc tịch này chủ yếu là những người
sinh sống dọc biên giới Việt – Lào và người Campuchia tị nạn), trong đó cũng hướng
dẫn cụ thể đối với những khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng cao, Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở Tư pháp chủ trì tổ chức các Tổ công tác lưu động
với sự tham gia của cán bộ, công chức cơ quan Công an, Sở Ngoại vụ, Bộ đội biên
phòng (nếu có), Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã đến tận địa
bàn dân cư để tuyên truyền, rà soát, thống kê, hướng dẫn kê khai, hỗ trợ người
dân làm đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam và lập hồ sơ xin nhập quốc tịch
Việt Nam; chỉ đạo Cơ quan Công an chủ trì phối hợp với Sở Tư pháp và các cơ
quan hữu quan tại địa phương khi xác minh về nhân thân và thời gian cư trú của
người không quốc tịch theo hướng dẫn tại Điều 7 Thông tư liên tịch số
05/2010/TTLT/BTP-BNG-BCA ngày 01/3/2010 tiến hành theo danh sách của từng đợt
và việc xác minh tất cả những người trong cùng một đợt phải được thực hiện
trong thời gian ngắn nhất, phù hợp với điều kiện của từng địa
phương.
Như
vậy, bên cạnh Kế hoạch giải quyết vấn đề quốc tịch cho người Campuchia lánh nạn
hiện đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và Bình Phước và
Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số
31/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Luật Quốc tịch Việt Nam đã được Quốc
hội ban hành kịp thời giải quyết được vấn đề tồn đọng từ trước tới nay, quốc
tịch của dân di cư tự do dọc biên giới Việt - Lào và người Campuchia tị nạn đã
và đang được giải quyết một cách cơ bản và triệt để, hạn chế tình trạng dân di
cư tự do, không có quốc tịch, không có giấy tờ về nhân thân. Giải quyết được
vấn đề này, một mặt, cuộc sống của những đối tượng này dần đi vào ổn định, nâng
cao chất lương cuộc sống, mặt khác, giúp cho các cơ quan có thẩm quyền quản lý
được dễ dàng người dân sinh sống tại địa phương.
4. Về thi hành Điều 22 Luật quốc tịch
Việt Nam năm 2008
Luật
Quốc tịch Việt Nam năm 2008 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2009 có một số
điều quy định về giải quyết nhập quốc tịch Việt Nam cho những người không quốc
tịch theo hướng đơn giản hoá thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có
cuộc sống ổn định lâu dài từ 20 năm trở lên, đã hoà nhập tốt với cộng đồng xã
hội Việt Nam, để họ nhanh chóng ổn định cuộc sống, được hưởng đầy đủ quyền công
dân và có điều kiện để làm nghĩa vụ của họ đối với tổ quốc Việt Nam, tạo thuận
lợi cho việc quản lý nhà nước về dân cư ở các vùng biên giới, giữ gìn và phát
triển quan hệ quốc tế với các nước láng giềng có chung đường biên giới với nước
ta.
Trong những năm
gần đây, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan và địa phương cố
gắng giải quyết các vấn đề quốc tịch, hộ tịch, hộ khẩu để trên cơ sở đó giải
quyết các chính sách về y tế, giáo dục cho số cư dân này, nhưng kết quả còn rất
hạn chế. Để bảo đảm thực hiện nguyên tắc một quốc tịch, Luật quốc tịch năm 1998
và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định rất chặt chẽ về điều kiện, thủ
tục, trình tự giải quyết cho nhập quốc tịch Việt Nam, không phù hợp với hoàn
cảnh và điều kiện thực tế của số cư dân này. Thêm vào đó, do chúng ta bị gò bó,
không thể thoát ra khỏi tư duy một quốc tịch nên gặp nhiều khó khăn trong việc
tìm ra các giải pháp giải quyết cho số cư dân này nhập quốc tịch Việt Nam. Năm
2003, theo đề nghị của Uỷ ban nhân dân tỉnh Gia Lai, Bộ Tư pháp đã thống nhất ý
kiến với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao và báo cáo Chính phủ cho phép thực hiện thí
điểm đăng ký hộ tịch để xác định quốc tịch cho hơn 2.000 người thuộc loại này ở
Gia Lai, kết quả đạt được rất tốt. Kinh nghiệm thực tiễn này đã được khái quát
thành quy định của Luật để có thể áp dụng trong phạm vi toàn quốc.
Từ những năm chín mươi của thế kỷ XX, có khoảng 46.000
Việt kiều từ Campuchia trở về sinh sống tại một số tỉnh phía Nam (chủ yếu tập
trung ở một số tỉnh như An Giang, Sóc Trăng, Tây Ninh... ) không có các giấy tờ
tuỳ thân để chứng minh quốc tịch, đã làm
cho công tác quản lý của các cơ quan nhà nước gặp không ít khó khăn, phức tạp
trong khoảng thời gian dài, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích
hợp pháp của bản thân những người này cũng như của cả gia đình họ. Trước tình
hình đó, để giúp người dân sớm ổn định cuộc sống tại Việt Nam cũng như để đảm
bảo công tác quản lý nhà nước, ổn định tình hình an ninh chính trị tại các địa
phương, trong năm 2005 Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao chỉ
đạo các tỉnh, thành phố rà soát, lập danh sách và tiến hành giải quyết vấn đề
quốc tịch thông qua việc đăng ký hộ tịch cho số Việt kiều này. Cho đến nay, về
cơ bản số Việt kiều nêu trên đã được đăng ký hộ tịch và qua đó xác định quốc
tịch Việt Nam. Trên cơ sở các giấy tờ về hộ tịch, cơ quan Công an tiến hành cấp
Sổ hộ khẩu và Giấy chứng minh nhân dân cho họ.
Số phụ nữ Campuchia lấy chồng là
bộ đội tình nguyện Việt Nam tuy không nhiều (khoảng mấy chục trường hợp) nhưng
việc giải quyết cho những trường hợp này được nhập quốc tịch Việt Nam có ý
nghĩa lớn về mặt tinh thần đối với họ. Bộ Tư pháp đã chỉ đạo các tỉnh, thành
phố tiến hành rà soát và lập danh sách những trường hợp này và giải quyết nhập
quốc tịch Việt Nam cho họ với tinh thần đơn giản hoá thủ tục và miễm giảm lệ
phí để giúp họ nhanh chóng hoà nhập cuộc sống tại Việt Nam. Về cơ bản, các địa
phương đã làm tốt công tác này.
Như
đã nêu ở trên, cho đến nay, người không quốc tịch, người không rõ quốc tịch cư
trú trên lãnh thổ nước ta vẫn còn tồn đọng. Để giải quyết thực tế này, Điều 22 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy
định: “Người không quốc tịch mà không có
đầy đủ các giấy tờ về nhân thân, nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam
từ hai mươi năm trở lên tính đến ngày Luật này có hiệu lực và tuân thủ Hiến
pháp, pháp luật Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự,
thủ tục và hồ sơ do Chính phủ quy định”. Đây là một bộ phận khá đông dân cư
do nhiều lý do khác nhau (tị nạn chiến tranh, di canh, di cư, kết hôn) vào nước
ta từ trước ngày 01-7-1989, sinh sống ở các tỉnh biên giới với Campuchia, Lào,
Trung Quốc, một số bà con đã di chuyển vào các tỉnh, thành phố sâu trong lãnh
thổ Việt Nam như Bà Rịa-Vũng Tầu, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải phòng,
Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế….. Hầu hết trong số đó đã có cuộc sống ổn định, đã có
thời gian khá lâu sống hòa nhập với cộng đồng xã hội Việt Nam mà không có giấy
tờ về nhân thân để chứng minh quốc tịch của mình. Quá trình làm ăn, sinh sống,
họ đều chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và
Nhà nước ta. Vì vậy, số cư dân này được coi là đối tượng ưu tiên, được giảm bớt
một số điều kiện, khi làm hồ sơ, thủ tục xin nhập quốc tịch Việt Nam và quá
trình giải quyết được thực hiện theo trình tự đơn giản hơn. Quốc hội giao cho
Chính phủ sẽ thông qua một Nghị định để quy định trình tự, thủ tục và hồ sơ xin
nhập quốc tịch Việt Nam theo hướng giảm các khâu trung gian trong quy trình
giải quyết công việc, đơn giản hóa các thủ tục, thời gian giải quyết hồ sơ nhập
quốc tịch sẽ nhanh hơn, các giấy tờ trong hồ sơ cũng được giảm bớt đến mức tối
thiểu, chỉ
gồm Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam và Bản khai lý lịch theo mẫu do Bộ Tư pháp
quy định, không nhất thiết phải nộp chứng
chỉ tiếng Việt, giấy tờ tùy thân, bản sao thẻ thường trú, giấy tờ chứng minh
đảm bảo cuộc sống ở Việt Nam. Để tạo thuận lợi cho người dân, hồ sơ xin nhập
quốc tịch được giải quyết theo yêu cầu cá nhân, theo từng đợt với danh sách tập
thể hoặc theo danh sách của gia đình, các đối tượng này đều được miễn lệ phí
quốc tịch.
Để
được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục ưu tiên đặc biệt nêu trên,
điều rất quan trọng là chỉ giới hạn đối với những người tính đến ngày 01 tháng
7 năm 2009 đã cư trú ổn định ở Việt Nam được 20 năm thì mới thuộc đối tượng
được xem xét cho nhập quốc tịch theo quy định này. Số người này với nhiều năm
cư trú, làm ăn sinh sống ổn định trên lãnh thổ nước ta, đến nay đã thực sự hoà
nhập vào cộng đồng người Việt về mọi mặt đời sống. Vì vậy, việc tạo điều kiện
thuận lợi cho nhập quốc tịch của những đối tượng này là hoàn toàn phù hợp với
chính sách của Nhà nước ta. Tuy nhiên, khi giải quyết những hồ sơ xin nhập quốc
tịch Việt Nam thuộc diện này cần đảm bảo nhanh gọn, thuận lợi, nhưng hồ sơ của
họ vẫn phải trên cơ sở sự tự nguyện của đượng sự và qua trình tự, thủ tục xem
xét, thẩm định rất chặt chẽ của các cơ quan khác nhau như Sở Tư pháp, Công an
cấp tỉnh, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chủ tịch nước sau đó mới được trình lên Chủ
tịch nước xem xét, quyết định. Theo Điều 8 Nghị định số 78/2009/NĐ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008, việc giải quyết việc nhập quốc tịch
Việt Nam theo quy định của Điều 22 Luật này như sau:
Về đối tượng: Người không quốc
tịch phải đáp ứng được các điều kiện: 1)
không có đầy đủ các giấy tờ về
nhân thân, 2) đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên tính
đến ngày Luật có hiệu lực, 3)tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam.
Về hồ sơ: hồ sơ xin nhập quốc
tịch Việt Nam chỉ bao gồm Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam và Bản khai lý lịch
theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định.
Về trình tự giải quyết hồ sơ: Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở Tư pháp phối hợp với cơ quan Công an cấp tỉnh,
Sở Ngoại vụ và Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hướng
dẫn Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức việc rà soát, lập danh sách, hỗ trợ làm hồ
sơ, xác minh về nhân thân của người xin nhập quốc tịch Việt Nam. Uỷ ban nhân
dân cấp huyện xem xét danh sách và hồ sơ xin nhập quốc tịch và đề nghị Sở Tư
pháp giải quyết việc cho nhập quốc tịch Việt Nam. Sở Tư pháp phối hợp với cơ
quan Công an cấp tỉnh, Sở Ngoại vụ thẩm định, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, kết luận và đề xuất về
việc xin nhập quốc tịch Việt Nam của những người trong danh sách và gửi Bộ Tư
pháp; Căn cứ vào danh sách và hồ sơ do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đề xuất, Bộ
trưởng Bộ Tư pháp thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ ký Tờ trình kèm theo Danh sách
và hồ sơ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. Trong trường hợp cần thiết,
Bộ Tư pháp trao đổi với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao trước khi trình Chủ tịch
nước.
Về thời hạn nộp hồ sơ: đến hết
ngày 31 tháng 12 năm 2012. Cần thiết phải có một thời hạn khá dài (khoảng 3
năm) để thực hiện việc tuyên truyền trong các cộng đồng dân cư cho nguời dân
hiểu được ý nghĩa của việc có quốc tịch, hiểu được chính sách và sự quan tâm
tạo đièu kiện của Nhà nước Việt Nam, các cơ quan ở địa phương cũng cần có thời
gian để rà soát, thống kê, phân loại đối tượng, hướng dẫn bà con hoàn chỉnh hồ
sơ và phối hợp giải quyết theo từng đợt, tránh không để sót người trong diện có
nguyện vọng muốn trở thành công dân Việt Nam.
Về sự phối hợp giải
quyết: Bộ Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao hướng
dẫn Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc xây dựng kế hoạch rà soát, lập danh
sách và hỗ trợ việc giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam cho những
người thuộc diện này.
Về lệ phí: theo quy định
tại điểm c khoản 2 Điều 4 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/9/2009
và tại khoản 3 Điều 2 Thông tư số
146/2009/TT-BTC ngày 20-7-2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu nộp và
quản lý sử dụng lệ phí giải quyết các việc liên quan đến quốc tịch, thì đối
tượng người không quốc tịch theo quy định tại Điều 22 Luật quốc tịch năm 2008
khi làm hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam được miễn lệ phí. Cơ quan tiếp nhận
hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam căn cứ vào quy định của Bộ Tài chính để quyết
định việc miễn lệ phí cho từng trường hợp cụ thể.
Vì Điều 22 Luật quốc tịch là quy định mang tính chuyển tiếp, được thực
hiện trong vòng khoảng 3 năm, để giải quyết những trường hợp tồn đọng lâu nay,
nhằm bảo đảm quyền có quốc tịch của mỗi cá nhân, hạn chế tình trạng không quốc
tịch được quy định trong Luật quốc tịch. Do vậy, khoản 3 Điều 8 Nghị định số
78/2009/NĐ-CP quy định thời hạn nộp hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam cho những
người không quốc tịch theo quy định tại Điều 22 Luật quốc tịch là đến hết ngày
31 tháng 12 năm 2012. Đối với những người này mà hết hạn vẫn chưa nộp hồ sơ,
nếu có nguyện vọng nhập quốc tịch Việt Nam, thì việc nhập quốc tịch Việt Nam
của họ được giải quyết theo quy định tại các điều 19, 20 và 21 Luật Quốc tịch
Việt Nam (thủ tục nhập quốc tịch thông thường cho người nước ngoài và người
không quốc tịch).
Còn đối với những người không
quốc tịch, kể cả những người di cư tự do tại các tỉnh có biên giới với Trung
quốc, Lào, Campuchia cư trú ổn định tại
Việt Nam chưa đủ 20 năm tính đến ngày Luật quốc tịch năm 2008 có hiệu lực hoặc
cư trú một thời gian dài sau ngày Luật này có hiệu lực nếu có nguyện vọng xin
nhập quốc tịch Việt Nam sẽ được xem xét cho nhập quốc tịch Việt Nam theo thủ
tục thông thường quy định tại các điều 19, 20 và 21 Luật Quốc tịch Việt Nam.
Ngày 18/10/2010, sau khi thống nhất ý kiến
với Bộ Ngoại giao và Bộ Công an, Bộ Tư pháp đã có công văn số
3701/BTP-HCTP về việc đôn đốc triển khai thực hiện Điều 22 gửi Ủy ban
nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh) và Bộ Ngoại giao, Bộ Công an - các cơ quan phối
hợp. Tại Công văn này, Bộ Tư pháp đôn đốc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
khẩn trương triển khai kế hoạch thực hiện Điều 22 Luật Quốc tịch Việt
Nam theo trình tự, thủ tục và hồ sơ được quy định tại Điều 8 Nghị định số
78/2009/NĐ-CP và được hướng dẫn chi tiết tại Điều 7 Thông tư liên tịch số
05/2010/TTLT/BTP-BNG-BCA với những việc cụ thể như:
- Chỉ đạo nhiệm vụ cho Sở Tư
pháp trong việc phối hợp với các cơ quan hữu quan như Công an, Ngoại
vụ, Bộ đội biên phòng (nếu có) xây dựng kế hoạch trình Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh;
- Phối hợp với Ủy ban nhân dân
cấp huyện hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã rà soát, lập danh sách những người
đủ điều kiện quy định tại Điều 22 Luật Quốc tịch Việt Nam;
- Chủ động tổ chức các Tổ
công tác lưu động với sự tham gia của cán bộ, công chức cơ quan Công an, Sở
Ngoại vụ, Bộ đội biên phòng (nếu có), Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân
dân cấp xã đến tận địa bàn dân cư để tuyên truyền, rà soát, thống kê, hướng dẫn
kê khai, hỗ trợ người dân làm đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam và lập hồ sơ xin
nhập quốc tịch Việt Nam.
- Chỉ đạo cơ quan Công an chủ
trì phối hợp với Sở Tư pháp và các cơ quan hữu quan tại địa phương khi xác minh
về nhân thân và thời gian cư trú của người không quốc tịch theo hướng dẫn tại
Điều 7 Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT/BTP-BNG-BCA ngày 01/3/2010 tiến hành
theo danh sách của từng đợt và việc xác minh tất cả những người trong cùng một
đợt phải được thực hiện trong thời gian ngắn nhất, phù hợp với điều
kiện của từng địa phương;
- Báo cáo cụ thể về tình
hình thực hiện cũng như những khó khăn vướng mắc gặp phải khi triển
khai thực hiện quy định này để Bộ Tư pháp phối hợp với các Bộ,
ngành thống nhất hướng dẫn, giải quyết kịp thời hoặc tổng hợp tình
hình của các địa phương trình Thủ tướng Chính phủ có chỉ đạo giải
quyết.
Tóm lại, hiện nay, khi chúng ta
đang trong bối cảnh chuẩn bị bước sang giai đoạn vượt ra khỏi tình trạng kém
phát triển, hội nhập quốc tế, Luật Quốc tịch Việt Nam được Quốc hội thông qua
sẽ khắc phục được những điểm hạn chế của Luật Quốc tịch năm 1998, qua đó thể
hiện rõ chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quốc tịch là phát huy truyền
thống nguyên tắc một quốc tịch, hạn chế tình trạng hai hay nhiều quốc tịch đối
với công dân sống trên lãnh thổ Việt Nam; tăng cường hiệu quả, hiệu lực quản lý
nhà nước đối với công tác quốc tịch; thiết lập cơ chế giải quyết những tồn đọng
về tình trạng người không quốc tịch, làm ăn, sinh sống ổn định trên lãnh thổ
Việt Nam; xác định cụ thể trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan trong việc
quản lý, giải quyết các việc về quốc tịch, kế thừa và cụ thể hoá những quy định
về trình tự, thủ tục giải quyết các vấn đề về quốc tịch, xây dựng cơ chế tháo
gỡ những vướng mắc, tồn đọng trong thực tiễn giải quyết các công việc về quốc
tịch. Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta, với sự chỉ đạo kiên quyết, kịp
thời của thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với các bộ ngành và địa
phương, đồng thời quan hệ hợp tác với các nước có chung đường biên giới nhanh
chóng thực hiện có hiệu quả các kế hoạch giải quyết việc nhập quốc tịch Việt
Nam cho những đối tượng người không quốc tịch đã sống ổn định tại các địa
phương, đưa Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 đi vào cuộc sống.
IV. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG
KÝ GIỮ QUỐC TỊCH VIỆT NAM THEO LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM NĂM 2008
Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 được Quốc hội thông qua là bước tiến quan
trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về quốc tịch của nước ta có nhiều điểm
mới so với Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998. Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đáp
ứng được nguyện vọng của nhân dân Việt Nam nói chung cũng như người Việt Nam định
cư ở nước ngoài nói riêng, đã thể chế hoá đầy đủ chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước ta về quốc tịch Việt Nam, đặc biệt là Nghị quyết số 36-NQ/TW
ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài;
tăng cường và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quốc tịch, bảo hộ và bảo vệ
một cách có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam sinh sống
ở nước ngoài.
1. Tình hình đăng ký giữ
quốc tịch Việt Nam
Bên cạnh các quy định
liên quan đến quyền và nghĩa vụ pháp lý của người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng đã
quy định thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam nhằm tăng cường công tác quản
lý Nhà nước về quốc tịch, tạo mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước và công dân Việt
Nam. Khoản 2 Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam quy định: “Người Việt Nam định cư
ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt
Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và trong
thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, phải đăng ký với cơ quan đại
diện Việt Nam ở nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam”.
Thời hạn 05 năm này là để giải quyết những tồn đọng do lịch sử để lại. Hiện
trong số những người Việt Nam định cư ở nước ngoài, nhiều người mặc dù đã có
quốc tịch nước ngoài nhưng họ vẫn muốn giữ quốc tịch Việt Nam. Do vậy, quy định
về đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam là rất cần thiết. Việc đăng ký giữ quốc tịch được
thực hiện đến hết ngày 01 tháng 7 năm 2014. Hết thời hạn này, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam, nếu không đăng ký giữ quốc tịch
Việt Nam thì mất quốc tịch Việt Nam. Sau thời điểm này, nếu họ muốn có quốc
tịch Việt Nam thì phải làm thủ tục xin trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định
của pháp luật quốc tịch Việt Nam hiện hành.
Hiện nay, theo báo cáo
của Bộ Ngoại giao thì có khoảng 3.600.000 người Việt Nam đang sinh sống, định cư
ở nước ngoài. Họ cư trú ở gần 90 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó, tập trung chủ yếu ở
21 quốc gia thuộc các khu vực: Bắc Mỹ, Tây Bắc Âu, Nga và Đông Âu, Đông Nam Á,
Đông Bắc Á và Châu Úc. Một số khu vực khác như Nam và Tây Á, Trung Đông, Châu
Phi và Nam Phi tuy cũng có người Việt Nam làm ăn, sinh sống nhưng số lượng
không đáng kể.
Theo số liệu thống kê cụ
thể của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, khoảng 80% người Việt Nam đang
làm ăn, sinh sống tại các nước phát triển, tập trung đông nhất là ở Mỹ (1,5
triệu người), Pháp (300.000 người), Canađa (250.000 người), Úc (245.000 người).
Ở các nước Đông Âu (Nga), Các nước Châu Á (Campuchia, Thái Lan, Lào) mỗi nước
có khoảng 100.000 người Việt Nam sinh sống.
Tuy nhiên, do không xác định
được những ai trong số 3.600.000 người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang còn
giữ quốc tịch Việt Nam nên công tác quản lý quốc tịch, quản lý công dân, cấp hộ
chiếu, xác nhận có quốc tịch Việt Nam cũng như thực hiện nhiệm vụ bảo hộ công
dân của Nhà nước ta ở nước ngoài gặp nhiều khó khăn.
Mặt khác, hiện nay, Nhà nước
ta đang và sẽ tiếp tục có những chính sách cụ thể cho công dân Việt Nam định cư
ở nước ngoài khi về nước được hưởng một số quyền như công dân Việt Nam ở trong
nước như miễn thị thực, mua nhà ở… Một số người sẽ lợi dụng chính sách ưu đãi
trong nước để được hưởng một số quyền như công dân Việt Nam ở trong nước, họ
chỉ quan tâm đến quốc tịch nước sở tại của mình, chỉ khi nào có quyền, lợi ích
liên quan ở Việt Nam thì họ mới quan tâm đến quốc tịch Việt Nam của họ. Do đó, đăng
ký giữ quốc tịch là quy định có ý nghĩa thời sự. Việc đăng ký giữ quốc tịch
Việt Nam được cho là giải pháp cụ thể để Nhà nước có thể xác định được những ai
trong số hơn 3 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn muốn giữ quốc tịch
Việt Nam, qua đó xác định rõ tình trạng quốc tịch của họ, tạo điều kiện để làm
tốt công tác quản lý về quốc tịch, thực hiện nhiệm vụ bảo hộ công dân Việt Nam định
cư ở nước ngoài. Theo ước tính của Bộ ngoại giao, hiện có khoảng 70% số kiều
bào đang định cư ở nước ngoài còn có quốc tịch Việt Nam và cho đến ngày
01/9/2010 đã có 291 người Việt Nam định cư ở nước ngoài đến làm thủ tục đăng ký
giữ quốc tịch Việt Nam tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, Luật Quốc tịch Việt
Nam năm 2008 đã có quy định mở hơn, tạo cơ chế pháp lý thuận lợi để có thể công
nhận tình trạng hai quốc tịch của công dân Việt Nam trong một số trường hợp
nhất định “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt
Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này quy định
khác”. Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã chấm dứt tình trạng không rõ
ràng về quốc tịch Việt Nam từ trước tới nay. Để đảm bảo cho quy định này được
thực hiện thống nhất và có hiệu quả, Quốc hội đã giao cho Chính phủ quy định
trình tự, thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.
2. Trình tự,
thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam
Trình tự, thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam được
quy định cụ thể tại Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính phủ về
việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch
Việt Nam và Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT/BTP-BNG-BCA ngày 01/3/2010.
Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính
phủ đã quy định cụ thể, rõ ràng về đối tượng đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, cơ
quan có thẩm quyền về đăng ký giữ quốc tịch và trình tự thủ tục đăng ký giữ
quốc tịch Việt Nam.
Về đối tượng đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam:
Điều 18 Nghị định đã quy định cụ thể hơn đối tượng đăng
ký giữ quốc tịch Việt Nam: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất
quốc tịch Việt Nam theo pháp luật Việt Nam trước ngày 01/7/2009 mà không có Hộ
chiếu Việt Nam còn giá trị sử dụng, nếu có nguyện vọng giữ quốc tịch Việt Nam
thì phải đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.” Theo quy định này, tất cả người Việt
Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp
luật Việt Nam từ năm 1945 đến trước ngày 01/7/2009 nếu có nguyện vọng giữ quốc
tịch Việt Nam thì đều phải tiến hành các thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam
trừ những người có Hộ chiếu Việt Nam còn hạn sử dụng thì không phải đăng ký giữ
quốc tịch Việt Nam vì thông qua việc cấp hộ chiếu, gia hạn hộ chiếu Nhà nước ta
đã thấy được rằng họ vẫn rất quan tâm đến quốc tịch Việt Nam, gắn bó với đất nước
Việt Nam; đồng thời qua công tác cấp Hộ chiếu, gia hạn hộ chiếu, Nhà nước ta có
thể nắm được danh sách của một số người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định đối tượng đăng
ký giữ quốc tịch Việt Nam là để xác định tình trạng quốc tịch Việt Nam của người
Việt Nam định cư ở nước ngoài từ trước đến thời điểm Luật này có hiệu lực. Thời
hạn để đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam là 05 năm (từ ngày 01/7/2009 đến ngày
01/7/2014). Hết thời hạn này, những người thuộc đối tượng đăng ký giữ quốc tịch
Việt Nam mà không đăng ký thì mất quốc tịch Việt Nam, nếu muốn có quốc tịch
Việt Nam thì phải làm thủ tục xin trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định của
pháp luật hiện hành.
Về thẩm quyền thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch
Việt Nam:
Điều 19 Nghị định quy định cụ thể cơ quan thực hiện
việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có
thẩm quyền thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, có thể là cơ quan đại
diện Việt Nam thường trú hoặc kiêm nhiệm tại nước nơi người đăng ký giữ quốc
tịch đang có quốc tịch hoặc đang thường trú. Trường hợp Việt Nam chưa có quan
hệ ngoại giao với quốc gia mà người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam đang sinh
sống, hoặc tại nước đó chưa có cơ quan đại diện Việt Nam thường trú hoặc kiêm
nhiệm thì việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam được thực hiện tại Cơ quan đại
diện Việt Nam ở nước thứ ba theo sự uỷ quyền của Bộ Ngoại giao.
Các cơ quan đại diện Việt
Nam ở nước ngoài áp dụng các văn bản pháp luật về quốc tịch Việt Nam được ban
hành từ năm 1945 đến trước ngày 01/7/2009 để xác định người đăng ký giữ quốc
tịch có hay không có quốc tịch Việt Nam tại thời điểm đăng ký, bao gồm các văn
bản sau:
- Sắc lệnh số 53/SL ngày
20/10/1945 quy định quốc tịch Việt Nam;
- Sắc lệnh số 73/SL ngày
07/12/1945 quy định việc nhập quốc tịch Việt Nam;
- Sắc lệnh số 25/SL ngày
25/02/1946 sửa đổi Sắc lệnh số 53/SL ngày 20/10/1945 quy định quốc tịch Việt
Nam;
- Sắc lệnh số 215/SL ngày
20/8/1948 ấn định những quyền lợi đặc biệt cho những người ngoại quốc giúp vào
cuộc kháng chiến Việt Nam;
- Sắc lệnh số 51/SL ngày
14/12/1959 bãi bỏ Điều 5, 6 Sắc lệnh số 53/SL ngày 20/10/1945 quy định quốc
tịch Việt Nam;
- Nghị quyết số
1043/NQ-TVQHK6 ngày 08/02/1971 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc xin thôi
hoặc nhập quốc tịch Việt Nam;
- Quyết định số 268/TTg
ngày 12/9/1980 của Thủ tường Chính phủ về chính sách cho thôi và cho trở lại
quốc tịch Việt Nam của người Việt Nam ở nước ngoài;
- Luật Quốc tịch Việt Nam
năm 1988 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
- Luật Quốc tịch Việt Nam
năm 1998 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
- Các Điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên.
Ngoài ra, các giấy tờ về
nhân thân, hộ tịch, quốc tịch do chế độ cũ cấp trước ngày 30/4/1975 cũng là căn
cứ để Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài xem xát, xác định quốc tịch Việt
Nam của người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.
Về trình tự, thủ tục đăng
ký giữ quốc tịch Việt Nam:
Để tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam định cư
ở nước ngoài trong việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, Quốc hội đã giao cho
Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.
Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính phủ quy định người đăng ký
giữ quốc tịch nộp Tờ khai theo mẫu và bản sao giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt
Nam của người đó cho cơ quan đại diện Việt Nam. Khi tiếp nhận Tờ khai đăng ký
giữ quốc tịch Việt Nam, Cơ quan đại diện Việt Nam có trách nhiệm ghi vào Sổ đăng
ký giữ quốc tịch Việt Nam và cấp cho người đăng ký giấy xác nhận về việc người đó
đã đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.
Tuy nhiên, việc cơ quan có thẩm quyền cấp cho người đăng
ký giấy xác nhận đã đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam không có nghĩa là Cơ quan đại
diện Việt Nam thừa nhận quốc tịch Việt Nam của họ ngay tại thời điểm đăng ký.
Trường hợp người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam có
giấy tờ chứng minh rõ họ đang có quốc tịch Việt Nam thì cơ quan đăng ký ghi vào
Sổ đăng ký giữ quốc tịch là người đó có quốc tịch Việt Nam.
Trường hợp người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam không
có đủ giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của họ hoặc giấy tờ chứng minh
không rõ ràng thì Cơ quan đăng ký phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên
quan tiến hành xác minh theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Bộ Công
an để xác định người đó đang có quốc tịch Việt Nam hay không. Đối với những trường
hợp này, người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam còn phải nộp thêm Tờ khai lý lịch
và các giấy tờ quy định tại Điều 10 Thông tư liên tịch số
05/2010/TTLT/BTP-BNG-BCA ngày 01/3/2010 để phục vụ việc xác minh về quốc tịch
của người đó, bao gồm bản sao các giấy tờ về nhân thân, hộ tịch, quốc tịch của
ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em ruột, con; bản sao giấy tờ có nội dung liên quan
đến quốc tịch của đương sự do chế độ cũ cấp trước ngày 30 tháng 4 năm 1975; bản
sao giấy tờ trên đó có ghi quốc tịch Việt Nam hoặc quốc tịch gốc Việt Nam do
các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
Tờ khai đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, đối với những trường hợp cần xác minh để
xác định người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam hay không, Cơ quan đại diện Việt
Nam ở nước ngoài gửi văn bản đề nghị xác minh về Bộ Ngoại giao kèm theo bản sao
các giấy tờ, thông tin phục vụ việc xác minh do người đăng ký cung cấp.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
văn bản đề nghị của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao gửi
Bộ Công an văn bản đề nghị xác minh về nhân thân, đồng thời gửi Bộ Tư pháp văn
bản đề nghị tra cứu xem đương sự có tên trong danh sách đã được thôi hoặc đã bị
tước quốc tịch Việt Nam hay không.
Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề
nghị xác minh, Bộ Công an thực hiện việc xác minh về nhân thân và trả lời Bộ
Ngoại giao về kết quả xác minh.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề
nghị tra cứu, Bộ Tư pháp có trách nhiệm tra cứu danh sách những người đã được
Chủ tịch nước cho thôi quốc tịchViệt Nam và
danh sách những người bị tước quốc tịch Việt Nam trong hệ thống lưu trữ
và trả lời Bộ Ngoại giao về kết quả tra cứu.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
văn bản trả lời về kết quả xác minh và tra cứu, Bộ Ngoại giao gửi văn bản thông
báo kết quả xác minh, tra cứu cho Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để
hoàn tất thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.
Để đảm bảo cho việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam được
tiến hành đồng bộ trên khắp các nước, vùng lãnh thổ có người Việt Nam sinh
sống, Điều 27 Luật Quốc tịch Việt Nam đã quy định cụ thể trách nhiệm
của Bộ Ngoại giao trong việc đăng tải trên Trang thông tin điện tử Bộ Ngoại
giao về đối tượng, thời hạn, cơ quan có thẩm quyền và trình tự, thủ tục thực
hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam đến hết ngày 01/7/2014; tránh tình
trạng người Việt Nam định cư ở nước ngoài bị mất quốc tịch Việt Nam do không
biết thông tin.
Có thể nói, đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng, liên quan đến
quyền, lợi ích thiết thực của người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Nếu như trước đây, theo
Luật Quốc tịch năm 1998, nhiều người Việt Nam định cư ở nước ngoài, đặc biệt là
thế hệ thứ 2, thứ 3, không xác định được mình còn quốc tịch Việt Nam hay không
thì đến Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, với chế định đăng ký giữ quốc tịch, trạng quốc tịch Việt Nam của hơn 3 triệu người Việt
Nam ở nước ngoài sẽ được xác định rõ ràng, tạo tâm lý phấn khởi, yên tâm và hướng về tổ
quốc Việt Nam với những tình cảm đặc biệt của cộng đồng người Việt ở xa tổ quốc.
Phần thứ ba
GIỚI THIỆU NỘI DUNG
CƠ BẢN MỘT SỐ VĂN BẢN MỚI HƯỚNG DẪN THI
HÀNH
LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM NĂM 2008
I. NGHỊ ĐỊNH SỐ 78/NĐ-CPNGÀY 22/9/2009
QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM
NĂM 2008
Ngày 13 tháng 11 năm 2008, tại kỳ họp thứ tư Quốc hội
khoá XII đã thông qua Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/7/2009 và thay thế Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998. Thực hiện Kế hoạch
triển khai Luật Quốc tịch Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành kèm theo Quết
định số 4204/QĐ-BTP ngày 29-12-2008 về Triển khai Luật Quốc tịch Việt Nam và
Chương trình xây dựng Nghị định của Chính phủ năm 2009, theo sự phân công của
Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan nghiên cứu, xây dựng và trình Chính phủ để
ban hành Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
quốc tịch Việt Nam năm 2008.
Ngày
13 tháng 01 năm 2009, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 135/QĐ-BTP
thành lập Ban soạn thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam gồm đại diện một số Bộ, ngành như: Văn
phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công
an, do Thứ trưởng Bộ Tư pháp làm Trưởng ban. Sau hơn 8 tháng tiến hành xây dựng
dự thảo theo đúng trình tự, ngày 22-9-2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thay mặt Chính phủ ký
ban hành Nghị định số 78/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008, có hiệu lực thi hành kể từ ngày
10-11-2009 và thay thế Nghị định số
104/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 1998 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam và Nghị định số 55/2000/NĐ-CP ngày
11 tháng 10 năm 2000 của Chính phủ sửa đổi một số điều của Nghị định số
104/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 1998
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam. Dưới đây, là những
nội dung cơ bản của Nghị định:
1. Sự cần thiết ban hành Nghị định
Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã quy định
tương đối cụ thể các vấn đề về quốc tịch Việt Nam như: chính sách về quốc tịch,
nguyên tắc quốc tịch, các điều kiện nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam, hồ
sơ và trình tự, thủ tục giải quyết các việc xin nhập, xin trở lại, xin thôi
quốc tịch Việt Nam, v.v...
Tuy
nhiên, Luật Quốc tịch Việt Nam chưa thể quy định chi tiết tất cả các vấn đề về
hồ sơ, trình tự và thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch; do đó, Luật Quốc
tịch Việt Nam đã giao cho Chính phủ quy định chi tiết 10 điều đó là các điều:
13, 19, 20, 22, 23, 24, 27, 28, 32 và 34. Ngoài ra, Luật Quốc tịch Việt Nam
cũng có một số quy định mới so với các đạo luật quốc tịch trước đây như: vấn đề
hai quốc tịch cho những trường hợp ngoại lệ, đăng ký giữ quốc tịch, v.v... cần
phải được cụ thể hóa và hướng dẫn thêm như những biện pháp để thực thi pháp
luật quốc tịch, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước. Vì vậy, việc ban hành Nghị
định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật
Quốc tịch Việt Nam là rất cần thiết và cũng phù hợp với quy định tại Điều 44
của Luật Quốc tịch Việt Nam, tạo thuận lợi cho người dân dễ dàng biết được các
bước phải tiến hành và các giấy tờ phải hoàn chỉnh khi nộp hồ sơ, cũng như tạo
cơ sở pháp lý đầy đủ cho các cơ quan hữu quan thực hiện khi tiếp nhận và giải
quyết hồ sơ.
2. Bố cục của Nghị định số 78/2009/NĐ-CP
Nghị định gồm 5 chương, 32 Điều, cụ thể như sau:
Chương I - Quy định chung (gồm 4
điều, từ Điều 1 đến Điều 4);
Chương II - Quy định chi tiết và hướng dẫn thi
thành một số điều về nhập, trở lại, thôi, tước quốc tịch Việt Nam và đăng ký
giữ quốc tịch Việt Nam (gồm 17 điều, từ Điều 5 đến Điều 21), chia làm 5 mục sau
đây:
Mục
1- Nhập quốc tịch quốc tịch Việt Nam;
Mục
2- Trở lại quốc tịch Việt Nam;
Mục
3- Thôi quốc tịch Việt Nam;
Mục 4- Tước quốc
tịch Việt Nam;
Mục 5. Đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, thông báo có quốc
tịch nước ngoài.
Chương III -
Ghi vào Sổ hộ tịch các việc về quốc tịch (gồm 4, điều từ Điều 22 đến
Điều 25);
Chương
IV - Trách nhiệm của các cơ quan trong quản lý nhà nước về quốc tịch (gồm 5
điều, từ Điều 26 đến Điều 30);
Chương
V - Điều khoản thi hành (gồm 2 điều, Điều 31 và Điều 32).
3. Những nội dung cơ bản của Nghị định
Nghị
định số 78/2009/NĐ-CP được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp
của Nghị định số 104/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 1998 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật quốc tịch Việt Nam và Nghị định số
55/2000/NĐ-CP ngày 11 tháng 10 năm 2000 của Chính phủ sửa đổi một số điều của
Nghị định số 104/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 1998 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật quốc tịch Việt Nam; đồng thời nghị định hoá các quy định, các hướng dẫn còn phù hợp, khả
thi, mang tính tương đối ổn định tại các Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định
số 104/1998/NĐ-CP và Nghị định số 55/2000/NĐ-CP. Ngoài ra, Nghị định
cũng quy định cụ thể hơn về vấn đề nhập quốc tịch đối với người không quốc
tịch, tước quốc tịch Việt Nam và đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, cụ thể như
sau:
3.1. Những quy định chung
Phạm vi điều chỉnh được xác
định rõ tại Điều 1 là những điều nào sẽ được quy định chi tiết, những điểm nào
phải hướng dẫn cụ thể để thuận lợi cho việc thực thi : “Nghị định này quy định chi tiết thi hành các Điều 13,
19, 20, 22, 23, 24, 27, 28, 32, 34 và hướng dẫn thi hành một số điều khác của
Luật Quốc tịch Việt Nam”.
Để
tránh việc nhắc đi, nhắc lại việc hợp pháp hoá lãnh sự, chứng thực và dịch sang
tiếng Việt đối với các giấy tờ trong hồ sơ quốc tịch khi hướng dẫn cụ thể từng
việc giải quyết hồ sơ quốc tịch, Điều 2 đã quy định chung:
“1.
Giấy tờ có trong hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam
và trong việc giải quyết các việc khác về quốc tịch Việt Nam do cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài cấp phải được hợp pháp hoá lãnh sự, trừ trường hợp điều ước
quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
2. Giấy tờ
bằng tiếng nước ngoài có trong các hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này phải
được dịch sang tiếng Việt và chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam”.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp là người
thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ ký Tờ trình báo cáo Chủ tịch nước xem
xét, quyết định cho nhập, cho trở lại, cho thôi hoặc tước quốc tịch Việt Nam,
cho nên Bộ Tư pháp cũng chính là cơ quan phải tiến hành thông báo kết quả đến người
yêu cầu. Như vậy, sau khi có quyết định giải quyết các việc này, Bộ Tư pháp
thực hiện thông báo kết quả giải quyết các việc về quốc tịch cho người người
xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam theo thủ tục tại Điều 3:
“Khi thông
báo cho người xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam theo quy định
tại Điều 41 Luật Quốc tịch Việt Nam, Bộ Tư pháp có trách nhiệm đồng thời thông
báo cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), nếu người xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch
Việt Nam nộp hồ sơ ở trong nước.
Trong
trường hợp người xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam nộp hồ sơ tại Cơ quan
đại diện Việt Nam ở nước ngoài thì việc thông báo kết quả giải quyết cho người
xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam được thực hiện thông qua Bộ Ngoại
giao.”
Để
Bộ Tài chính có cơ sở quy định, hướng dẫn thống nhất chế độ thu, nộp và quản
lý, sử dụng lệ phí quốc tịch, Điều 4. đã quy định rõ trách nhiệm nộp lệ phí của
những người xin giải quyết hồ sơ quốc tịch, những đối tượng được miễn lệ phí và cơ quan có thẩm quyền quyết định
việc miễn lệ phí:
“1. Người xin nhập, xin trở lại, xin
thôi quốc tịch Việt Nam, đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam phải nộp lệ phí trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Mức
thu và chế độ thu, nộp, quản lý, sử
dụng lệ phí do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định.
2. Những người sau đây được miễn lệ phí
xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam:
a) Người có công lao đặc biệt đóng góp
cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xin nhập, xin trở lại quốc
tịch Việt Nam;
b) Người thuộc chuẩn nghèo theo quy định
của pháp luật;
c) Người không quốc tịch xin nhập quốc
tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 22 Luật Quốc tịch Việt Nam.
3. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ xin nhập, xin
trở lại quốc tịch Việt Nam căn cứ vào quy định của Bộ Tài chính để quyết định
việc miễn lệ phí cho từng trường hợp cụ thể.”
3.2. Về việc giải quyết hồ sơ trở lại quốc
tịch Việt Nam
Một
số điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam: Về khả năng biết tiếng Việt của người xin nhập quốc tịch Việt Nam: Theo
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam thì một trong những
điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam là phải “biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam”. Khoản 1
Điều 5 Nghị định đã giải mã cụ thể vấn đề này: “Biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam của người xin
nhập quốc tịch Việt Nam được đánh giá trên cơ sở khả năng giao tiếp bằng tiếng
Việt với công dân Việt Nam trong cuộc sống, phù hợp với môi trường sống và làm
việc của người đó”.
Về
điều kiện thường trú tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam: Theo
quy định của Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam thì điều kiện bắt buộc chung đối
với người xin nhập quốc tịch Việt Nam là phải thường trú tại Việt Nam. Để xác
định rõ yêu cầu về thường trú, khoản 2 Điều 5 Nghị định quy định người xin nhập
quốc tịch Việt Nam phải là người đang thường trú tại Việt Nam và được cơ quan
Công an có thẩm quyền của Việt Nam cấp thẻ thường trú. Thời gian thường trú tối
thiểu 5 năm của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được tính từ ngày người đó
được cấp thẻ thường trú (thời gian tạm trú trước đó không được tính). Riêng đối
với người được miễn một số điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại
khoản 2 Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam thì không bắt buộc phải có đủ 5 năm
thường trú tại Việt Nam nhưng vẫn phải là người đã được cấp thẻ thường trú. Quy
định này là nhằm bảo đảm người nhập quốc tịch Việt Nam là người đã có thời gian
đủ để thích nghi, gắn bó với tổ quốc Việt Nam, một cách ổn định, hoà nhập vào
cộng đồng Việt Nam.
Về
điều kiện bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam:
Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam thì một trong
những điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam là người nhập quốc tịch phải “có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam”.
Khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam
chủ yếu là khả năng về vật chất, khả năng này được xem xét, đánh giá từ rất
nhiều nguồn khác nhau. Vì vậy, Nghị định quy định khả năng bảo đảm cuộc sống
tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được chứng minh bằng tài
sản, nguồn thu nhập hợp pháp của người đó hoặc sự bảo lãnh của tổ chức, cá nhân
tại Việt Nam (điểm đ khoản 1 Điều 7 của Nghị định).
Những
trường hợp được miễn một số điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam:
Điều
6 Nghị định hướng dẫn cụ thể các điểm b (người có công lao đặc biệt đóng góp
cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam) và điểm c (người mà việc
nhập quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam) khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam:
“1. Người có công lao đặc biệt đóng góp
cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam phải là người được tặng
thưởng Huân chương, Huy chương, danh hiệu cao quý khác của Nhà nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc được cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền của Việt Nam xác nhận về công lao đặc biệt đó.
2. Người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam
của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là người có
tài năng trong các lĩnh vực khoa học, kinh tế, văn hoá, xã hội, nghệ thuật, thể
thao, được cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng nhận và cơ quan quản lý
nhà nước cấp bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận việc nhập quốc tịch của
họ sẽ đóng góp cho sự phát triển trong các lĩnh vực nói trên của Việt
Nam.”
Những giấy tờ trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam: Khoản 1 Điều 7 hướng dẫn chi tiết các giấy tờ quy định
tại điểm b, đ, e và g khoản 1 Điều 20 Luật Quốc tịch Việt Nam:
“a) Giấy tờ khác có giá trị thay thế Giấy khai sinh,
Hộ chiếu của người xin nhập quốc tịch Việt Nam là những giấy tờ có giá trị
chứng minh quốc tịch nước ngoài của người đó;
b) Giấy tờ chứng minh trình độ tiếng
Việt của người xin nhập quốc tịch Việt Nam là một trong các giấy tờ sau đây:
bản sao bằng tốt nghiệp sau đại học, đại học, cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp, trung học phổ thông hoặc trung học cơ sở của Việt Nam; bản sao văn bằng
hoặc chứng chỉ chứng nhận trình độ tiếng Việt do cơ sở đào tạo tiếng Việt của
Việt Nam cấp.
Trong trường hợp người xin nhập quốc
tịch Việt Nam khai báo biết tiếng Việt đủ để hoà nhập theo quy định tại khoản 1
Điều 5 của Nghị định này, nhưng không có một trong các giấy tờ nêu trên, thì Sở
Tư pháp tổ chức phỏng vấn trực tiếp để kiểm tra trình độ tiếng Việt của người
đó theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp. Kết quả phỏng vấn phải được lập thành văn
bản; người trực tiếp phỏng vấn căn cứ vào tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều
5 của Nghị định này để đề xuất ý kiến và chịu trách nhiệm về ý kiến đề xuất của
mình;
c) Bản sao Giấy khai sinh của người con chưa thành
niên cùng nhập quốc tịch Việt Nam theo cha mẹ hoặc giấy tờ khác chứng minh quan
hệ cha con, mẹ con. Trường hợp chỉ cha hoặc mẹ nhập quốc tịch Việt Nam mà con
chưa thành niên sinh sống cùng người đó nhập quốc tịch Việt Nam theo cha hoặc
mẹ thì còn phải nộp văn bản thoả thuận của
cha mẹ về việc nhập quốc tịch Việt Nam cho con;
d) Bản sao Thẻ thường trú;
đ) Giấy tờ chứng minh bảo đảm cuộc sống ở Việt Nam của
người xin nhập quốc tịch Việt Nam gồm một trong các giấy tờ sau: giấy tờ chứng
minh quyền sở hữu tài sản; giấy xác nhận mức lương hoặc thu nhập do cơ quan, tổ
chức nơi người đó làm việc cấp; giấy xác nhận của cơ quan thuế về thu nhập chịu
thuế; giấy tờ chứng minh được sự bảo lãnh của tổ chức, cá nhân tại Việt Nam;
giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban
nhân dân cấp xã) nơi thường trú của người xin nhập quốc tịch Việt Nam về khả
năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người đó.”
Để làm rõ trường hợp được miễn một số điều
kiện được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều
19 Luật quốc tịch Việt Nam, Nghị định đã cụ thể hóa bằng các giấy tờ chứng minh có trong hồ sơ xin nhập quốc tịch
Việt Nam như bản sao Giấy chứng nhận kết hôn để chứng minh quan hệ hôn nhân của
người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam, bản sao Giấy khai sinh để chứng
minh quan hệ cha con, mẹ con, v.v... (các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 7 Nghị
định).
Về
trình tự, thủ tục và hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam cho người không quốc
tịch: Việc nhập quốc tịch Việt
Nam cho những người không quốc tịch mà không có các giấy tờ về nhân thân nhưng
đã cư trú lâu năm trên lãnh thổ Việt Nam là một thực tế tồn đọng từ nhiều năm
nay chưa được giải quyết. Trong quá trình xây dựng dự án Luật Quốc tịch Việt
Nam, vấn đề này đã được thảo luận kỹ với tinh thần là Nhà nước tạo điều kiện
thuận lợi nhất, ưu tiên giải quyết việc nhập quốc tịch Việt Nam cho những người
thuộc đối tượng này theo một quy trình riêng, thủ tục đơn giản, miễn một số
điều kịên và không thu lệ phí.
Nghị định đã
thể hiện tinh thần nêu trên, đồng thời đề cao trách nhiệm và tính chủ động của
các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết vấn đề quốc tịch cho những người
không quốc tịch thuộc diện quy định tại Điều 22 Luật Quốc tịch Việt Nam, nhằm
giúp những người không quốc tịch ổn định cuộc sống, hưởng quyền và làm nghĩa vụ
công dân. Để thực hiện nhiệm vụ nêu trên, Uỷ ban nhân dân các tỉnh nơi có người
không quốc tịch sinh sống sẽ phải chỉ đạo các Sở, ban, ngành và Uỷ ban nhân dân
cấp huyện, cấp xã rà soát, lập danh sách, hỗ trợ người không quốc tịch hoàn
thiện về hồ sơ và đề xuất ý kiến kèm theo danh sách gửi Bộ Tư pháp. Đây là công
việc mang tính chất quá độ, chuyển tiếp nhằm giải quyết những tồn đọng của
nhiều năm nay về vấn đề người không quốc tịch cư trú trên lãnh thổ Việt Nam nên
nhiệm vụ này cần được xác định thời hạn để giải quyết dứt điểm, theo đó, khoản
3 Điều 8 Nghị định quy định thời hạn giải quyết đến hết ngày 31 tháng 12 năm
2012. Chính phủ cũng giao cho Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và Bộ
Ngoại giao hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo xây dựng kế hoạch vả triển khai công tác này. Cụ thể:
“1. Người không quốc tịch, không có đầy
đủ các giấy tờ về nhân thân, đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ ngày
01 tháng 7 năm 1989 trở về trước (sau đây gọi là người không quốc tịch) có
nguyện vọng được nhập quốc tịch Việt Nam thì làm hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt
Nam gồm Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam và Bản khai lý lịch theo mẫu do Bộ Tư
pháp quy định.
2. Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ
xin nhập quốc tịch Việt Nam của người không quốc tịch quy định tại khoản 1 Điều
này được thực hiện như sau:
a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở
Tư pháp phối hợp với cơ quan Công an cấp tỉnh, Sở Ngoại vụ (nếu có) và Ủy ban
nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là Ủy ban nhân
dân cấp huyện) hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc rà soát, lập danh
sách, hỗ trợ làm hồ sơ, xác minh về nhân thân của người xin nhập quốc tịch Việt
Nam.
Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét danh
sách và hồ sơ xin nhập quốc tịch và đề nghị Sở Tư pháp giải quyết việc cho nhập
quốc tịch Việt Nam.
Sở Tư pháp phối hợp với cơ quan Công an
cấp tỉnh, Sở Ngoại vụ thẩm định, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem
xét, kết luận và đề xuất về việc xin nhập quốc
tịch Việt Nam của những người trong danh sách và gửi Bộ Tư pháp.
c) Căn cứ vào danh sách và hồ sơ do Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh đề xuất, Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa uỷ quyền Thủ tướng
Chính phủ ký tờ trình kèm theo danh sách và hồ sơ trình Chủ tịch nước xem xét,
quyết định. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Tư pháp trao đổi với Bộ Công an, Bộ Ngoại
giao trước khi trình Chủ tịch nước.
3. Thời hạn nộp hồ sơ xin nhập quốc tịch
Việt Nam theo quy định tại Điều này đến
hết ngày 31 tháng 12 năm 2012. Hết thời hạn này, những người nói tại khoản 1
Điều này mà chưa nộp hồ sơ, nếu có nguyện vọng nhập quốc tịch Việt Nam, thì
việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ được giải quyết theo quy định tại các Điều
19, 20 và 21 Luật Quốc tịch Việt Nam.
4. Bộ Tư pháp
có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc
xây dựng kế hoạch rà soát, lập danh sách và hỗ trợ việc giải quyết hồ sơ xin
nhập quốc tịch Việt Nam cho những người quy định tại khoản 1 Điều này”.
3.3. Về việc
giải quyết hồ sơ trở lại quốc tịch Việt Nam
Một
số điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam: Trên tinh thần “Nhà nước có chính sách tạo điều kiện
thuận lợi cho người đã mất quốc tịch Việt Nam trở lại quốc tịch Việt Nam” việc
giải quyết nhập quốc tịch cho đối tượng này được thực hiện theo trình tự thủ
tục ít khắt khe hơn so với thủ tục nhập quốc tịch. Các điều kiện quy định tại
điểm c, d và đ khoản 1 Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam được quy định cụ thể tại
Điều 9 như sau:
“1. Người có công lao đặc biệt đóng góp
cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam và người mà việc trở lại quốc
tịch Việt Nam của họ có lợi cho nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được áp dụng theo quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 6 của Nghị định này.
2. Người thực hiện đầu tư tại Việt Nam
phải có dự án đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy tờ chứng
nhận việc đầu tư đó.”
Một
số giấy tờ trong hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam: Điều 10 quy
định rất chi tiết, cụ thể các giấy tờ quy định tại các điểm đ và e khoản 1 Điều
24 Luật Quốc tịch Việt Nam:
“a) Các giấy tờ chứng minh người xin trở lại quốc tịch
Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam là một trong các giấy tờ sau đây: bản
sao Giấy khai sinh; bản sao Quyết định cho thôi quốc tịch Việt Nam hoặc Giấy
xác nhận mất quốc tịch Việt Nam; giấy tờ khác có ghi quốc tịch Việt Nam hoặc có
giá trị chứng minh quốc tịch Việt Nam trước đây của người đó;
b) Giấy tờ chứng minh đủ điều kiện trở lại quốc tịch
Việt Nam là một trong các giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2
Điều 7 của Nghị định này hoặc giấy tờ chứng minh người xin trở lại quốc tịch
Việt Nam đang làm thủ tục xin hồi hương về Việt Nam hoặc bản sao giấy tờ chứng
nhận việc đầu tư tại Việt Nam.
2. Con chưa thành niên cùng trở lại quốc tịch Việt Nam
theo cha mẹ thì phải nộp bản sao Giấy khai sinh của người con hoặc giấy tờ khác
chứng minh quan hệ cha con, mẹ con. Trường hợp chỉ cha hoặc mẹ trở lại quốc
tịch Việt Nam mà con chưa thành niên sống cùng người đó cùng trở lại quốc tịch
Việt Nam theo cha hoặc mẹ thì phải nộp văn bản thoả thuận của cha mẹ về việc
trở lại quốc tịch Việt Nam của con.
3. Hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam
phải lập thành 03 bộ, được lưu trữ tại Văn phòng Chủ tịch nước, Bộ Tư pháp và
cơ quan tiếp nhận hồ sơ”.
Trong quá trình xem xét hồ sơ, nếu nhận thấy cần thiết
phải xác minh thêm về nhân thân của người xin trở lại quốc tịch Việt Nam theo
quy định tại khoản 3 Điều 25 Luật Quốc tịch Việt Nam thì Bộ Tư pháp có văn bản
nêu rõ những nội dung cụ thể đề nghị Bộ Công an xác minh và trả lời kết quả
bằng văn bản cho Bộ Tư pháp. Thời hạn để thực hiện việc xác minh được quy định
tối đa là 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Bộ Tư pháp, Bộ Công
an có trách nhiệm xác minh (Điều 11).
3.4. Về việc
giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam
Trường hợp chưa được thôi quốc tịch Việt Nam: Điều 12 hướng dẫn cụ thể quy định tại điểm a khoản 2
Điều 27 Luật Quốc tịch Việt Nam đối với trường hợp người đang nợ thuế đối với
Nhà nước hoặc đang có nghĩa vụ tài sản đối với cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân ở
Việt Nam mà cơ quan thuế hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân là chủ nợ có văn bản
yêu cầu chưa cho người đó thôi quốc tịch Việt Nam thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ
không giải quyết việc cho thôi quốc tịch Việt Nam, chờ cho người đó hoàn thành
nghĩa vụ của mình thì mới được thôi quốc tịch Việt Nam.
Một số giấy tờ trong hồ sơ xin thôi quốc
tịch Việt Nam: Để đảm bảo quyền
lợi và nghĩa vụ của người xin thôi quốc tịch Việt Nam, không để họ bị rơi vào
tình trạng không quốc tịch hoặc không cho thôi quốc tịch Việt Nam khi họ còn
nghĩa vụ, ràng buộc trách nhiệm nào đó. Các
giấy tờ quy định tại các điểm đ và g khoản 1 Điều 28 của Luật Quốc tịch Việt
Nam được quy định cụ thể tại Điều 13 như sau:
“1. Giấy tờ xác nhận việc người xin thôi
quốc tịch Việt Nam đang làm thủ tục nhập quốc tịch nước ngoài là giấy tờ do cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận hoặc bảo đảm cho người đó được nhập
quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp pháp luật nước đó không quy định về việc
cấp giấy này. Trường hợp người xin thôi quốc tịch Việt Nam đã có quốc tịch nước
ngoài thì nộp bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ tuỳ thân khác do cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài cấp để chứng minh người đó đang có quốc tịch nước ngoài.
2. Giấy xác nhận quy định tại điểm g
khoản 1 Điều 28 Luật Quốc tịch Việt Nam do thủ trưởng cơ quan, đơn vị nơi đã ra
quyết định cho nghỉ hưu, cho thôi việc, miễn nhiệm, cách chức, giải ngũ hoặc
phục viên căn cứ vào quy chế của ngành để xác nhận việc thôi quốc tịch Việt Nam
của người đó không ảnh hưởng đến việc bảo vệ bí mật quốc gia hoặc không trái
với quy định của ngành đó.
3. Hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam phải
lập thành 03 bộ, được lưu trữ tại Văn phòng Chủ tịch nước, Bộ Tư pháp và cơ
quan tiếp nhận hồ sơ.”
Trách
nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thông báo về trường hợp chưa được thôi, không được thôi quốc tịch Việt
Nam: Chỉ trong trường hợp người xin
thôi quốc tịch cư trú ở trong nước, thì cơ quan thụ lý hồ sơ quốc tịch phải đăng tải công khai thông tin về việc xin
thôi quốc tịch Việt Nam của đương sự. Điều 14 quy định rõ trách nhiệm của các
cơ quan hữu quan, tổ chức, cá nhân phải thông báo cho cơ quan đăng tải biết nếu
biết và phải biết, cụ thể:
“Trong thời
hạn 60 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp đăng tải thông tin về người xin thôi quốc
tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Luật Quốc tịch Việt Nam, cơ
quan Công an, cơ quan Thi hành án dân sự, cơ quan thuế hoặc cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác, nếu phát hiện thấy người xin thôi quốc tịch Việt Nam thuộc trường
hợp chưa được thôi hoặc không được thôi quốc tịch Việt Nam theo quy định tại
các khoản 2, 3 và 4 Điều 27 Luật Quốc tịch Việt Nam, thì phải kịp thời thông
báo cho Sở Tư pháp nơi đã đăng tải thông tin đó.”.
Xác minh về nhân thân của người xin thôi quốc tịch Việt
Nam: Hồ sơ
xin thôi quốc tịch Việt Nam được gửi từ các Cơ quan đại diện ngoại giao Việt
Nam ở nước ngoài qua Cục Lãnh sự về Bộ Tư pháp được phân loại thành 2 danh
sách: hồ sơ thuộc diện phải xác minh nhân thân và hồ sơ thuộc diện được miễn
xác minh về nhân thân. Trên cơ sở danh sách đó, trong quá trình kiểm tra, Bộ Tư
pháp thấy những trường hợp cần thiết phải xác minh, thì có văn bản đề nghị xác
minh về nhân thân, không cần phải đăng tải, niêm yết như trường hợp người xin
thôi cư trú ở trong nước. Cụ thể:
“1. Trường hợp người xin thôi quốc tịch Việt Nam không
thuộc diện được miễn thủ tục xác minh về nhân thân theo quy định tại Điều 30
Luật Quốc tịch Việt Nam thì Bộ Tư pháp có văn bản đề nghị Bộ Công an xác minh.
2.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Bộ Tư pháp, Bộ Công an
có trách nhiệm xác minh và trả lời kết quả bằng văn bản cho Bộ Tư pháp.”
3.5. Tước quốc tịch Việt Nam
Tuy
Luật Quốc tịch ViệtNam đã quy định rất chi tiết tại các Điều 31 và 32 về căn
cứ, trình tự thủ tục tước quốc tịch Việt Nam và tại các Điều 33 và 34 về căn cứ
và trình tự, thủ tục huỷ bỏ quyết định tước quốc tịch Việt Nam, nhưng Nghị định
vẫn hướng dẫn cụ thể thêm trong các tình huống cụ thể về hồ sơ kiến nghị tước
quốc tịch Việt Nam tại Điều 16:
“1. Trong trường hợp Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh hoặc Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài kiến nghị tước quốc tịch Việt
Nam đối với người có hành vi quy định tại
khoản 1 Điều 31 Luật Quốc tịch Việt Nam thì hồ sơ gồm có:
a) Văn bản kiến nghị của Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh hoặc Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài về việc tước quốc tịch
Việt Nam;
b) Các tài liệu xác minh, kết luận của
các cơ quan có thẩm quyền về hành vi vi phạm của người bị đề nghị tước quốc
tịch Việt Nam;
c) Đơn, thư tố cáo người bị đề nghị tước
quốc tịch Việt Nam (nếu có).
2. Trong trường hợp Toà án đã xét xử bị
cáo có hành vi quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Quốc tịch Việt Nam kiến nghị
tước quốc tịch Việt Nam đối với người đó thì hồ sơ gồm có:
a) Văn bản kiến nghị của Toà án về việc
tước quốc tịch Việt Nam;
b) Bản án đã có hiệu lực pháp luật và
các tài liệu có liên quan.”
Đồng thời, Nghị định cũng hướng
dẫn cụ thể về hồ sơ kiến nghị hủy bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam tại
Điều 17:
“1. Trong
trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiến nghị huỷ bỏ Quyết định cho nhập quốc
tịch Việt Nam đối với người có hành vi quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Quốc
tịch Việt Nam thì hồ sơ gồm có:
a) Văn bản
của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiến nghị huỷ bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch
Việt Nam;
b) Các tài
liệu xác minh, kết luận của các cơ quan có thẩm quyền về hành vi vi
phạm của người bị đề nghị huỷ bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam;
c) Đơn, thư
tố cáo người bị đề nghị huỷ bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam (nếu có).
2. Trong
trường hợp Toà án đã xét xử bị cáo có hành vi quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Quốc tịch Việt Nam kiến
nghị huỷ bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam đối với người đó thì hồ sơ
gồm có:
a) Văn bản
kiến nghị của Toà án về việc tước quốc tịch Việt Nam;
b) Bản án
đã có hiệu lực pháp luật và các tài liệu có liên quan.”
3.6. Đăng
ký giữ quốc tịch Việt Nam, thông báo có quốc tịch nước ngoài
Đối
tượng phải đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam: Đăng
ký giữ quốc tịch Việt Nam là một chế định hoàn toàn mới trong Luật quốc tịch
Việt Nam nhằm giải quyết tình trạng không rõ ràng về quốc tịch Việt Nam của một
bộ phận người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Về đối tượng đăng ký giữ quốc tịch
Việt Nam: Theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam thì: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa
mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này
có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày
Luật này có hiệu lực, phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
để giữ quốc tịch Việt Nam”. Nghị
định quy định cụ thể đối tượng phải đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. Quy định
này phù hợp với tinh thần của khoản 2 Điều 13 nêu trên ở chỗ: chỉ người Việt
Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không có hộ chiếu Việt
Nam còn giá trị sử dụng, nếu có nguyện vọng giữ quốc tịch Việt Nam thì đăng ký
để giữ quốc tịch Việt Nam.
Thẩm quyền của các cơ quan thực hiện việc đăng ký
giữ quốc tịch Việt Nam: cần thiết phải xác định rõ thẩm quyền theo địa hạt của
các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong từng tình huống cụ thể, kể cả
ở những nước và vùng lãnh thổ mà không có Cơ quan đại diện để người dân biết và
chủ động đến hoặc liên hệ với Cơ quan đại diện để thực hiện yêu cầu của họ.
Điều 19 quy định:
“1. Cơ quan
đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký giữ quốc
tịch Việt Nam là Cơ quan đại diện Việt Nam thường trú hoặc kiêm nhiệm tại nước
nơi người đăng ký giữ quốc tịch đang có quốc tịch hoặc đang thường trú.
2. Trường
hợp Việt Nam chưa có quan hệ ngoại giao hoặc chưa có Cơ quan đại diện thường
trú hoặc kiêm nhiệm tại nước mà người đăng ký giữ quốc tịch đang thường trú thì
việc đăng ký giữ quốc tịch được thực hiện tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước thứ ba theo sự uỷ quyền của Bộ Ngoại
giao.”
Trình tự, thủ
tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam:
Khoản 1 Điều 20 Nghị định quy định
người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam làm Tờ khai (theo mẫu) và bản sao giấy tờ
có giá trị chứng minh quốc tịch Việt Nam nộp cho Cơ quan đại diện Việt Nam.
Việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam không có nghĩa là Cơ quan đại diện Việt Nam
phải công nhận ngay tại thời điểm đăng ký là người đó có quốc tịch Việt Nam.
Khi tiếp nhận Tờ khai đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, Cơ quan đại diện ghi vào
Sổ đăng ký giữ quốc tịch và cấp cho đương sự giấy xác nhận đã đăng ký giữ quốc
tịch Việt Nam. Nếu người đăng ký giữ quốc tịch có đầy đủ giấy tờ chứng minh
quốc tịch Việt Nam, thì Cơ quan đăng ký ghi vào Sổ đăng ký giữ quốc tịch Việt
Nam là người đó có quốc tịch Việt Nam; nếu người đăng ký giữ quốc tịch không có
đầy đủ giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam hoặc giấy tờ chứng minh không rõ
thì Cơ quan đăng ký phối hợp với các cơ quan liên quan để tiến hành xác minh.
Căn cứ vào giấy tờ đương sự xuất trình và kết quả xác minh, tra cứu, nếu xác
định được người đó có quốc tịch Việt Nam và không có vướng mắc về an ninh -
chính trị, thì Cơ quan đại diện ghi vào Sổ đăng ký giữ quốc tịch là người đó có
quốc tịch Việt Nam; Trường hợp không đủ căn cứ xác định thì cũng cần ghi rõ là
không có đủ căn cứ xác định quốc tịch Việt Nam.
Thông
báo có quốc tịch nước ngoài: Do chính
sách một quốc tịch mềm dẻo của Nhà nước ta được thể hiện trong Luật Quốc tịch
Việt Nam năm 2008, nên kể từ ngày Luật có hiệu lực công dân Việt Nam có thể có
hai quốc tịch là quốc tịch Việt Nam và quốc tịch nước ngoài. Luật Quốc tịch
Việt Nam năm 2008 cũng có quy định riêng về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ công
dân của họ. Cần phải quy định trách nhiệm của công dân Việt Nam, từ ngày 01
tháng 7 năm 2009 trở đi , vì lý do nào đó mà có quốc tịch nước ngoài thì trong
vòng 02 năm phải thông báo việc có quốc tịch nước ngoài cho cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam, vì theo quy định tại Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam thì Nhà
nước ta đã chính thức công nhận về mặt pháp lý công dân có thể có hai quốc
tịch. Do vậy, để được công nhận quốc tịch nước ngoài thì công dân Việt Nam phải
có trách nhiệm thông báo cho Nhà nước quốc tịch nước ngoài của họ. Quy định này
là cần thiết, nhằm bảo đảm cho việc hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ của công
dân đối với những trường hợp có hai quốc tịch được thực hiện theo đúng pháp
luật. Do đó, phải quản lý chặt chẽ việc công dân Việt Nam có hai quốc tịch,
cũng là để góp phần làm cho công tác quản lý công dân ngày càng đi vào nền nếp,
khắc phục tình trạng không rõ ràng về quốc tịch thời gian qua. Trên tinh thần
đó, Điều 21 quy định trách nhiệm của công dân Việt Nam phải thông báo về việc
có quốc tịch nước ngoài của mình cho cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 02
năm kể từ ngày có quốc tịch nước ngoài. Nếu không thực hiện việc thông báo thì
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có quyền từ chối việc công nhận quốc tịch
nước ngoài của người đó, dựa trên nguyên tắc một quốc tịch nêu tại Điều 4 của
Luật.
3.7. Ghi vào sổ hộ tịch các việc về quốc
tịch
Luật
Quốc tịch Việt Nam cho phép trẻ em khi sinh ra mà cha mẹ là người không quốc
tịch, hoặc khi sinh ra mà mẹ là người không quốc tịch còn cha không rõ là ai
thì đều có quốc tịch Việt Nam và việc xác định quốc tịch Việt Nam phải được thực hiện thông qua
đăng ký khai sinh. Khi đăng ký khai sinh, cơ quan đăng ký hộ tịch ghi quốc tịch
Việt Nam của trẻ em đó vào Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh. Bên cạnh đó,
việc Luật Quốc tịch Việt Nam cho người nước ngoài nhập quốc tịch Việt Nam,
người đã từng có quốc tịch Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam, mở rộng
ngoại lệ công dân Việt Nam có thể đồng thời có quốc tịch nước ngoài trước hết
đặt ra yêu cầu phải ghi nhận quốc tịch nước ngoài của những người này trong các
giấy tờ hộ tịch do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp. Do vậy, Nghị định đã dành riêng chương III để
quy định việc ghi vào Sổ hộ tịch các việc về quốc tịch, cụ thể là: ghi quốc
tịch Việt Nam của trẻ em khi sinh ra có cha mẹ là người không quốc tịch (Điều
22); ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch của người được nhập, được trở lại quốc
tịch Việt Nam (Điều 23); ghi quốc tịch trong các giấy tờ về hộ tịch đối với
công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài (Điều 24) và ghi chú vào Sổ
hộ tịch việc thôi quốc tịch Việt Nam (Điều 25).
3.8. Trách nhiệm của các cơ quan
trong quản lý nhà nước về quốc tịch
Điều 39
và Điều 40 Luật Quốc tịch Việt Nam đã quy định về nguyên tắc trách nhiệm của
Chính phủ, các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các Cơ
quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài cơ quan trong quản lý nhà nước về quốc
tịch. Chính phủ thấy cần thiết phải có sự phân công cụ thể cơ quan chủ trì, cơ
quan phối hợp trong quá trình triển khai thực hiện để có sự đồng bộ, thống nhất
cao. Với vai trò giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về quốc
tịch trên phạm vi cả nước, Bộ Tư pháp có trách nhiệm sau đây (Điều 26):
“1. Soạn
thảo, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm
quyền các văn bản quy phạm pháp luật về quốc tịch;
2. Tổ chức,
hướng dẫn và chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc triển khai thực hiện
các văn bản quy phạm pháp luật về quốc tịch;
3. Phối hợp
với Bộ Ngoại giao trong việc tổ chức, hướng dẫn và chỉ đạo Cơ quan đại diện
Việt Nam ở nước ngoài thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quốc tịch;
4. Tổng hợp tình hình và thống kê
các việc đã giải quyết về quốc tịch, hằng năm báo cáo Chính phủ;
5. Tuyên
truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về quốc tịch;
6. Ban hành
và quản lý thống nhất các mẫu giấy tờ, sổ sách về quốc tịch Việt Nam;
7. Thanh
tra, kiểm tra và giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo liên quan đến
vấn đề giải quyết các việc về quốc tịch Việt Nam;
8. Thẩm tra
hồ sơ và phối hợp với Bộ Công an trong việc xác minh các hồ sơ về quốc tịch
theo quy định của pháp luật;
9. Bộ
trưởng Bộ Tư pháp thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ ký Tờ trình trình Chủ tịch nước về việc cho nhập, cho trở lại,
cho thôi quốc tịch Việt Nam;
10. Chủ trì
và phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an trong việc đàm phán, ký kết các điều
ước quốc tế về quốc tịch;
11. Xây
dựng và chỉ đạo xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử về quốc tịch Việt Nam trong phạm
vi cả nước;
12. Hết
thời hạn giải quyết quy định tại Điều 8 và Điều 18 của Nghị định này, chỉ đạo
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng kết việc giải quyết nhập quốc tịch Việt Nam cho
người không quốc tịch; phối hợp với Bộ Ngoại giao chỉ đạo Cơ quan đại diện Việt
Nam ở nước ngoài tổng kết việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam để báo cáo Chính
phủ.”
Trong vai trò chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp
thực hiện quản lý nhà nước về quốc tịch đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài,
Bộ Ngoại giao có trách nhiệm sau đây (Điều 27):
“1. Chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tổ chức,
hướng dẫn và chỉ đạo Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện các văn
bản quy phạm pháp luật về quốc tịch;
2. Phối hợp
với Bộ Tư pháp trong việc kiểm tra, thanh tra công tác quốc tịch tại Cơ quan
đại diện Việt Nam ở nước ngoài;
3. Tuyên truyền,
phổ biến pháp luật về quốc tịch cho công dân Việt Nam ở nước ngoài;
4. Tổng hợp
tình hình và số liệu thống kê các việc đã giải quyết về quốc tịch tại Cơ quan
đại diện Việt Nam ở nước ngoài, hằng năm thông báo cho Bộ Tư pháp;
5. Phối hợp
với Bộ Tư pháp trong việc đàm phán, ký kết điều ước quốc tế về quốc tịch;
6. Đăng tải
trên Trang thông tin điện tử của Bộ Ngoại giao về đối tượng, thời hạn, cơ quan
có thẩm quyền và trình tự, thủ tục thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt
Nam đến hết ngày 01 tháng 7 năm 2014; chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và Bộ
Công an hướng dẫn cụ thể việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam khi có vướng mắc;
7. Hết thời
hạn giải quyết quy định tại Điều 18 của Nghị định này, chỉ đạo Cơ quan đại diện
Việt Nam ở nước ngoài tổng kết việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam để thông báo
cho Bộ Tư pháp.”
Trong vai trò chủ trì, phối hợp
với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về quốc tịch đối với công dân Việt
Nam ở nước ngoài, Bộ Công an có trách nhiệm sau đây (Điều 28):
“1. Bộ Công an phối hợp với Bộ Tư pháp trong quá trình
giải quyết các việc về quốc tịch, có trách nhiệm thẩm tra, xác minh hoặc hướng
dẫn, chỉ đạo cơ quan công an địa phương trong việc xác minh về nhân thân của
người xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam hoặc đối với những
người bị đề nghị tước quốc tịch Việt Nam hoặc bị đề nghị huỷ bỏ quyết định cho
nhập quốc tịch Việt Nam.
2. Phối hợp
với Bộ Tư pháp trong việc đàm phán, ký kết điều ước quốc tế về quốc tịch.”
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà
nước về quốc tịch trong phạm vi địa phương, có trách nhiệm sau đây (Điều 29):
“1. Xem
xét, đề xuất ý kiến về các trường hợp xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch
Việt Nam, tước quốc tịch Việt Nam và huỷ bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt
Nam;
2. Tuyên
truyền, phổ biến pháp luật về quốc tịch;
3. Tổng hợp
tình hình, thống kê các việc đã giải quyết về quốc tịch, hằng năm báo cáo Bộ Tư
pháp;
4. Giải
quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền;
5. Hết thời
hạn giải quyết quy định tại Điều 8 của Nghị định này, tổng kết việc giải quyết
nhập quốc tịch Việt Nam cho người không quốc tịch để báo cáo Bộ Tư pháp.”
Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện
quản lý nhà nước về quốc tịch Việt Nam trong phạm vi địa bàn phụ trách, có
trách nhiệm sau đây (Điều 30):
“1. Xem
xét, đề xuất ý kiến về các trường hợp xin thôi, xin trở lại quốc tịch Việt Nam,
tước quốc tịch Việt Nam;
2. Đăng ký
giữ quốc tịch Việt Nam cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và thông báo kết
quả cho người đăng ký;
3. Tuyên
truyền, phổ biến pháp luật về quốc tịch cho công dân Việt Nam ở nước ngoài;
4. Tổng hợp
tình hình, thống kê các việc đã giải quyết về quốc tịch tại Cơ quan đại diện
Việt Nam ở nước ngoài, hằng năm báo cáo Bộ Ngoại giao;
5. Giải
quyết khiếu nại, tố cáo về quốc tịch theo thẩm quyền;
6. Đăng tải
trình tự, thủ tục và thời hạn đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam trên Trang thông
tin điện tử của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đến hết ngày 01 tháng 7
năm 2014;
7. Hết thời
hạn giải quyết quy định tại Điều 18 của Nghị định này, tổng kết việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam để báo cáo
Bộ Ngoại giao và Bộ Tư pháp”.
II. THỒNG
TƯ LIÊN TỊCH SỐ 05/2010/BTP-BNG-BCA NGÀY 01/3/2010 CỦA BỘ TƯ PHÁP, BỘ NGOẠI
GIAO VÀ BỘ CÔNG AN HƯỚNG DẪN THI HÀNH NGHỊ ĐỊNH SỐ 78/2009/NĐ-CP
1. Bối cảnh và sự cần thiết
Ngay sau
khi Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 được ban hành, dư luận của nhân dân ở
trong và ngoài nước rất phấn khởi, đã đánh giá cao những điểm sửa đổi, bổ sung
trong Luật Quốc tịch mới so với Luật Quốc tịch năm 1998, đặc biệt là Luật đã thể
hiện rõ tinh thần cải cách hành chính, thuận lợi cho việc giải quyết hồ sơ quốc
tịch vốn tồn tại từ nhiều năm, vừa khó khăn vừa chậm chễ, ách tắc, đáp ứng được
sự mong mỏi của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Đồng thời Bộ Tư pháp
cũng đã nhận được nhiều thông tin phản ánh trên các phương tiên thông tin đại
chúng về một số điểm trong Luật, trong Nghị định số 78/2009/NĐ-CP hướng dẫn thi
hành Luật (tuy đã có sự thể hiện khá chi tiết, cụ thể) nhưng vẫn còn những điểm
chưa rõ, cần phải có sự hướng dẫn cụ thể hơn. Ngoài ra, một số địa phương và Cơ
quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cũng đã có văn bản nêu ra những khó khăn,
vướng mắc đề nghị được giải đáp, hướng dẫn cụ thể hơn để triển khai đồng bộ,
thông nhất. Trước tình hình đó, Lãnh đạo Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Bộ Công
an đã chỉ đạo cần thiết phải khẩn trương xây dựng và ban hành một Thông tư liên
tịch để hướng dẫn thi hành Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt
Nam.
2. Cơ cấu của Thông tư liên tịch
Thông tư
liên tịch gồm 16 điều, cụ thể như sau:
Điều
1: Phạm vi điều chỉnh
Điều 2:
Tiếp nhận và thẩm tra hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam
Điều 3.
Chuyển giao hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam
Điều
4. Thông báo kết quả giải quyết hồ sơ
cho người xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam
Điều 5.
Thông báo cho cơ quan đăng ký hộ tịch việc nhập, trở lại, thôi quốc tịch
Việt Nam
Điều 6
Giải quyết trường hợp xin thôi quốc tịch Việt Nam mà giấy tờ bảo đảm việc cho
nhập quốc tịch nước ngoài bị hết thời hạn
Điều 7. Giải quyết việc nhập quốc
tịch Việt Nam cho những người không quốc tịch theo Điều 22 Luật Quốc tịch Việt
Nam
Điều 8. Đăng tải danh sách Cơ quan
đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam và
tiếp nhận thông báo có quốc tịch nước ngoài
Điều 9. Văn bản pháp luật và giấy tờ
dùng để xác định quốc tịch Việt Nam đối với người đăng ký giữ quốc tịch
Điều 10. Xác minh quốc tịch Việt Nam
của người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam
Điều 11. Thông báo có quốc tịch nước
ngoài
Điều 12. Báo cáo tình hình đăng ký giữ quốc
tịch Việt Nam và thông báo có quốc tịch nước ngoài
Điều 13. Xác nhận có quốc tịch Việt
Nam, xác nhận là người gốc Việt Nam
Điều 14. Ghi chú vào Sổ đăng ký khai
sinh việc nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam
Điều 15. Ghi chú vào Sổ đăng ký khai
sinh việc thông báo có quốc tịch nước ngoài
Điều 16. Tổ chức thực hiện.
3.
Nội dung của Thông tư liên tịch
3.1. Tiếp
nhận và thẩm tra hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam (Điều 2)
Trước đây, việc tiếp nhận hồ sơ quốc
tịch chưa có một quy trình thống nhất. Hầu hết việc tiếp nhận hồ sơ đều được
thực hiện theo cách thức riêng của từng cơ quan. Nhất là đối với hồ sơ xin thôi
quốc tịch Việt Nam được nộp ở nước ngoài, cơ quan tiếp nhận, thông qua Bộ Ngoại
giao chuyển hồ sơ về Bộ Tư pháp bằng nhiều công văn khác nhau mà không có một
danh sách tổng thể những người xin thôi quốc tịch Việt Nam. Để việc giải quyết
hồ sơ quốc tịch đi vào nền nếp, trật tự, khoa học thì cần phải xây dựng một quy
trình thống nhất, chặt chẽ ngay từ khâu tiếp nhận hồ sơ. Các nội dung cần có
trong Phiếu tiếp nhận hồ sơ cũng cần được hướng dẫn cụ thể để áp dụng thống
nhất tại các cơ quan tiếp nhận hồ sơ (khoản 1).
Thẩm tra hồ sơ là nhiệm vụ của cơ
quan tiếp nhận hồ sơ mới được quy định trong Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008.
Việc thẩm tra hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam nhằm
kiểm tra tính hợp pháp của các giấy tờ có trong hồ sơ và tính xác thực của các
thông tin về người xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam nếu thấy
có những điểm chưa rõ ràng. Việc thẩm tra này là cần thiết để đảm bảo các hồ sơ
được xem xét kỹ ngay từ khâu đầu tiên.
Đồng thời với các công việc trên, các
khoản 2, 3 và 4 hướng dẫn cụ thể cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm phân
thành 2 loại: hồ sơ thuộc diện được miễn xác minh và hồ sơ thuộc diện phải xác
minh; lập danh mục các giấy tờ có trong từng hồ sơ và danh sách những người
được đề nghị giải quyết hồ sơ quốc tịch đó. Việc phân loại hồ sơ thuộc diện
được miễn xác minh và hồ sơ thuộc diện phải xác minh sẽ giúp kiểm soát được
thời hạn của giấy tờ bảo đảm việc cho nhập quốc tịch nước ngoài. Qua đó, khắc
phục được tình trạng tồn tại trong thời gian qua là khi hồ sơ chuyển về đến Bộ
Tư pháp (sau khi xác minh xong) thì giấy tờ bảo đảm việc cho nhập quốc tịch
nước ngoài đã hết thời hạn. Nhiều trường hợp phải xin gia hạn hoặc xin cấp lại
giấy tờ nêu trên, thậm chí có một số trường hợp tồn đọng quá lâu mà không giải
quyết được.
3.2. Chuyển
giao hồ sơ và danh sách những người xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch
Việt Nam (Điều 3)
Để xử lý nhanh chóng và chính xác hồ
sơ khi hồ sơ được chuyển đến Bộ Tư pháp và để tiến tới tin học hóa quá trình
giải quyết hồ sơ quốc tịch, khoản 2 hướng dẫn Cơ quan tiếp nhận hồ sơ khi gửi
hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, đồng thời gửi cho Bộ
Tư pháp văn bản điện tử về danh sách những người được đề nghị giải quyết vào
địa chỉ: quoctich.@moj.gov.vn .
Đặc biệt, để phù hợp với xu hướng cải
cách hành chính của Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay, nhằm đảm bảo tính
công khai, minh bạch trong việc giải quyết các hồ sơ quốc tịch, tạo điều kiện
cho các cơ quan và người dân có thể theo dõi được tiến độ, kết quả giải quyết
hồ sơ, khoản 2 đã hướng dẫn Bộ Tư pháp trong việc đăng tải danh sách những
người có hồ sơ lên Trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp và cập nhật tiến độ
và kết quả giải quyết hồ sơ vào danh sách đã được đăng tải nói trên.
3.3.
Thông báo kết quả giải quyết hồ sơ cho người
xin nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam và thông báo cho các cơ quan
đăng ký hộ tịch kết quả giải quyết việc nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam
để ghi vào Sổ đăng ký khai sinh (Điều
4 và Điều 5)
Thông báo kết quả giải quyết việc nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt
Nam là khâu cuối cùng trong quá trình giải quyết hồ sơ quốc tịch. Luật quốc
tịch Việt Nam năm 2008 và Nghị định số 78/2009/NĐ-CP chỉ quy định chung về
trách nhiệm thông báo của Bộ Tư pháp. Vì vậy, để cụ thể hóa vấn đề này, Điều 4
Thông tư đã hướng dẫn quy trình, thủ tục thông báo kết quả, hồ sơ đã được giải quyết và hồ sơ không
được giải quyết cho cơ quan thụ lý hồ sơ và cho đương sự.
Ngoài ra, để
việc quản lý hộ tịch và quốc tịch có mối liên thông chặt chẽ với nhau, cần
thiết phải thông báo kết quả giải quyết việc thôi quốc tịch, việc
trở lại quốc tịch Việt Nam cho các cơ quan quản lý hộ tịch để cập nhật thay đổi
về quốc tịch thông qua việc ghi chú vào Sổ đăng ký khai sinh. Điều 5 đã hướng
dẫn cụ thể về vấn đề này.
3.4. Giải quyết trường hợp xin thôi quốc
tịch Việt Nam mà giấy tờ bảo đảm việc cho nhập quốc tịch nước ngoài hết thời
hạn (Điều 6)
Một trong những vướng mắc hiện nay
khi giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam là khi công dân nộp hồ sơ xin
thôi quốc tịch thì giấy tờ bảo đảm việc cho nhập quốc tịch của nước ngoài còn
thời hạn nhưng khi hồ sơ được chuyển về Bộ Tư pháp thì giấy tờ đó đã hết hạn.
Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho công dân, Điều 6 hướng dẫn cách xử lý trường
hợp giấy tờ bảo đảm việc cho nhập quốc tịch nước ngoài hết thời hạn để người xin thôi quốc tịch Việt Nam làm
thủ tục xin gia hạn giấy tờ đó hoặc xin cấp mới. Nếu người xin thôi quốc tịch
Việt Nam có đề nghị, thì Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có biện pháp hỗ
trợ đương sự làm thủ tục xin gia hạn hoặc xin cấp mới giấy tờ bảo đảm cho việc
nhập quốc tịch nước ngoài phù hợp với pháp luật và qui định hiện hành của nước
sở tại.
3.5. Giải quyết việc nhập quốc tịch Việt
Nam cho những người không quốc tịch không có các giấy tờ về nhân thân đã cư trú
ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ đủ 20 năm trở lên tính đến ngày ngày 01 tháng
7 năm 2009 (Điều 7)
Giải quyết việc nhập quốc tịch Việt
Nam cho những người không quốc tịch mà không có các giấy tờ về nhân thân đã cư
trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ đủ 20 năm trở lên tính đến ngày ngày 01
tháng 7 năm 2009 là một vấn đề quan trọng được quy định trong Luật Quốc tịch
Việt Nam năm 2008 và Nghị định số 78/2009/NĐ-CP. Điều 8 Nghị định số
78/2009/NĐ-CP đã hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục giải quyết vấn đề này. Vì
vậy, Thông tư liên tịch tại Điều 7 có hướng dẫn chi tiết hơn trách nhiệm của Sở
Tư pháp trong việc chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan ở địa phương
để xây dựng và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt Kế hoạch giải quyết
việc nhập quốc tịch cho những người không quốc tịch thuộc diện này và cách thức
phối hợp triển khai kế hoạch đó ở địa phương.
3.6. Đăng tải danh sách các Cơ quan đại
diện Việt Nam ở nước ngoài có thực hiện viêc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam và
tiếp nhận thông báo có quốc tịch nước ngoài (Điều 8)
Đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam và
thông báo có quốc tịch nước ngoài là những quy định mới được đặt ra trong Luật
Quốc tịch Việt Nam năm 2008. Mặc dù Luật Quốc tịch năm 2008 và Nghị định số
78/2009/NĐ-CP đã có quy định chung về thẩm quyền của cơ quan thực hiện việc
đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam (Điều 19 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP), nhưng thực
tế, đối tượng thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam và thông báo giữ
quốc tịch nước ngoài là người Việt Nam hiện đang định cư ở nhiều nước hoặc
nhiều vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới. Để thuận lợi cho người dân thì
ngoài thẩm quyền theo nội dung công việc đã được quy định, phải có sự hướng dẫn
cụ thể và đăng tải công khai trên Công thông tin của Bộ Ngoại giao và Cổng
thông tin của Bộ Tư pháp danh sách các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
có thẩm quyền theo địa hạt (từng khu vực các nước, vùng lãnh thổ). Đây thực
chất là một bản đồ phân bố thẩm quyền theo địa hạt để vừa thuận lợi cho các cơ
quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, vừa thuận lợi cho người dân biết trước
được nơi cần đến đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.
3.7. Áp dụng các văn bản pháp luật về
quốc tịch Việt Nam để xác định quốc tịch Việt Nam của người đăng ký giữ quốc tịch
(Điều 9)
Liên quan đến việc áp dụng các văn bản pháp
luật Việt Nam về quốc tịch, do đặc điểm lịch sử, tại thời điểm trước năm 1975,
ở miền Nam Việt Nam tồn tại hệ thống chính quyền của Nhà nước Việt Nam Cộng
hoà. Và đi kèm theo chính thể đó là hệ thống các văn bản pháp luật do chính
quyền này ban hành trong đó có văn bản quy định về quốc tịch Việt Nam là Dụ số
10. Vấn đề quốc tịch của người dân Việt Nam sống trên lãnh thổ miền Nam Việt
Nam sẽ được điều chỉnh bởi văn bản này. Vậy trong Thông tư có nên liệt kê Dụ số
10 là một trong những văn bản pháp luật được áp dụng để xác định quốc tịch Việt
Nam của công dân như những văn bản pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam hay không? Cần thiết phải
liệt kê các văn bản pháp luật về quốc tịch qua các thời kỳ để xác định một
người có hay không có quốc tịch Việt Nam làm cơ sở cho các cơ quan áp dụng
thống nhất. Tuy nhiên, không nên liệt kê rõ các văn bản của chế độ cũ trước
30/4/1975, vì thực tế trong một giai đoạn lịch sử có nhiều người dân đã được
Nhà nước Việt Nam Cộng hoà cấp các giấy tờ về hộ tịch, quốc tịch Việt Nam, nếu
không áp dụng Dụ này thì các giấy tờ đó không được thừa nhận, như thế sẽ không
đảm bảo quyền lợi cho người dân. Đây là vấn đề nhạy cảm, nên phải rất linh hoạt
khi áp dụng các văn bản pháp luật nêu trên trong các trường hợp cụ thể để xác
định quốc tịch Việt Nam của người đăng ký giữ quốc tịch, có thể căn cứ vào các
giấy tờ về quốc tịch, nhân thân, hộ tịch do các chế độ cũ cấp trước ngày
30/4/1975 để xác định một người có hay không có quốc tịch Việt Nam; nếu có
vướng mắc thì Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phản ánh về Bộ Ngoại giao
để phối hợp với Bộ Tư pháp và Bộ Công an kịp thời hướng dẫn. Hơn nữa, việc liệt
kê các văn bản cũng giúp cho các cơ quan đăng ký dễ dàng đối chiếu, áp dụng.
Đây là vấn đề nhạy cảm nên chỉ hướng dẫn trong Thông tư liên tịch ở mức đó, còn
tuỳ từng trường hợp các cơ quan sẽ phối hợp hướng dẫn cụ thể trong nội bộ các
cơ quan nhà nước.
Đối với việc thực hiện đăng ký giữ
quốc tịch Việt Nam cho với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì những căn cứ
mang tính pháp lý để xác định họ có hay không có quốc tịch Việt Nam là rất phức
tạp. Bởi vì họ đã sống qua nhiều chế độ khác nhau, có rất nhiều văn bản quy
phạm pháp luật khác nhau đã được ban hành điều chỉnh về quốc tịch, họ đã làm
rất nhiều thủ tục qua các sự kiện pháp lý như đăng ký khai sinh, đăng ký kêt
hôn, xin cấp thẻ căn cước, chứng minh nhân dân, hộ chiếu, hộ khẩu, thẻ thường
trú, có quyết định được thôi, được nhập, được trở lại quốc tịch Việt Nam, được
làm con nuôi, có quốc tịch Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên…. Do đó, cơ quan đăng ký cần căn cứ vào thời gian xảy ra sự kiện pháp lý
về quốc tịch của họ và đối chiếu với các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực
tại thời điểm đó để xác định họ có hay không có quốc tịch Việt Nam. Điều 9 đã
hướng dẫn theo hướng liệt kê các văn bản pháp luật về quốc tịch qua các thời kỳ
để cơ quan thực hiện việc đăng ký đối chiếu, áp dụng. Quá trình áp dụng các văn
bản pháp luật nêu trên trong các trường hợp cụ thể để xác định quốc tịch Việt
Nam của người đăng ký giữ quốc tịch, các giấy tờ về quốc tịch, nhân thân, hộ
tịch do các chế độ cũ cấp trước ngày 30/4/1975 cũng là căn cứ để xác định một
người có hay không có quốc tịch Việt Nam; nếu có vướng mắc thì Cơ quan đại diện
Việt Nam ở nước ngoài phản ánh về Bộ Ngoại giao để phối hợp với Bộ Tư pháp và
Bộ Công an kịp thời hướng dẫn.
3.8. Xác minh quốc tịch Việt Nam của
người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam (Điều 10)
.Căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều
20 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP, Điều 7 Thông tư đã hướng dẫn cụ thể việc xác
minh có hay không có quốc tịch Việt Nam của người yêu cầu đăng ký giữ quốc tịch
Việt Nam. Trường hợp phải xác minh do không có đủ giấy tờ để chúng minh quốc
tịch Việt Nam hoặc giấy tờ chứng minh không rõ thì người đăng ký cần cung cấp
cho Cơ quan đăng ký những thông tin và giấy tờ cần thiết có liên quan để phục
vụ việc xác minh quốc tịch; người yêu cầu đăng ký giữ quốc tịch cung cấp càng
nhiều thông tin thì càng dễ dàng, thuận lợi trong việc xác minh của cơ quan
Ngoại giao, Tư pháp, Công an. Các giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài cấp trong đó có ghi quốc tịch Việt Nam của người đăng ký có giá trị làm
căn cứ để xem xét trong việc xác định quốc tịch của đương sự. Quy trình và thời
hạn xác minh tại các cơ quan cũng được hướng dẫn cụ thể tại khoản 2. Trên cơ sở
hướng dẫn này, Cơ quan đăng ký có thể chủ động phối hợp với các cơ quan có liên
quan trong nước trong việc tiến hành xác minh xem người đăng ký có hay không có
quốc tịch Việt Nam.
3.9. Thông báo có quốc tịch nước ngoài (Điều 11)
Căn cứ vào Điều 21 Nghị định số
78/2009/NĐ-CP, cần phải có hướng dẫn cụ thể về hình thức thông báo có quốc tịch
nước ngoài đối với công dân Việt Nam đồng thời có hai hay nhiều quốc tịch nước
ngoài. Việc thông báo có quốc tịch nước ngoài rất cần thiết để quản lý chặt chẽ
người có hai quốc tịch trở lên, tạo điều kiện để thực hiện bảo hộ công dân cũng
như thuận lợi khi tham gia vào các quan hệ pháp lý. Tuy nhiên, thủ tục thông
báo cần phải thông thoáng để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân. Vì vậy,
Điều 11 Thông tư hướng dẫn hình thức của việc thông báo phải bằng văn bản trong
đó có các nội dung chi tiết liên quan, có
chữ ký của người thông báo, kèm theo bản sao giấy tờ chứng minh quốc tịch nước ngoài
của người đó.
Ngoài ra, để tạo điều kiện cho người dân,
đương sự có thể đến Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; trường hợp không
thể trực tiếp đến thông báo thì có thể thông qua người thân hoặc có thể gửi văn
bản thông báo có quốc tịch nước ngoài qua đường bưu điện và văn bản thông báo
đó phải kèm theo bản sao giấy tờ tuỳ thân.
3.10. Báo cáo tình hình đăng ký giữ quốc
tịch Việt Nam, thông báo có quốc tịch nước ngoài (Điều 12)
Để có thể thực hiện tốt việc quản lý
nhà nước về quốc tịch và bảo hộ công dân đối với những người đã thực hiện việc
đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam và thông báo việc đồng thời có quốc tịch nước
ngoài, cần thiết phải hướng dẫn cụ thể cho các cơ quan quản lý ở trong và ngoài
nước định ký báo cáo cho nhau kết quả và tình hình thực hiện các việc nêu trên,
tạo cở sở để so sánh, đối chiếu, phục vụ công tác quản lý, thống kê, tổng hợp,
báo cáo.
3.11. Xác nhận có quốc tịch Việt Nam, xác
nhận là người gốc Việt Nam (Điều 13)
Trước đây, Luật Quốc tịch Việt Nam
năm 1998 có quy định về việc cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam. Nhưng
Luật Quốc tịch năm 2008 không còn quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, trên thực
tế, nhu cầu của công dân về việc cấp loại giấy này vẫn còn nhiều để phục vụ các
quan hệ pháp lý như làm hồ sơ nhập học, hồ sơ xin học bổng, hồ sơ xin việc làm,
đăng ký kinh doanh, thương mại, bổ nhiệm, làm thủ tục hưởng các chế độ đãi
ngộ.... Ngay khi Luật năm 2008 có hiệu lực, Bộ Tư pháp đã nhận được nhiều công
văn của các Sở Tư pháp địa phương và đơn, thư của người dân đề nghị hướng dẫn
để tháo gỡ vướng mắc này. Mặc dù đã xuất trình những giấy tờ chứng minh quốc
tịch Việt Nam nhưng nhiều cơ quan trong và ngoài nước vẫn yêu cầu có giấy xác
nhận có quốc tịch Việt Nam. Thực tế cũng có khá nhiều người đã thôi quốc tịch
Việt Nam nhưng họ vẫn có thể xuất trình giấy khai sinh, chứng minh nhân dân
hoặc hộ chiếu được cấp từ trước khi thôi quốc tịch. Với chức năng quản lý nhà
nước về quốc tịch, các cơ quan quản lý quốc tịch ở trong và ngoài nước, sau khi
kiểm tra, xem xét các giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam do người yêu cầu
nộp và tra cứu danh sách những công dân Việt Nam đã được Chủ tịch nước cho thôi
quốc tịch Việt Nam, bị tước quốc tịch Việt Nam qua hệ thống lưu trữ của Bộ Tư
pháp, trả lời bằng văn bản trong đó có nội dung xác nhận một người có quốc tịch
Việt Nam. Trong cảc trường hợp, việc đề nghị tra cứu thông tin tại Bộ Tư pháp
là cần thiểt trong điều kiện chưa có cơ sở dữ liệu quốc tịch điện tử và chưa
nối mạng được giữa Bộ Tư pháp, các Cơ quan đại diện và các UBND cấp tỉnh với
nhau. Tuy nhiên, đối với trường hợp mà đương sự xuất trình đầy đủ giấy tờ
chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy
định của Điều 11 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và giấy tờ đó vừa mới được cơ
quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, có đủ sự tin cậy để xác nhận, thì không
nhất thiết phải tra cứu ở Bộ Tư pháp.
Việc xác nhận người gốc Việt Nam cũng
là một nhu cầu đang đặt ra trong thực tiễn hiện nay do các quy định của pháp
luật Việt Nam nhất là các quy định có liên quan đến nhà ở, đất đai, đầu tư có
những ưu đãi riêng đối với những người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài, họ
đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra có quốc tịch Việt Nam theo huyết
thống hoặc con cháu của họ.
Vì vậy, Điều 13 Thông tư liên tịch có
hướng dẫn về việc Sở Tư pháp và Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, theo
yêu cầu của người dân, trả lời bằng văn bản trong đó xác nhận có quốc tịch Việt
Nam hoặc xác nhận là người gốc Việt Nam. Quy định này nhằm tháo gỡ vướng mắc
phát sinh trong thực tế và cũng không trái với Luật Quốc tịch Việt Nam năm
2008, vì đây không phải là hình thức cấp “Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam”
hoặc “Giấy xác nhận là người gốc Việt Nam” mà là việc trả lời dưới hình thức
văn bản đối với yêu cầu của người dân. Trong cảc trường hợp, việc đề nghị tra
cứu thông tin tại Bộ Tư pháp cũng là cần thiểt trong điều kiện chưa có cơ sở dữ
liệu quốc tịch điện tử và chưa nối mạng được giữa Bộ Tư pháp, các Cơ quan đại
diện và các UBND cấp tỉnh với nhau. Tuy nhiên, đối với trường hợp mà đương sự
xuất trình đầy đủ giấy tờ chứng minh rõ ràng rằng mới bị mất quốc tịch Việt
Nam, giấy tờ đó có đủ sự tin cậy để xác nhận người đó có quốc tịch theo huyết
thống khi sinh ra và đã từng có quốc tịch Việt Nam, thì không nhất thiết phải
tra cứu ở Bộ Tư pháp.
3.12. Ghi chú vào sổ hộ tịch các việc về
quốc tịch (các Điều 14
và 15)
Hộ tịch và quốc tịch có mối liên hệ
mật thiết với nhau, những thông tin về quốc tịch của một người khi có sự thay
đổi cần phải được ghi chú vào sổ hộ tịch. Khi công dân Việt Nam có thay đổi
quốc tịch do được nhập, được trở lại, được thôi quốc tịch Việt Nam hoặc đối với
Công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài, thì những thông tin đó
nhất thiết phải được ghi chú, cập nhật tại cơ quan tư pháp đăng ký hộ tịch ở
trong nước hoặc tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Nếu một người có
thay đổi về quốc tịch mà không ghi chú vào Sổ đăng ký khai sinh những thông tin
đó thì sau này cơ quan quản lý hộ tịch rất dễ bị những sai sót khi cấp các giấy
tờ hộ tịch (ví dụ: một người đã thôi quốc tịch Việt Nam năm 2000, nhưng trở lại
quốc tịch Việt Nam năm 2010, đến năm 2012 xin cấp lại bản chính hoặc xin cấp
bản sao từ sổ gốc). Vì vậy, căn cứ vào các Điều 23, 24 và 25 Nghị định số
78/2009/NĐ-CP, vận dụng các quy định về pháp luật hộ tịch hiện hành, Thông tư
liên tịch đã hướng dẫn cụ thể việc ghi chú vào Sổ đăng ký khai sinh việc nhập,
trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam (Điều
14); ghi chú vào Sổ đăng ký khai sinh việc công dân Việt Nam thông báo có quốc
tịch nước ngoài đối với trường hợp đã đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm
quyền đăng ký khai sinh ở trong nước hoặc Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước
ngoài (Điều 15); Việc ghi chú này cũng có ý nghĩa quan trọng, làm căn cứ để cơ
quan đăng ký hộ tịch cấp các giấy tờ về hộ tịch trong đó cập nhật được tình
trạng quốc tịch của công dân./.