ĐẶC SAN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG VẤN ĐỀ QUỐC TỊCH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA MỘT SỐ VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM 2008

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC

PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ



                                     
 

 

 

 

 

 


ĐẶC SAN

TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT

Số 10/2010

 

 

 

 

 

CHỦ ĐỀ  

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG

VẤN ĐỀ QUỐC TỊCH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN

CỦA MỘT SỐ VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH

LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM NĂM 2008

 

 

 

 

 

 

 

 

HÀ NỘI - NĂM 2010

CHUYÊN ĐỀ

 

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

TRONG VẤN ĐỀ QUỐC TỊCH  VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN

CỦA MỘT SỐ VĂN BẢN MỚI HƯỚNG DẪN THI HÀNH

LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM NĂM 2008



 


                                                   Phần thứ nhất

 

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

TRONG LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM

VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH

 

Ngày nay, cải cách hành chính là vấn đề mang tính toàn cầu. Cả các nước đang phát triển và các nước phát triển đều xem cải cách hành chính như một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng cường kinh tế, phát triển dân chủ và các mặt khác của đời sống xã hội. Cải cách thủ tục hành chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của mục tiêu cải cách hành chính của các nước nói chung, đặc biệt ở nước ta cải cách thủ tục hành chính được Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng. Tại các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước về nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đều chú trọng đến cải cách hành chính, Chính phủ đã xây dựng một Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001- 2010 trong đó cải cách về thủ tục hành chính là một nội dung then chốt.

Cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và công bằng trong khi giải quyết các công việc hành chính. Loại bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho dân. Mẫu hoá thống nhất các loại giấy tờ mà công dân cần phải làm khi có yêu cầu giải quyết các công việc về sản xuất, kinh doanh và đời sống…..Từ những mục tiêu quan trọng của Chương trình tổng thể cải cách hành chính, việc cải cách thủ tục hành chính về quốc tịch được Quốc hội và các cơ quan quản lý Nhà nước về quốc tịch đặc biệt quan tâm, việc sửa đổi Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 và xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật theo hướng cải cách về thủ tục hành chính là cần thiết.

Ngày 13 tháng 11 năm 2008 tại kỳ họp thứ tư Quốc hội đã thông qua Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 thay thế Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2009. Tiếp theo, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này được ban hành: ngày 22 tháng 9 năm 2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam; ngày 01 tháng 3 năm 2010 Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Bộ Công an đã ban hành Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT/BTP-BNG-BCA hướng dẫn thi hành Nghị định số 78/2009/NĐ-CP; ngày 25 tháng 3 năm 2010 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 08/2010/TT-BTP Hướng dẫn mẫu giấy tờ về quốc tịch và mẫu số tiếp nhận các việc về quốc tịch.

Kế thừa những điểm cơ bản của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã bổ sung các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch, nhằm cải cách thủ tục, công khai minh bạch hoá các trình tự, thủ tục, quy định thời gian giải quyết hồ sơ ở từng giai đoạn trong quy trình, tương ứng với trách nhiệm và tính chất công việc phải giải quyết của từng cơ quan, rút ngắn đáng kể thời gian giải quyết các việc về quốc tịch, tạo điều kiện cho người dân có cơ sở pháp lý yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các việc về quốc tịch. Cụ thể việc cải cách thủ tục hành chính được quy định trong các văn bản quốc tịch hiện hành như sau:

I. TRONG VẤN ĐỀ NHẬP QUỐC TỊCH VIỆT NAM

Để thấy rõ được trình tự, thủ tục nhập quốc tịch Việt Nam được cải cách như thế nào, trước hết chúng ta nhìn lại các trình tự, thủ tục nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật Quốc tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành từ năm 1998 đến nay. Cụ thể như sau:

1.      Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 và các văn bản hướng dẫn thi hành

1.1   Luật Quốc tịch Việt Nan năm 1998

“Điều 20. Nhập quốc tịch Việt Nam: 1. Công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam, thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện sau đây: a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam; b) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam; c) Biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng xã hội Việt Nam; d) Đã thường trú ở Việt Nam từ năm năm trở lên; đ) Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam. 2. Công dân nước ngoài và người không quốc tịch có thể được nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải có đủ các điều kiện quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều này, nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây: a) Là vợ, chồng, con, cha hoặc mẹ của công dân Việt Nam; b) Có công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; c) Có lợi cho Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam...”

“Điều 8 Nghị định số 104/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 1998 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật quốc tịch Việt Nam, hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam như sau: 1. Người nước ngoài xin nhập quốc tịch Việt Nam phải làm đơn theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định. Kèm theo đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam phải có các giấy tờ sau đây : a) Bản sao Giấy khai sinh hoặc giấy tờ khác có giá trị thay thế, kể cả của con chưa thành niên, nếu đồng thời xin nhập quốc tịch cho người đó; b) Bản khai lý lịch theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định; c) Phiếu xác nhận lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, nơi đương sự thường trú, cấp; trong trường hợp đương sự không thường trú ở Việt Nam thì nộp phiếu xác nhận lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước mà đương sự là công dân hoặc thường trú, cấp; d) Giấy chứng nhận trình độ tiếng Việt, bao gồm cả hiểu biết về văn hóa, lịch sử và pháp luật của Việt Nam theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tư pháp; đ) Giấy xác nhận về thời gian đã thường trú liên tục ở Việt Nam do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã), nơi đương sự thường trú, cấp; nếu trước đây đương sự thường trú ở địa phương khác, thì còn phải có giấy xác nhận về thời gian đã thường trú do Ủy ban nhân dân cấp xã của địa phương đó cấp; e) Giấy xác nhận về chỗ ở, việc làm, thu nhập hợp pháp hoặc tình trạng tài sản tại Việt Nam do Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đương sự thường trú, cấp; g) Bản cam kết về việc từ bỏ quốc tịch nước ngoài (nếu có) khi được nhập quốc tịch Việt Nam. Trường hợp mặc nhiên mất quốc tịch nước ngoài khi được nhập quốc tịch Việt Nam thì Bản cam kết trên được thay bằng giấy xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà đương sự là công dân về việc pháp luật của nước đó quy định mặc nhiên mất quốc tịch trong trường hợp này.

Trong trường hợp đặc biệt, khi người xin nhập quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài của họ theo quy định tại khoản 3 Điều 20 của Luật Quốc tịch Việt Nam, thì không phải nộp giấy tờ quy định tại điểm này, nhưng phải làm đơn xin giữ quốc tịch nước ngoài theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định; trong đơn phải nêu rõ lý do xin giữ quốc tịch nước ngoài và cam kết việc giữ quốc tịch nước ngoài không cản trở việc thực hiện quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam...”

1.2 Nghị định số 104/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 1998 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật quốc tịch Việt Nam

Trình tự thủ tục về việc được quy định tại 3 điều của Nghị định cụ thể:

“Điều 9. Miễn, giảm điều kiện xin nhập quốc tịch Việt Nam: 1. Việc miễn, giảm một số điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam được quy định như sau: a) Người có chồng, vợ, cha, mẹ hoặc con là công dân Việt Nam; người có Huân chương, Huy chương, danh hiệu cao quý do Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng hoặc có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, thì được giảm 02 năm về điều kiện thời gian đã thường trú liên tục ở Việt Nam và được miễn các điều kiện về biết tiếng Việt và khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam; b) Trong trường hợp cá biệt, khi việc nhập quốc tịch Việt Nam của người nước ngoài sẽ có lợi đặc biệt cho sự phát triển kinh tế, xã hội, khoa học, an ninh quốc phòng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì được miễn các điều kiện về thời gian đã thường trú ở Việt Nam, biết tiếng Việt và khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam...”.

“Điều 10. Thủ tục, trình tự giải quyết tại cấp tỉnh:1. Trong thời hạn 04 tháng, kể từ ngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo Sở Tư pháp, thẩm tra hồ sơ, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, kết luận và đề nghị Bộ Tư pháp về việc giải quyết hồ sơ đó; 2. Trình tự giải quyết hồ sơ được quy định như sau: a) Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và thu lệ phí, Sở Tư pháp có văn bản gửi cơ quan Công an cùng cấp (sau đây gọi là Công an cấp tỉnh), kèm theo 01 bộ hồ sơ để thẩm tra về nhân thân; b) Trong thời hạn 30 ngày tiếp theo, Sở Tư pháp phải thẩm tra hồ sơ, đối chiếu lời khai, chứng nhận và giấy tờ của đương sự với các điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam; Trong trường hợp xét thấy cần thẩm tra bổ sung về các điều kiện thực tế của người xin nhập quốc tịch Việt Nam (như về năng lực hành vi, thời gian đã thường trú ở Việt Nam, khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam hay trình độ tiếng Việt), Sở Tư pháp phối hợp với các cơ quan chuyên môn thực hiện; c) Trong thời hạn 60 ngày đối với Công an cấp tỉnh và 30 ngày đối với các cơ quan chuyên môn khác, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Sở Tư pháp, các cơ quan này phải tiến hành thẩm tra theo chức năng chuyên ngành và trả lời bằng văn bản cho Sở Tư pháp; d) Ngay sau ngày nhận được kết quả thẩm tra của Công an cấp tỉnh và các cơ quan chuyên môn khác, Sở Tư pháp dự thảo văn bản, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, kết luận và ký văn bản đề nghị Bộ Tư pháp, kèm theo 02 bộ hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam của đương sự....”.

“Điều 11. Thủ tục, trình tự giải quyết tại Cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam: 1. Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và thu lệ phí đối với trường hợp cá biệt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Nghị định này, Cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam phải xem xét, thẩm tra hồ sơ, đối chiếu lời khai, chứng nhận và các giấy tờ của đương sự với các điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam và có văn bản kết luận, đề nghị việc giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam gửi Bộ Ngoại giao để chuyển cho Bộ Tư pháp, kèm theo 02 bộ hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam của đương sự; 2. Trong trường hợp kết luận đương sự chưa có đủ điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam, Cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam thông báo bằng văn bản cho đương sự biết; nếu đương sự không nhất trí với kết luận đó, thì có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật”.

“Điều 12. Thủ tục, trình tự giải quyết tại cấp Trung ương: 1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ và nếu xét thấy hồ sơ đã  hoàn tất, đương sự là người có đủ điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật, thì có văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ để được ủy quyền ký Tờ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. Trong trường hợp xét thấy hồ sơ chưa hoàn tất hoặc có vấn đề cần làm rõ trong hồ sơ, Bộ Tư pháp có văn bản yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc thông qua Bộ Ngoại giao yêu cầu Cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam hoàn tất hồ sơ hoặc thẩm tra bổ sung. Trong trường hợp này thì thời hạn trên là 75 ngày. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam phải hoàn tất hồ sơ hoặc làm rõ những vấn đề được yêu cầu và trả lời bằng văn bản cho Bộ Tư pháp; 2. Ngay sau ngày nhận được ý kiến ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam về việc đương sự đã hoàn tất hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam. Trong trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam cấp cho người xin nhập quốc tịch Việt Nam Giấy xác nhận về việc hoàn tất hồ sơ để người đó làm thủ tục xin thôi quốc tịch nước ngoài của họ; 3. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được ý kiến ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, hoặc trong trường hợp cần thiết, thì kể từ ngày nhận được Giấy xác nhận thôi quốc tịch nước ngoài của đương sự, Bộ Tư pháp hoàn tất hồ sơ; Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, ký Tờ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định, kèm theo 01 bộ hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam của đương sự. Đối với trường hợp đặc biệt đương sự xin giữ quốc tịch nước ngoài, trong Tờ trình phải nêu rõ đề nghị về việc đó...”.

1.3 Thông tư số 09/1998/TTLT/BGD&ĐT-BTP ngày 31 tháng 12 năm 1998 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tư pháp quy định một trong những văn bằng chứng chỉ Giấy chứng nhận trình độ tiếng Việt

Để cụ thể hóa về điều kiện và giấy tờ chứng minh trình độ tiếng Việt để xem xét cho nhập quốc tịch Việt Nam được quy định tại Thông tư số 09/1998/TTLT/BGD&ĐT-BTP ngày 31 tháng 12 năm 1998 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tư pháp quy định một trong những văn bằng chứng chỉ Giấy chứng nhận trình độ tiếng Việt.

“Giấy chứng nhận trình độ tiếng Việt quy định tại Thông tư liên tịch này (sau đây gọi là Thông tư) là căn cứ để công nhận người nước ngoài biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng xã hội Việt Nam theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 20 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998.

1.    Các văn bằng và chứng chỉ sau đây có giá trị là Giấy chứng nhận trình độ tiếng Việt: Chứng chỉ trình độ tiếng Việt do các cơ sở đào tạo quy định tại điểm 3 của Thông tư này cấp; Bằng tốt nghiệp các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp hoặc Trung học phổ thông của Việt Nam; Bằng tốt nghiệp Khoa tiếng Việt của một trường đại học của nước ngoài. 2.Người nước ngoài xin nhập quốc tịch Việt Nam mà không có một trong các loại văn bằng quy định tại mục b và mục c điểm 2 của Thông tư này phải nộp đơn đăng ký kiểm tra trình độ tiếng Việt (theo mẫu quy định) tại một trong các Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn của Việt Nam và nộp lệ phí kiểm tra. 3. Sau khi nhận được Đơn đăng ký và kiểm tra trình độ tiếng Việt, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn phải có kế hoạch tổ chức kiểm tra và thông báo thời gian, địa điểm, nội dung kiểm tra cho người nộp đơn biết. 4. Chứng  chỉ trình độ tiếng Việt được cấp cho người đạt trình độ tiếng Việt và hiểu biết về văn hoá, lịch sử, pháp luật Việt Nam theo chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt. 5. Hiệu trưởng các trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn có trách nhiệm chuẩn bị chương trình giảng dạy tiếng Việt, văn hoá, lịch sử và pháp luật Việt Nam phù hợp và bảo đảm việc kiểm tra theo đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 6. Chứng chỉ trình độ tiếng Việt do Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn của Việt Nam cấp và có giá trị trong thời hạn 02 năm...”.

     Theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 và các văn bản hướng dẫn thi hành, có một số quy định không hợp lý, như về thời hạn giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam là 12 tháng, trong đó thời hạn tại cấp tỉnh là 04 tháng (thời hạn quy định như vậy là quá dài). Về chứng chỉ biết tiếng Việt được quy định như trên ta thấy, quy định này có nhiều bất cập, vì số lượng lớn người nước ngoài xin nhập quốc tịch Việt Nam đã sinh sống tại Việt Nam trên 20 năm và đã lớn tuổi, hoặc đối tượng nghèo, người dân tộc ở vùng biên giới Lào, Campuchia, Trung Quốc. Nếu bắt họ phải theo học khóa đào tạo tiếng Việt tại trường Đại học là điều khó thực hiện được.

     Ngoài ra Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 và các văn bản hướng dẫn thi hành còn quy định một số điều kiện không rõ ràng, rườm rà, quá chung chung, gây khó khăn cho người xin nhập quốc tịch Việt Nam và cho cán bộ trực tiếp giải quyết, như điều kiện thường trú 5 năm tại Việt Nam, điều kiện để bảo đảm cuộc sống..... Chính vì như vậy, nên Luật Quốc tịch năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã sửa đổi và cải cách theo hướng thuận lợi hơn cho người dân cũng như cán bộ thi hành công vụ.

     2. Các quy định cụ về trình tự, thủ tục nhập quốc tịch Việt Nam trong Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

2.1 Nhập quốc tịch Việt Nam được quy định tại Điều 19, 20, 21 và Điều 22 Luật Quốc tịch năm 2008

 “Điều 19. Điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam: 1. Công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện sau đây: a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam; b) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam; c) Biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam; d) Đã thường trú ở Việt Nam từ 5 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam; đ) Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam.

2. Người xin nhập quốc tịch Việt Nam có thể được nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải có các điều kiện quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều này, nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây: a) Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam; b) Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; c) Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam….”

“Điều 20. Hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Name: 1. Hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam gồm có các giấy tờ sau đây: a) Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam; b) Bản sao Giấy khai sinh, Hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay thế; c) Bản khai lý lịch; d) Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp đối với thời gian người xin nhập quốc tịch Việt Nam cư trú ở Việt Nam, Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp đối với thời gian người xin nhập quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Phiếu lý lịch tư pháp phải là phiếu được cấp không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ sơ; đ) Giấy tờ chứng minh trình độ Tiếng Việt; e) Giấy tờ chứng minh về chỗ ở, thời gian thường trú ở Việt Nam; g) Giấy tờ chứng minh bảo đảm cuộc sống ở Việt Nam….”.

“Điều 21. Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam: 1. Người xin nhập quốc tịch Việt Nam nộp hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi cư trú. Trong trường hợp hồ sơ không có đầy đủ các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 20 của Luật này hoặc không hợp lệ thì Sở Tư pháp thông báo ngay để người xin nhập quốc tịch Việt Nam bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp gửi văn bản đề nghị cơ quan Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) xác minh về nhân thân của người xin nhập quốc tịch Việt Nam. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, cơ quan Công an cấp tỉnh có trách nhiệm xác minh và gửi kết quả đến Sở Tư pháp. Trong thời gian này, Sở Tư pháp phải tiến hành thẩm tra giấy tờ trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, Sở Tư pháp có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, kết luận và đề xuất ý kiến gửi Bộ Tư pháp.

3. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề xuất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy có đủ điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam thì gửi thông báo bằng văn bản cho người xin nhập quốc tịch Việt Nam để làm thủ tục xin thôi quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài hoặc là người không quốc tịch. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được giấy cho thôi quốc tịch nước ngoài của người xin nhập quốc tịch Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. Trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài, người xin nhập quốc tịch Việt Nam là người không quốc tịch thì trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề xuất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy người xin nhập quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.

4. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước xem xét, quyết định.”

“Điều 22. Trình tự, thủ tục và hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam đối với người không quốc tịch đã cư trú ổn định tại Việt Nam: Người không quốc tịch mà không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân, nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên tính đến ngày Luật này có hiệu lực và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục và hồ sơ do Chính phủ quy định”

2.2 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008

“Điều 5. Một số điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam: Các điểm c, d và đ khoản 1 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam được quy định như sau: 1. Biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được đánh giá trên cơ sở khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt với công dân Việt Nam trong cuộc sống, phù hợp với môi trường sống và làm việc của người đó. 2. Người xin nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam phải là người đang thường trú tại Việt Nam và được cơ quan công an có thẩm quyền của Việt Nam cấp thẻ thường trú. Thời gian thường trú tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được tính từ ngày người đó được cấp thẻ thường trú. 3. Khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được chứng minh bằng tài sản, nguồn thu nhập hợp pháp của người đó hoặc sự bảo lãnh của tổ chức, cá nhân tại Việt Nam.

Điều 6. Những trường hợp được miễn một số điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam: Các điểm b và c khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam được quy định như sau: 1. Người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam phải là người được tặng thưởng Huân chương, Huy chương, danh hiệu cao quý khác của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam xác nhận về công lao đặc biệt đó. 2. Người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là người có tài năng trong các lĩnh vực khoa học, kinh tế, văn hoá, xã hội, nghệ thuật, thể thao, được cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng nhận và cơ quan quản lý nhà nước cấp bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận việc nhập quốc tịch của họ sẽ đóng góp cho sự phát triển trong các lĩnh vực nói trên của Việt Nam.

Điều 7. Một số giấy tờ trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam: 1. Các giấy tờ quy định tại điểm b, đ, e và g khoản 1 Điều 20 Luật Quốc tịch Việt Nam được quy định như sau: a) Giấy tờ khác có giá trị thay thế Giấy khai sinh, Hộ chiếu của người xin nhập quốc tịch Việt Nam là những giấy tờ có giá trị chứng minh quốc tịch nước ngoài của người đó; b) Giấy tờ chứng minh trình độ tiếng Việt của người xin nhập quốc tịch Việt Nam là một trong các giấy tờ sau đây: bản sao bằng tốt nghiệp sau đại học, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trung học phổ thông hoặc trung học cơ sở của Việt Nam; bản sao văn bằng hoặc chứng chỉ chứng nhận trình độ tiếng Việt do cơ sở đào tạo tiếng Việt của Việt Nam cấp.

Trong trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam khai báo biết tiếng Việt đủ để hoà nhập theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này, nhưng không có một trong các giấy tờ nêu trên, thì Sở Tư pháp tổ chức phỏng vấn trực tiếp để kiểm tra trình độ tiếng Việt của người đó theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp. Kết quả phỏng vấn phải được lập thành văn bản; người trực tiếp phỏng vấn căn cứ vào tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này để đề xuất ý kiến và chịu trách nhiệm về ý kiến đề xuất của mình; c) Bản sao Giấy khai sinh của người con chưa thành niên cùng nhập quốc tịch Việt Nam theo cha mẹ hoặc giấy tờ khác chứng minh quan hệ cha con, mẹ con. Trường hợp chỉ cha hoặc mẹ nhập quốc tịch Việt Nam mà con chưa thành niên sinh sống cùng người đó nhập quốc tịch Việt Nam theo cha hoặc mẹ thì còn phải nộp văn bản thoả thuận của cha mẹ về việc nhập quốc tịch Việt Nam cho con; d) Bản sao Thẻ thường trú; đ) Giấy tờ chứng minh bảo đảm cuộc sống ở Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam gồm một trong các giấy tờ sau: giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản; giấy xác nhận mức lương hoặc thu nhập do cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc cấp; giấy xác nhận của cơ quan thuế về thu nhập chịu thuế; giấy tờ chứng minh được sự bảo lãnh của tổ chức, cá nhân tại Việt Nam; giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi thường trú của người xin nhập quốc tịch Việt Nam về khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người đó.

2. Người được miễn một số điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam thì nộp giấy tờ chứng minh điều kiện được miễn, cụ thể là: a) Người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam phải nộp bản sao Giấy chứng nhận kết hôn chứng minh quan hệ hôn nhân; b) Người là cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam phải nộp bản sao Giấy khai sinh hoặc giấy tờ hợp lệ khác chứng minh quan hệ cha con, mẹ con; c) Người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam phải nộp bản sao Huân chương, Huy chương, giấy chứng nhận danh hiệu cao quý khác hoặc giấy xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam; d) Người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải nộp giấy chứng nhận của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, được cơ quan quản lý nhà nước cấp bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận về việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ sẽ đóng góp cho sự phát triển của một trong các lĩnh vực nói tại khoản 2 Điều 6 Nghị định…”.

“Điều 8. Giải quyết việc nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của Điều 22 Luật Quốc tịch Việt Nam: 1. Người không quốc tịch, không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân, đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ ngày 01 tháng 7 năm 1989 trở về trước (sau đây gọi là người không quốc tịch) có nguyện vọng được nhập quốc tịch Việt Nam thì làm hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam gồm Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam và Bản khai lý lịch theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định. 2. Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam của người không quốc tịch quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện như sau: a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở Tư pháp phối hợp với cơ quan Công an cấp tỉnh, Sở Ngoại vụ (nếu có) và Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp huyện) hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc rà soát, lập danh sách, hỗ trợ làm hồ sơ, xác minh về nhân thân của người xin nhập quốc tịch Việt Nam. Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét danh sách và hồ sơ xin nhập quốc tịch và đề nghị Sở Tư pháp giải quyết việc cho nhập quốc tịch Việt Nam. Sở Tư pháp phối hợp với cơ quan Công an cấp tỉnh, Sở Ngoại vụ thẩm định, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, kết luận và đề xuất về việc xin nhập quốc tịch Việt Nam của những người trong danh sách và gửi Bộ Tư pháp; c) Căn cứ vào danh sách và hồ sơ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề xuất, Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ ký tờ trình kèm theo danh sách và hồ sơ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Tư pháp trao đổi với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao trước khi trình Chủ tịch nước. 3. Thời hạn nộp hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều này đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2012. Hết thời hạn này, những người nói tại khoản 1 Điều này mà chưa nộp hồ sơ, nếu có nguyện vọng nhập quốc tịch Việt Nam, thì việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ được giải quyết theo quy định tại các Điều 19, 20 và 21 Luật Quốc tịch Việt Nam. 4. Bộ Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc xây dựng kế hoạch rà soát, lập danh sách và hỗ trợ việc giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam cho những người quy định tại khoản 1 Điều này”.

- Về khả năng biết tiếng Việt của người xin nhập quốc tịch Việt Nam: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam thì một trong những điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam là phải “biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam”. Khoản 1 Điều 5 Nghị định đã quy định cụ thể vấn đề này. Đồng thời, điểm b khoản 1 Điều 7 quy định rõ các loại giấy tờ chứng minh trình độ tiếng Việt của người xin nhập quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, trong thực tế, không phải tất cả những người xin nhập quốc tịch Việt Nam, đặc biệt là người nghèo đều có điều kiện theo học để được cấp văn bằng, chứng chỉ chứng nhận trình độ tiếng Việt. Do đó, Nghị định quy định bổ sung trường hợp không có văn bằng, chứng chỉ nhưng khai báo biết tiếng Việt thì sẽ được kiểm tra trình độ tiếng Việt theo hình thức phỏng vấn để đánh giá người đó có biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam hay không. Về thủ tục này đã tạo điều kiện thuận tiện rất nhiều cho người dân, đặc biệt là người có hoàn cảnh khó khăn.

- Về điều kiện thường trú tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam: Theo quy định của Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam thì điều kiện bắt buộc chung đối với người xin nhập quốc tịch Việt Nam là phải thường trú tại Việt Nam. Để phân biệt rõ giữa thường trú và tạm trú, khoản 2 Điều 5  Nghị định quy định người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải là người đang thường trú tại Việt Nam và được cơ quan Công an có thẩm quyền của Việt Nam cấp Thẻ thường trú. Thời gian thường trú tối thiểu 5 năm của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được tính từ ngày người đó được cấp thẻ thường trú (thời gian tạm trú không được tính). Riêng đối với người được miễn một số điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam thì không bắt buộc phải có đủ 5 năm thường trú tại Việt Nam nhưng vẫn phải là người đã được cấp thẻ thường trú. Quy định này để bảo đảm người nhập quốc tịch Việt Nam gắn bó với tổ quốc Việt Nam, dân tộc Việt Nam một cách ổn định.

- Về điều kiện bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam: Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam thì một trong những điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam là người nhập quốc tịch phải “có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam”. Khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam chủ yếu là khả năng về vật chất, khả năng này được xem xét, đánh giá từ rất nhiều nguồn khác nhau. Vì vậy, Nghị định quy định khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được chứng minh bằng tài sản, nguồn thu nhập hợp pháp của người đó hoặc sự bảo lãnh của tổ chức, cá nhân tại Việt Nam (điểm đ khoản 1 Điều 7 của  Nghị định). Quy định đã cụ thể hơn so với quy định của Nghi định số 104/1998/NĐ- CP ngày 31/12/1998 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch 1998.

- Về giấy tờ chứng minh một số trường hợp được miễn điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam

Để làm rõ trường hợp được miễn một số điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam, Nghị định đã quy định thể tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 7 Nghị định: các giấy tờ chứng minh có trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam như bản sao Giấy chứng nhận kết hôn chứng minh quan hệ hôn nhân của người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam, bản sao Giấy khai sinh chứng minh quan hệ cha con, mẹ con....

- Về giải quyết việc nhập quốc tịch Việt Nam cho người không quốc tịch. Người không quốc tịch không có các giấy tờ về nhân thân cư trú lâu năm trên lãnh thổ Việt Nam là một thực tế tồn đọng từ nhiều năm nay chưa giải quyết xong. Trong quá trình xây dựng dự án Luật quốc tịch Việt Nam, vấn đề này đã được thảo luận kỹ và tinh thần là giải quyết việc nhập quốc tịch Việt Nam cho những người thuộc đối tượng nêu trên theo quy trình, thủ tục đơn giản.

Nhìn chung, Nghị định đã được thể hiện theo tinh thần nêu trên, đồng thời đề cao trách nhiệm và tính chủ động của các cơ quan của nhà nước trong việc giải quyết vấn đề quốc tịch cho những người không quốc tịch thuộc diện quy định tại Điều 22 Luật quốc tịch Việt Nam, nhằm giúp những người không quốc tịch ổn định cuộc sống. Để thực hiện nhiệm vụ nêu trên, Uỷ ban nhân dân các tỉnh nơi có người không quốc tịch sinh sống sẽ phải chỉ đạo các Sở, ban, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã rà soát, lập danh sách, hỗ trợ người không quốc tịch hoàn thiện về hồ sơ và đề xuất ý kiến gửi Bộ Tư pháp. Đây là công việc mang tính chất quá độ, chuyển tiếp nhằm giải quyết những tồn đọng của nhiều năm nay về vấn đề người không quốc tịch cư trú trên lãnh thổ Việt Nam nên nhiệm vụ này cần được xác định thời hạn để giải quyết dứt điểm, theo đó, khoản 3 Điều 8 Nghị định quy định thời hạn giải quyết đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2012. Quy định nêu trên cũng là phù hợp với Luật quốc tịch. Do có sự đổi mới và cải cách một cách cơ bản về trình tự, thủ tục các hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam mà từ tháng 07/2009 đến nay đã có 458 người nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam.

 

II. VẤN ĐỀ TRỞ LẠI QUỐC TỊCH VIỆT NAM

So với Luật Quốc tịch năm 1998 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, thì các quy định về trình tự, thủ tục  trở lại quốc tịch của Luật Quốc tịch năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã sửa đổi, bổ sung theo hướng cải cách, minh bạch và đơn giản, thuận lợi cho người dân cũng như các cơ quan trực tiếp tiếp nhận và giải quyết hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam.

1. Các quy định của Luật Quốc tịch năm 2008 về trình tự, thủ tục trở lại quốc tịch Việt Nam

“Điều 23. Các trường hợp được trở lại quốc tịch Việt Nam: 1. Người đã mất quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 26 của Luật này có đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì có thể được trở lại quốc tịch Việt Nam, nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây: a) Xin hồi hương về Việt Nam; b) Có vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ là công dân Việt Nam; c) Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; d) Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đ) Thực hiện đầu tư tại Việt Nam; e) Đã thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài, nhưng không được nhập quốc tịch nước ngoài. 2. Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam không được trở lại quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam. 3. Trường hợp người bị tước quốc tịch Việt Nam xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải sau ít nhất 5 năm, kể từ ngày bị tước quốc tịch mới được xem xét cho trở lại quốc tịch Việt Nam. 4. Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải lấy lại tên gọi Việt Nam trước đây, tên gọi này phải được ghi rõ trong Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam. 5. Người được trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người sau đây, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép: a) Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam; b) Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; c) Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 Điều 24. Hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam: 1. Hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam gồm có các giấy tờ sau đây: a) Đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam; b) Bản sao Giấy khai sinh, Hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay thế; c) Bản khai lý lịch; d) Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp đối với thời gian người xin trở lại quốc tịch Việt Nam cư trú ở Việt Nam, Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp đối với thời gian người xin trở lại quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Phiếu lý lịch tư pháp phải là phiếu được cấp không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ sơ; đ) Giấy tờ chứng minh người xin trở lại quốc tịch Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam; e) Giấy tờ chứng minh đủ điều kiện trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này….”.

Điều 25. Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Name: 1. Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam nếu cư trú ở trong nước thì nộp hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi cư trú, nếu cư trú ở nước ngoài thì nộp hồ sơ cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại. Trong trường hợp hồ sơ không có đầy đủ các giấy tờ quy định tại Điều 24 của Luật này hoặc không hợp lệ thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo ngay để người xin trở lại quốc tịch Việt Nam bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ. 2. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp gửi văn bản đề nghị cơ quan Công an cấp tỉnh xác minh về nhân thân của người xin trở lại quốc tịch Việt Nam.

Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, cơ quan Công an cấp tỉnh có trách nhiệm xác minh và gửi kết quả đến Sở Tư pháp. Trong thời gian này, Sở Tư pháp phải tiến hành thẩm tra giấy tờ trong hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam.Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, Sở Tư pháp có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, kết luận và đề xuất ý kiến gửi Bộ Tư pháp. 3. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thẩm tra và chuyển hồ sơ kèm theo ý kiến đề xuất về việc xin trở lại quốc tịch Việt Nam về Bộ Ngoại giao để chuyển đến Bộ Tư pháp. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Tư pháp đề nghị Bộ Công an xác minh về nhân thân của người xin trở lại quốc tịch Việt Nam. 4. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề xuất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy người xin trở lại quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam thì gửi thông báo bằng văn bản cho người đó để làm thủ tục xin thôi quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp người xin trở lại quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài hoặc là người không quốc tịch. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được giấy xác nhận thôi quốc tịch nước ngoài của người xin trở lại quốc tịch Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.

Trường hợp người xin trở lại quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài, người xin trở lại quốc tịch Việt Nam là người không quốc tịch thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề xuất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy người xin trở lại quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. 5. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước xem xét, quyết định”.            

2. Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam           

“Điều 9. Một số điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam: Các điều kiện quy định tại điểm c, d và đ khoản 1 Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam được quy định như sau: 1. Người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam và người mà việc trở lại quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng theo quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 6 của Nghị định này. 2. Người thực hiện đầu tư tại Việt Nam phải có dự án đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy tờ chứng nhận việc đầu tư đó.

Điều 10. Một số giấy tờ trong hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam: 1. Các giấy tờ quy định tại các điểm đ và e khoản 1 Điều 24 Luật Quốc tịch Việt Nam bao gồm: a) Các giấy tờ chứng minh người xin trở lại quốc tịch Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam là một trong các giấy tờ sau đây: bản sao Giấy khai sinh; bản sao Quyết định cho thôi quốc tịch Việt Nam hoặc Giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam; giấy tờ khác có ghi quốc tịch Việt Nam hoặc có giá trị chứng minh quốc tịch Việt Nam trước đây của người đó; b) Giấy tờ chứng minh đủ điều kiện trở lại quốc tịch Việt Nam là một trong các giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 7 của Nghị định này hoặc giấy tờ chứng minh người xin trở lại quốc tịch Việt Nam đang làm thủ tục xin hồi hương về Việt Nam hoặc bản sao giấy tờ chứng nhận việc đầu tư tại Việt Nam. 2. Con chưa thành niên cùng trở lại quốc tịch Việt Nam theo cha mẹ thì phải nộp bản sao Giấy khai sinh của người con hoặc giấy tờ khác chứng minh quan hệ cha con, mẹ con. Trường hợp chỉ cha hoặc mẹ trở lại quốc tịch Việt Nam mà con chưa thành niên sống cùng người đó cùng trở lại quốc tịch Việt Nam theo cha hoặc mẹ thì phải nộp văn bản thoả thuận của cha mẹ về việc trở lại quốc tịch Việt Nam của con…

Điều 11. Xác minh hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam: 1. Trong trường hợp cần thiết phải xác minh thêm về nhân thân của người xin trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 3 Điều 25 Luật Quốc tịch Việt Nam thì Bộ Tư pháp có văn bản nêu rõ những nội dung cụ thể đề nghị Bộ Công an xác minh. 2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Bộ Tư pháp, Bộ Công an có trách nhiệm xác minh và trả lời kết quả bằng văn bản cho Bộ Tư pháp”.

Theo các quy định nêu trên thì thời hạn tối đa để giải quyết một hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam là 90 ngày, theo văn bản pháp luật quốc tịch cũ thì thời hạn giải quyết là 120 ngày; bổ sung thêm 2 trường hợp để được trở lại quốc tịch Việt Nam, đó là (thực hiện đầu tư tại Việt Nam và việc đầu tư tại Việt Nam phải có dự án đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy tờ chứng nhận việc đầu tư đó; đã thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài, nhưng không được nhập quốc tịch nước ngoài; Trường hợp người bị tước quốc tịch Việt Nam xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải sau ít nhất 05 năm, kể từ ngày bị tước quốc tịch mới được xem xét cho trở lại quốc tịch Việt Nam). Ngoài ra còn quy định cụ thể hơn  các giấy tờ có trong hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam, người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thì phải nộp Huân chương, huy chương, giấy chứng nhận danh hiệu cao quý hoặc giấy xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam hoặc Người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là người có tài năng trong các lĩnh vực khoa học, kinh tế, văn hoá, xã hội, nghệ thuật, thể thao, được cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng nhận và cơ quan quản lý nhà nước cấp bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận việc nhập quốc tịch của họ sẽ đóng góp cho sự phát triển trong các lĩnh vực nói trên của Việt Nam.

Do có những quy định mở rộng những đối tượng được trở lại quốc tịch Việt Nam, cũng như rút ngắn thời hạn giải quyết hồ sơ, nên từ khi Luật Quốc tịch năm 2008 có hiệu lực và Nghi định số 78/NĐ-CP được ban hành thì đã có nhiều người Việt Nam đã thôi quốc tịch Việt Nam xin trở lại quốc tịch Việt Nam.

 

III. VẤN ĐỀ THÔI QUỐC TỊCH VIỆT NAM

1. Các quy định về trình tự, thủ tục xin thôi quốc tịch Việt Nam theo Luật Quốc tịch năm 2008

“Điều 27. Căn cứ thôi quốc tịch Việt Nam: 1. Công dân Việt Nam có đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài thì có thể được thôi quốc tịch Việt Nam. 2. Người xin thôi quốc tịch Việt Nam chưa được thôi quốc tịch Việt Nam, nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây: a) Đang nợ thuế đối với Nhà nước hoặc đang có nghĩa vụ tài sản đối với cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân ở Việt Nam; b) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; c) Đang chấp hành bản án, quyết định của Toà án Việt Nam; d) Đang bị tạm giam để chờ thi hành án; đ) Đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng…3. Người xin thôi quốc tịch Việt Nam không được thôi quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam. 4. Cán bộ, công chức và những người đang phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam không được thôi quốc tịch Việt Nam…

Điều 28. Hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam: 1. Hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam bao gồm: …d) Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp. Phiếu lý lịch tư pháp phải là phiếu được cấp không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ sơ;… e) Giấy xác nhận không nợ thuế do Cục thuế nơi người xin thôi quốc tịch Việt Nam cư trú cấp; g) Đối với người trước đây là cán bộ, công chức, viên chức hoặc phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã nghỉ hưu, thôi việc, bị miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức hoặc giải ngũ, phục viên chưa quá 05 năm thì còn phải nộp giấy của cơ quan, tổ chức, đơn vị đã ra quyết định cho nghỉ hưu, cho thôi việc, miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức hoặc giải ngũ, phục viên xác nhận việc thôi quốc tịch Việt Nam của người đó không phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam….

Điều 29. Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam: 1. Người xin thôi quốc tịch Việt Nam nếu cư trú ở trong nước thì nộp hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi cư trú, nếu cư trú ở nước ngoài thì nộp hồ sơ cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại. Trong trường hợp hồ sơ không có đầy đủ các giấy tờ quy định tại Điều 28 của Luật này hoặc không hợp lệ thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo ngay để người xin thôi quốc tịch Việt Nam bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ. 2. Trường hợp người xin thôi quốc tịch Việt Nam cư trú ở trong nước thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp có trách nhiệm đăng thông báo về việc xin thôi quốc tịch Việt Nam trên một tờ báo viết hoặc báo điện tử ở địa phương trong ba số liên tiếp và gửi đăng trên Trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp; trường hợp người xin thôi quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm đăng thông báo về việc xin thôi quốc tịch Việt Nam trên Trang thông tin điện tử của mình. Thông báo trên Trang thông tin điện tử phải được lưu giữ trên đó trong thời gian ít nhất là 30 ngày, kể từ ngày đăng thông báo. 3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp gửi văn bản đề nghị cơ quan Công an cấp tỉnh xác minh về nhân thân của người xin thôi quốc tịch Việt Nam. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, cơ quan Công an cấp tỉnh có trách nhiệm xác minh và gửi kết quả đến Sở Tư pháp. Trong thời gian này, Sở Tư pháp phải tiến hành thẩm tra giấy tờ trong hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, Sở Tư pháp có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, kết luận và đề xuất ý kiến gửi Bộ Tư pháp. 4. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thẩm tra và chuyển hồ sơ kèm theo ý kiến đề xuất về việc xin thôi quốc tịch Việt Nam về Bộ Ngoại giao để chuyển đến Bộ Tư pháp. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Tư pháp đề nghị Bộ Công an xác minh về nhân thân của người xin thôi quốc tịch Việt Nam. 5. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề xuất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy người xin thôi quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện được thôi quốc tịch Việt Nam thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. 6. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước xem xét, quyết định” .

2. Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam           

Với quy định về trình tự, thủ tục theo Luật Quốc tịch năm 1998 và Nghị định số 104/NĐ-CP có những quy định thực sự gây phiền hà cho người dân, nhất là những trường hợp xin thôi quốc tịch Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài, sau một thời gian, cơ quan tiếp nhận hồ sơ mới chuyển về cơ quan có thẩm quyền ở trong nước, khi hồ sơ đến Bộ Tư pháp thì một số giấy tờ có trong hồ sơ đã hết thời hạn quy định. Hồ sơ chuẩn bị quá phức tạp, lại qua nhiều khâu trung gian trước khi đến cơ quan có thẩm quyền quyết định. Nhiều trường hợp thậm chí mất 06 tháng đến 01 năm, sau đó hồ sơ còn qua thủ tục xác minh về nhân thân của cơ quan công an, thời hạn cũng không được kịp thời nên dẫn đến tình trạng, có trường hợp xin thôi quốc tịch Việt Nam chưa xong thì giấy hứa cho nhập quốc tịch nước ngoài đã hết hiệu lực. Từ những bất cập nêu trên mà Luật Quốc tịch năm 2008 và các văn bản hướng dẫn đã được đổi mới, điều chỉnh theo hướng đơn giản hóa dân chủ, minh bạch, công khai, giảm phiền hà cho người dân.

Việc sửa đổi Luật quốc tịch năm 1998 đã đánh dấu một bước quan trọng trong bối cảnh đất nước ta đã có nhiều thay đổi lớn trong phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, việc các nhà làm luật đã pháp điển hóa các quy định trong Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 như hồ sơ và trình tự thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch để đưa vào trong Luật quốc tịch là phù hợp với chủ chương cũng như cách làm mới của Nhà nước ta trong việc xây dựng pháp luật trong thời gian gần đây. 

Trình tự, thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch Việt Nam nhìn chung được quy định khá chi tiết trong Luật. Đối với việc giải quyết hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, cần tuân theo một quy trình chặt chẽ về thủ tục và đảm bảo về thời gian. Luật quốc tịch đã phân bổ thời gian giải quyết cho các cơ quan liên quan (Sở Tư pháp, Công an tỉnh, các cơ quan ở Trung ương và các cơ quan chuyên môn khác). Nhìn chung, quy trình giải quyết các việc về quốc tịch là thống nhất, tương đối giống nhau. Trong việc giải quyết các vấn đề về quốc tịch, ở trong nước, Sở Tư pháp là cơ quan đầu mối tại địa phương, chịu trách nhiệm chính trước UBND cấp tỉnh và giúp UBND cấp tỉnh trong việc tiếp nhận hồ sơ, xem xét, kiểm tra, đối chiếu hồ sơ với các điều kiện của đương sự trên thực tế theo Luật định. Đồng thời, sau khi thẩm tra kỹ lưỡng hồ sơ và có ý kiến của các cơ quan liên quan, Sở Tư pháp làm văn bản báo cáo trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét, kết luận và đề xuất ý kiến gửi Bộ Tư Pháp để trình Chủ tịch nuớc xem xét, quyết định. 

Với việc cải cách này, Luật Quốc tịch năm 2008 là một trong những Luật đã có quy định tạo ra những thuận lợi để người dân dễ dàng nắm bắt chủ chương chính sách của Nhà nước ta cũng như cách thức giải quyết mọi việc về quốc tịch. Một trong những cải cách đó là việc giảm tối đa về thời gian giải quyết các việc về quốc tịch, từ đó từng bước nâng cao vai trò trách nhiệm của từng cơ quan tham gia trong quá trình xem xét, giải quyết. Chẳng hạn, tối đa giải quyết xin nhập quốc tịch Việt Nam là 120 ngày, đối với hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam là gần 90 ngày và giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam là hơn 60 ngày, kể từ ngày UBND tỉnh, Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Việc quy định rõ thời hạn này đòi hỏi các cơ quan chức năng nâng cao trách nhiệm giải quyết các việc về quốc tịch, chống việc kéo dài, sách nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho dân, đồng thời tạo ra cơ sở để nhân dân thực hiện quyền giám sát tiến độ giải quyết các việc về quốc tịch và thực hiện quyền khiếu nại, khiếu kiện đối với những vi phạm về thời hạn. Nếu so với Luật Quốc tịch năm 1998 thì thời gian giải quyết các việc về quốc tịch giảm từ 3 tháng cho đến 8 tháng tùy thuộc vào từng loại việc giải quyết. Có thể nói việc quy định như trên trong Luật Quốc tịch năm 2008 là bước tiến lớn trong việc cải cách thủ tục hành chính, nhằm đáp ứng một cách tối đa nhu cầu của người dân trong việc giải quyết các thủ tục hành chính.

Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã quy định tương đối cụ thể các vấn đề về quốc tịch Việt Nam như: chính sách về quốc tịch, nguyên tắc quốc tịch, các điều kiện nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam, hồ sơ và trình tự, thủ tục giải quyết các việc xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, v.v... Tuy nhiên, Luật quốc tịch Việt Nam chưa thể quy định chi tiết tất cả các vấn đề về hồ sơ, trình tự và thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch, do đó, Luật quốc tịch Việt Nam đã giao cho Chính phủ quy định chi tiết 10 điều. Ngoài ra, Luật quốc tịch Việt Nam cũng có một số quy định mới so với các đạo luật quốc tịch trước đây như: vấn đề hai quốc tịch, đăng ký giữ quốc tịch, v.v... cần phải được cụ thể hóa và hướng dẫn thêm để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước. Vì vậy, Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam đã quy định cải cách một số trình tự, thủ tục hành chính để đáp ứng được nguyện vọng của người dân thuận tiện, đơn giản nhất và đảm bảo công tác quản lý về quốc tịch được chặt chẽ và hoàn thiện hơn.

Việc minh bạch hóa các kết quả giải quyết về quốc tịch cũng là cách làm mới, theo đó Luật quy định phải đăng trên công báo nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quyết định cho nhập, cho trở lại, cho thôi, tước quốc tịch Việt Nam và huỷ bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam. Trong Luật Quốc tịch còn giao thêm trách nhiệm cho Bộ Tư pháp trong việc thông báo kết quả giải quyết các việc về quốc tịch trên Trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp. Cách làm này sẽ tạo điều kiện tối đa để người dân khắp mọi nơi dễ dàng tiếp cận những thông tin về tiến độ và kết quả giải quyết hồ sơ của họ. Đây cũng là một trong đòi hỏi chính đáng của người dân.

 

IV. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIẢI QUYẾT HỒ SƠ XIN TRỞ LẠI QUỐC TỊCH VIỆT NAM

Trở lại quốc tịch Việt Nam là việc một người trước đây đã từng có quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật về quốc tịch (do được thôi, bị tước, không đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, bị mất quốc tịch Việt Nam theo điều ước quốc tế và một số trường hợp khác) nay được trở lại quốc tịch Việt Nam theo quyết định của Chủ tịch  nước.

Trở lại quốc tịch là một hiện tượng bình thường của đời sống xã hội và cũng là một thông lệ quốc tế khi một cá nhân có quốc tịch gốc của một nước nhưng vì lý do nào đó đã mất quốc tịch gốc. Ví dụ, nhiều công dân Việt Nam xuất cảnh ra nước ngoài trước đây đã được Chủ tịch nước cho thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài nay vì lý do hồi hương, về Việt Nam đầu tư và có nguyện vọng được trở lại quốc tịch Việt Nam thì pháp luật cũng tạo điều kiện thuận lợi để cho họ được trở lại quốc tịch Việt Nam.

Về bản chất, việc xin trở lại quốc tịch Việt Nam cũng giống như việc xin nhập quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên chỉ khác về đối tượng khi người xin trở lại quốc tịch Việt Nam là người mà trước đây đã từng có quốc tịch Việt Nam nhưng nay đã bị mất quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 26 của Luật Quốc tịch.

1.      Điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam

Theo quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật Quốc tịch thì người xin trở lại quốc tịch Việt Nam có thể được trở lại quốc tịch Việt Nam nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

“….

- Xin hồi hương về Việt Nam;

- Có vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ là công dân Việt Nam;

- Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam;

- Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

- Thực hiện đầu tư tại Việt Nam;

- Đã thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài, nhưng không được nhập quốc tịch nước ngoài.”

Để cụ thể hoá một số điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam, Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2009 quy định chi tiết và hướng dẫn như sau:

1. Người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam và người mà việc trở lại quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng theo quy định tại các khoản 1, 2 Điều 6 của Nghị định này.

2. Người thực hiện đầu tư tại Việt Nam phải có dự án đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy tờ chứng nhận việc đầu tư đó”.

Trong trường hợp việc xin trở lại quốc tịch Việt Nam của một cá nhân làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam thì người xin trở lại quốc tịch Việt Nam không được chấp nhận cho trở lại quốc tịch Việt Nam. Việc quy định các điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam như trên là nhằm bảo đảm rằng những người xin trở lại quốc tịch là những người thực sự có đầy đủ các điều kiện về vật chất, tinh thần, về chính trị để trở về sinh sống tại Việt Nam, là người sẽ mang lại những lợi ích thiết thực cho sự phát triển của đất nước Việt Nam. Không ai có thể lợi dụng việc mang quốc tịch Việt Nam để làm phương hại đến lợi ích của Nhà nước Việt Nam. Đây là một chế định thể hiện rất rõ chủ quyền quốc gia trong các quy định về quốc tịch.

2. Hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam

Hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải được lập thành 3 bộ và được quy định chi tiết tại Điều 24 của Luật Quốc tịch, gồm có các giấy tờ sau đây:

a) Đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam;

b) Bản sao Giấy khai sinh, Hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay thế;

c) Bản khai lý lịch;

d) Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp đối với thời gian người xin trở lại quốc tịch Việt Nam cư trú ở Việt Nam, Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp đối với thời gian người xin trở lại quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Phiếu lý lịch tư pháp phải là phiếu được cấp không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ sơ;

đ) Giấy tờ chứng minh người xin trở lại quốc tịch Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam..”

Một số giấy tờ có trong hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam được cụ thể hoá như sau:

- Các giấy tờ chứng minh người xin trở lại quốc tịch Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam là một trong các giấy tờ sau đây: bản sao Giấy khai sinh; bản sao Quyết định cho thôi quốc tịch Việt Nam; giấy tờ khác có ghi quốc tịch Việt Nam hoặc có giá trị chứng minh quốc tịch Việt Nam trước đây của người đó.

- Giấy tờ chứng minh đủ điều kiện trở lại quốc tịch Việt Nam là một trong các giấy tờ quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 19 của Luật Quốc tịch hoặc giấy tờ chứng minh người xin trở lại quốc tịch Việt Nam đang làm thủ tục xin hồi hương về Việt Nam hoặc bản sao giấy tờ chứng nhận việc đầu tư tại Việt Nam.

- Trong trường hợp con chưa thành niên cùng xin trở lại quốc tịch Việt Nam theo cha mẹ thì phải nộp bản sao Giấy khai sinh của người con hoặc giấy tờ khác chứng minh quan hệ cha con, mẹ con. Trường hợp chỉ cha hoặc mẹ trở lại quốc tịch Việt Nam mà con chưa thành niên sống cùng người đó cùng trở lại quốc tịch Việt Nam theo cha hoặc mẹ thì phải nộp văn bản thoả thuận của cha mẹ về việc trở lại quốc tịch Việt Nam của con.

3. Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam.

 Theo quy định tại Điều 25 của Luật Quốc tịch, thời hạn giải quyết việc xin trở lại quốc tịch Việt Nam là 75 ngày, trong đó, thời hạn xem xét, thẩm tra và có ý kiến đề xuất giải quyết việc xin trở lại quốc tịch Việt Nam tại UBND cấp tỉnh là 30 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Do vậy, trong khi chờ đợi văn bản trả lời kết quả xác minh nhân thân của Công an tỉnh (đối với hồ sơ xin trở lại quốc tịch nộp tại Sở Tư pháp), thì Sở Tư pháp chủ động thẩm tra, nghiên cứu hồ sơ của đương sự so với các điều kiện xin trở lại quốc tịch để hoàn tất hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, kết luận và đề xuất ý kiến gửi Bộ Tư pháp.

Trong trường hợp cần thiết phải xác minh thêm về nhân thân của người xin trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 3 Điều 25 của Luật Quốc tịch Việt Nam thì Bộ Tư pháp có văn bản nêu rõ những nội dung cụ thể đề nghị Bộ Công an xác minh. Thời hạn Bộ Công an trả lời kết quả xác minh theo yêu cầu của Bộ Tư pháp là 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của Bộ Tư pháp

Tương tự như việc giải quyết xin nhập quốc tịch Việt Nam, trình tự giải quyết việc xin trở lại quốc tịch tại Bộ Tư pháp được quy định tại khoản 4 Điều 25 Luật Quốc tịch Việt Nam. Như trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề xuất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy người xin trở lại quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam thì gửi thông báo bằng văn bản cho người đó để làm thủ tục xin thôi quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp người xin trở lại quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài hoặc là người không quốc tịch. Khi nhận được kết quả về việc đương sự đã thôi quốc tịch nước ngoài của mình, thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, Bộ trưởng Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. Đối với trường hợp người xin trở lại quốc tịch Việt Nam có đơn xin giữ quốc tịch nước ngoài hoặc người đó là người không quốc tịch, thì thời hạn giải quyết tại Bộ Tư pháp rút xuống chỉ còn 15 ngày. Sau khi Bộ Tư pháp báo cáo Chính phủ để trình Chủ tịch nước, thì trong thời hạn 20 ngày, Chủ tịch nước xem xét và quyết định về việc cho trở lại quốc tịch Việt Nam.

Sau khi được Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam, thì người đó trở thành công dân Việt Nam và được hưởng đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp mà Nhà nước Việt Nam dành cho công dân của mình, cũng như phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước Việt Nam.

4. Những bất cập về trình tự, thủ tục về việc giải quyết các hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam

Từ khi Luật Quốc tịch năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật có hiệu lực thi hành, có rất nhiều người đã được thôi quốc tịch Việt Nam cư trú ở trong nước cũng như ở nước ngoài có nguyện vọng xin trở lại quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, khi xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì cơ quan trực tiếp giải quyết cũng như người dân đã gặp khó khăn như sau:

Thứ nhất: Theo quy định của Luật Quốc tịch năm 2008 và Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam, đã có sự mở rộng những trường hợp cho phép được giữ quốc tịch nước ngoài nhưng đương sự phải chứng minh có công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có lợi cho Nhà nước Việt Nam hoặc hoàn cảnh đặc biệt của họ …Chính vì có sự ngộ nhận là cứ thuộc diện ưu tiên thì đương nhiên không phải thôi quốc tịch gốc, nên đại đa số những người xin trở lại quốc tịch Việt Nam đều có nguyện vọng được giữ quốc tịch nước ngoài. Khi cơ quan có thẩm quyền thông báo họ phải thôi quốc tịch nước ngoài thì họ không muốn trở lại quốc tịch Việt Nam nữa vì lý do họ còn có những quyền lợi về kinh tế, gia đình…ở nước sở tại, nhất là những trường hợp xin trở lại quốc tịch Việt Nam nhưng vẫn cư trú ở nước ngoài và họ cũng không thông báo lại cho cơ quan có thẩm quyền biết để xử lý. Vì vậy, hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam của những đương sự này luôn trong tình trạng chưa được giải quyết dứt điểm. Có tình trạng như vậy là do người dân thiếu hiểu biết hoặc hiểu không rõ các quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành về việc trở lại quốc tịch Việt Nam.

Thứ hai: Hiện nay, các cơ quan trực tiếp tiếp nhận, giải quyết một số hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam gặp khó khăn khi đương sự không xuất trình được Phiếu lý lịch do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp trong thời gian đương sự cư trú ở nước ngoài:

+ Trường hợp đương sự có thời gian cư trú ở nước ngoài nhưng hiện nay đã về Việt Nam cư trú và xin trở lại quốc tịch Việt Nam, nếu yêu cầu đương sự quay lại nước trước kia cư trú để xin cấp Phiếu Lý lịch tư pháp thì khó thực hiện được.

+ Trường hợp đương sự xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài nhưng không được nhập quốc tịch nước ngoài, hiện nay vẫn đang cư trú ở nước ngoài (người không quốc tịch, nhất là những trường hợp phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc), những trường hợp này xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì cũng gặp rất nhiều khó khăn khi xin cấp Phiếu Lý lịch tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, bởi vì cơ quan có thẩm quyền nước sở tại từ chối cấp cho các đối tượng này.

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người đã mất quốc tịch Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam. Đây là chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, khuyến khích người Việt Nam định cư ở nước ngoài hướng về Tổ quốc. Các quy định về trình tự, thủ tục xin trở lại quốc tịch Việt Nam của Luật và văn bản hướng dẫn thi hành được cải cách và cụ thể hơn đã tạo điều kiện thuận lợi cho những người gốc Việt Nam quay trở lại đầu tư về Việt Nam và được hưởng những ưu đãi đầu tư như đối với công dân Việt Nam. Đồng thời, cũng giải quyết được vướng mắc hiện nay là nhiều trường hợp đã xin thôi quốc tịch Việt Nam nhưng không được nhập quốc tịch nước ngoài.


Phần thứ hai

VỀ VIỆC THỰC HIỆN MỘT SỐ NỘI DUNG

QUAN TRỌNG CỦA LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM 2008



 


I. NHẬP QUỐC TỊCH VIỆT NAM THEO LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM NĂM 2008

Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ tư ngày 13 tháng 11 năm 2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009 và thay thế Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998.

Đến nay, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này đã được ban hành và có hiệu lực, cụ thể là :

- Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam;

- Thông tư liên tịch số 05/2010/BTP-BNG-BCA ngày 01 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an hướng dẫn thi hành Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam (có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 4 năm 2010);

- Thông tư số 08/2010/TT-BTP ngày 25 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn mẫu giấy tờ về quốc tịch và mẫu sổ tiếp nhận các việc về quốc tịch (có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 5 năm 2010);

- Thông tư số 146/2009/TT-BTC ngày 20 tháng 7 năm 2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng lệ phí giải quyết các việc liên quan đến quốc tịch;

- Thông tư số 135/2010/TT-BTC ngày 13 tháng 9 năm 2010 của Bộ Tài chính về sửa đổi, bổ sung Thông tư số 146/2009/TT-BTC ngày 20 tháng 7 năm 2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng lệ phí giải quyết các việc liên quan đến quốc tịch.

So với Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này thì hệ thống các văn bản pháp luật về quốc tịch hiện nay khá hoàn thiện, cụ thể và chi tiết, đây là một thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước về quốc tịch, cũng như công tác giải quyết các việc về quốc tịch.

Trong phạm vi chuyên đề này, chúng ta tìm hiểu sâu hơn về các quy định của pháp luật hiện hành về quốc tịch trong việc giải quyết cho nhập quốc tịch Việt nam, thôi quốc tịch Việt Nam, giữ quốc tịch Việt Nam, giải quyết vấn đề quốc tịch cho dân di cư tại khu vực biên giới.

1. Nhập quốc tịch là gì?

Nhập quốc tịch là việc một cá nhân sau khi đáp ứng đầy đủ những điều kiện mà pháp luật quy định được trở thành công dân của một Nhà nước thông qua quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Việc có quốc tịch của một nước sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của công dân đối với một nhà nước và ngược lại, cũng làm phát sinh trách nhiệm của một nhà nước đối với công dân của mình. Chính vì vậy, khi một người nước ngoài muốn nhập quốc tịch Việt Nam nghĩa là theo ý kiến chủ quan của mình, họ muốn thiết lập những mối quan hệ pháp lý và chính trị giữa họ với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Một cách cụ thể hơn, họ muốn được hưởng những quyền cơ bản về kinh tế, chính trị, xã hội như một công dân Việt Nam, tuy nhiên họ cũng phải thực hiện những nghĩa vụ của một công dân Việt Nam đối với Nhà nước Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam. Việc người nước ngoài muốn nhập quốc tịch Việt Nam có thể do nhiều lý do khác nhau. Có người xin nhập quốc tịch Việt Nam chỉ thuần túy vì lý do kinh tế, nhập quốc tịch Việt Nam là để ổn định cuộc sống, làm ăn lâu dài tại Việt Nam, có thể nói những người xin nhập quốc tịch Việt Nam vì lý do này chiếm số lượng chủ yếu những người trong thời gian qua được Chủ tịch nước xem xét, quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam.

Bên cạnh lý do trên, có người xin nhập quốc tịch Việt Nam không phải vì lý do kinh tế, mà vì nhiều lý do khác nhau, như việc một vận động viên thể thao muốn nhập quốc tịch Việt Nam để được cống hiến lâu dài cho Câu lạc bộ, đồng thời phấn đấu để được thi đấu dưới màu cờ sắc áo của Đội tuyển Việt Nam, hoặc việc nhập quốc tịch Việt Nam vì những lý do là tình cảm như do có vợ, có chồng là công dân Việt Nam, do yêu mến và có nhiều năm gắn bó với đất nước Việt Nam, có nhiều đóng góp cho Việt Nam…Nhưng dù với bất cứ lý do gì thì việc xin nhập quốc tịch Việt Nam cũng phải tuân thủ những quy định chung của Luật Quốc tịch Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này.

2. Điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam

Điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam được quy định tại Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam và Điều 5 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam.

Theo các quy định này, thì công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện sau đây:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam;

- Tuân thủ hiến pháp và pháp luật Việt Nam; tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam;

- Biết tiếng Việt đủ để hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam. Điều kiện này được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP:   “Biết tiếng Việt đủ để hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được đánh giá trên cơ sở khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt với công dân Việt Nam trong cuộc sống, phù hợp với môi trường sống và làm việc của người đó”. Như vậy, người xin nhập quốc tịch Việt Nam thì phải có một trình độ tiếng Việt nhất định để có khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt với người Việt Nam. Tuy nhiên, không nhất thiết những người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải có trình độ tiếng Việt như nhau, mà điều này tùy thuộc vào môi trường sống và làm việc của người đó, ví dụ: người xin nhập quốc tịch Việt Nam sinh sống tại các vùng biên giới giữa Việt Nam với Lào hoặc Trung Quốc, nghề nghiệp chính của họ là làm nông nghiệp cùng gia đình thì yêu cầu về trình độ tiếng Việt của họ sẽ không giống với một người xin nhập quốc tịch Việt Nam mà sống tại các thành phố lớn, công việc của họ là kinh doanh, giảng dạy…đòi hỏi phải giao tiếp nhiều với người Việt Nam.

- Đã thường trú ở Việt Nam từ 5 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam. Thời gian thường trú tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam sẽ được tính kể từ ngày người đó được cấp Thẻ thường trú (khoản 2 Điều 5 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP). Như vậy, người xin nhập quốc tịch Việt Nam sẽ phải có Thẻ thường trú do cơ quan Công an cấp, và thời gian thường trú 5 năm tại Việt Nam được tính kể từ ngày người đó được cấp Thẻ thường trú.

- Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam. Khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được chứng minh bằng tài sản, nguồn thu nhập hợp pháp của người đó hoặc sự bảo lãnh của tổ chức, cá nhân tại Việt Nam. Như vậy, người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải chứng minh được với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam về các điều kiện thực tế của mình như: điều kiện về nhà ở, mức thu nhập có đủ và sự ổn định của thu nhập để đảm bảo cuộc sống bình thường tại Việt Nam.

- Người xin nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài (khoản 3 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam). Việc quy định điều kiện này là để hạn chế tình trạng một người có thể có hai hoặc nhiều quốc tịch, dễ gây ra những hậu quả pháp lý phức tạp.

- Ngoài các điều kiện trên, người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải có tên gọi Việt Nam. Tên gọi này do người xin nhập quốc tịch Việt Nam lựa chọn và được ghi rõ trong đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam.

Người xin nhập quốc tịch Việt Nam sẽ không được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam.

Quy định các điều kiện trên đây là nhằm để đảm bảo một người nước ngoài khi được nhập quốc tịch Việt Nam đã có sự hiểu biết nhất định về chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam, về văn hoá, phong tục tập quán của Việt Nam… từ đó họ có thể dễ dàng hòa nhập vào cộng đồng xã hội Việt Nam và ổn định cuộc sống, làm ăn, sinh sống tại Việt Nam. Đây là những điều kiện rất quan trọng để cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam xem xét, quyết định việc cho nhập quốc tịch Việt Nam.

3. Miễn điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam

Không phải tất cả những người có nguyện vọng muốn được nhập quốc tịch Việt Nam thì đều phải có đầy đủ tất cả các điều kiện nói trên, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 cũng có những quy định mang tính mở, tạo điều kiện cho một số đối tượng được nhập quốc tịch Việt Nam mà không nhất thiết phải có đủ tất cả các điều kiện nói trên.

Khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam và Điều 6 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP quy định những trường hợp được miễn một số điều kiện khi xin nhập quốc tịch Việt Nam, cụ thể là:

- Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam;

- Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ   Tổ quốc Việt Nam. Người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam là những người: được tặng thưởng Huân chương, Huy chương, danh hiệu cao quý khác của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miên Nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam xác nhận về công lao đặc biệt đó.

- Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là người có tài năng trong các lĩnh vực khoa học, kinh tế, văn hóa, xã hội, nghệ thuật, thể thao, được cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng nhận và cơ quan quản lý nhà nước cấp bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận việc nhập quốc tịch của họ sẽ có đóng góp cho sự phát triển trong các lĩnh vực nói trên của Việt Nam.

Như vậy, những người xin nhập quốc tịch Việt Nam mà thuộc một trong các trường hợp nói trên thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải có điều kiện về tiếng Việt, khả năng đảm bảo cuộc sống tại Việt Nam và không nhất thiết phải có đủ 5 năm thường trú tại Việt Nam kể từ ngày được cơ quan công an cấp thẻ thường trú.

Ngoài việc được miễn một số điều kiện nói trên, những người xin nhập quốc tịch Việt Nam mà thuộc một trong những trường hợp này sẽ không phải thôi quốc tịch nước ngoài, nếu được Chủ tịch nước cho phép (khoản 3 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam). Tuy nhiên, để được Chủ tịch nước xem xét, quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải thôi quốc tịch nước ngoài thì họ phải đưa ra được những lý do đặc biệt để xin giữ quốc tịch nước ngoài, ví dụ nếu họ thôi quốc tịch nước ngoài của họ khi được nhập quốc tịch Việt Nam thì sẽ mất quyền được hưởng lương hưu, trợ cấp xã hội của nước mà họ đang có quốc tịch, mà đây lại là nguồn thu nhập duy nhất của họ…Điều này có nghĩa rằng, không phải tất cả những người xin nhập quốc tịch Việt Nam thuộc những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam thì đều không phải thôi quốc tịch nước ngoài khi được nhập quốc tịch Việt Nam mà chỉ trong những trường hợp đặc biệt mới được Chủ tịch nước xem xét.

Quy định được miễn các điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam là tạo điều kiện cho người nước ngoài, người không quốc tịch có thể đoàn tụ gia đình với thân nhân của họ là công dân Việt Nam; cũng nhằm thể hiện sự biết ơn, đền đáp công lao của Nhà nước Việt Nam đối với những người đã có công đóng góp đáng kể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Mặc khác, việc tạo điều kiện cho những người nước ngoài có tài năng có thể mang lại những lợi ích đặc biệt về khoa học, kinh tế, văn hóa, xã hội, nghệ thuật, thể thao được nhập quốc tịch Việt Nam là để giúp họ yên tâm, gắn bó và cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đây là những quy định mềm dẻo, giúp cho các đối tượng nên trên được nhập quốc tịch Việt Nam một cách thuận lợi, dễ dàng.

4. Hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam

Người nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú tại Việt Nam nếu có nguyện vọng xin nhập quốc tịch Việt Nam thì phải nộp hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật Quốc tịch Việt Nam và Điều 7 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP thì hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam bao gồm các giấy tờ sau đây:

- Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam. Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam được khai theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 08/2010/TT-BTP ngày 25 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn mẫu giấy tờ về quốc tịch và mẫu sổ tiếp nhận các việc về quốc tịch;

- Bản sao Giấy khai sinh, Hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay thế. Trong trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam không có Bản sao Giấy khai sinh hoặc Hộ chiếu thì họ có thể nộp những giấy tờ có giá trị chứng minh quốc tịch nước ngoài của mình (điểm a, khoản 1 Điều 7 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP);

- Bản khai lý lịch. Người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải có bản khai lý lịch theo mẫu được ban hành kèm theo Thông tư số 08/2010/TT-BTP ngày 25 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn mẫu giấy tờ về quốc tịch và mẫu sổ tiếp nhận các việc về quốc tịch;

- Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp đối với thời gian người xin nhập quốc tịch Việt Nam cư trú ở Việt Nam, Phiếu Lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp đối với thời gian người xin nhập quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Phiếu lý lịch tư pháp phải là phiếu được cấp không quá 90 ngày tính đến thời điểm nộp hồ sơ;

- Giấy tờ chứng minh trình độ tiếng Việt. Người xin nhập quốc tịch Việt Nam có thể nộp một trong các giấy tờ sau đây để chứng minh trình độ tiếng Việt của mình, đó là: bản sao bằng tốt nghiệp sau đại học, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trung học phổ thông hoặc trung học cơ sở của Việt Nam; bản sao văn bằng hoặc chứng chỉ chứng nhận trình độ tiếng Việt do cơ sở đào tạo tiếng Việt của Việt Nam cấp.

Trong trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam khai báo biết tiếng Việt đủ để hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam, nhưng không có một trong các giấy tờ nêu trên, thì Sở Tư pháp tổ chức phỏng vấn trực tiếp để kiểm tra trình độ tiếng Việt của người đó theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp. Kết quả phỏng vấn phải được lập thành văn bản; người trực tiếp phỏng vấn căn cứ vào tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP để đề xuất ý kiến và chịu trách nhiệm về ý kiến đề xuất của mình (điểm b, khoản 1 Điều 7 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP).

- Giấy tờ chứng minh về chỗ ở, thời gian thường trú ở Việt Nam.

Để chứng minh về chỗ ở của mình tại Việt Nam người xin nhập quốc tịch Việt Nam có thể nộp hợp đồng thuê nhà, giấy tờ chứng minh việc người đó đang được cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc tạo điều kiện về chỗ ở…

Để chứng minh thời gian thường trú tại Việt Nam người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải nộp bản sao Thẻ thường trú (điểm d khoản 1 Điều 7 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP).

- Giấy tờ chứng minh bảo đảm cuộc sống ở Việt Nam. Người xin nhập quốc tịch Việt Nam có thể nộp một trong các giấy tờ sau đây để chứng minh khả năng tự bảo đảm cuộc sống của mình tại Việt Nam: giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản; giấy xác nhận của cơ quan thuế về thu nhập chịu thuế; giấy xác nhận mức lương hoặc thu nhập do cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc cấp; giấy tờ chứng minh được sự bảo lãnh của tổ chức, cá nhân tại Việt Nam; giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người xin nhập quốc tịch Việt Nam về khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người đó.

Những người được miễn một số điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam thì được miễn các giấy tờ tương ứng với điều kiện được miễn (khoản 2 Điều 20 Luật Quốc tịch Việt Nam). Tuy nhiên, họ phải nộp giấy tờ để chứng minh điều kiện được miễn, cụ thể là:

- Người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam phải nộp bản sao Giấy chứng nhận kết hôn chứng minh quan hệ hôn nhân (điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP);

- Người là cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam phải nộp bản sao Giấy khai sinh hoặc giấy tờ hợp lệ khác chứng minh quan hệ cha con, mẹ con (điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP);

- Người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam phải nộp bản sao Huân chương, Huy chương, giấy chứng nhận danh hiệu cao quý khác hoặc giấy xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam (điểm c khoản 2 Điều 7 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP);

- Người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải nộp giấy chứng nhận của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, được cơ quan quản lý nhà nước cấp bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận về việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ sẽ đóng góp cho sự phát triển của một trong các lính vực nói tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP (điểm d khoản 2 Điều 7 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP).

Trong trường hợp trẻ em chưa thành niên cùng nhập quốc tịch Việt Nam theo cha mẹ thì hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam phải bổ sung bản sao Giấy khai sinh của người con chưa thành niên hoặc giấy tờ khác chứng minh quan hệ cha con, mẹ con. Trường hợp chỉ cha hoặc mẹ nhập quốc tịch Việt Nam mà con chưa thành niên sinh sống cùng người đó nhập quốc tịch Việt Nam theo cha hoặc mẹ thì còn phải nộp văn bản thỏa thuận của cha mẹ về việc nhập quốc tịch Việt Nam cho con.

Các giấy tờ trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác. Những giấy tờ này cũng phải được dịch sang tiếng Việt và chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.

 Hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam phải được lập thành 3 bộ.

Khi nộp hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam, người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải nộp lệ phí là 3.000.000đ.

5. Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam

Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam được quy định cụ thể tại Điều 21 Luật Quốc tịch Việt Nam.

Người xin nhập quốc tịch Việt Nam nộp hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi người đó cư trú. Trong trường hợp hồ sơ không có đầy đủ các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 20 của Luật Quốc tịch Việt Nam hoặc không hợp lệ thì Sở Tư pháp thông báo ngay để người xin nhập quốc tịch Việt Nam bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ.

Trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam tại cấp tỉnh được quy định cụ thể như sau:

- Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp gửi văn bản đề nghị cơ quan Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xác minh về nhân thân của người xin nhập quốc tịch Việt Nam.

- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, cơ quan Công an cấp tỉnh có trách nhiệm xác minh và gửi kết quả đến Sở Tư pháp. Trong thời gian này, Sở Tư pháp phải tiến hành thẩm tra giấy tờ trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam.

- Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, Sở Tư pháp có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

- Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, kết luận và đề xuất ý kiến gửi Bộ Tư pháp.

Như vậy, thời hạn giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam tại cấp tỉnh tối đa gần 60 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trong thời gian này, Sở Tư pháp phải có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ và có tờ trình trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải có trách nhiệm xem xét, kết luận và đề xuất ý kiến gửi Bộ Tư pháp. Ý kiến đề xuất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải thể hiện được đầy đủ quan điểm của Ủy ban nhân dân trong việc đề nghị giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam này, như: người xin nhập quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định không, hồ sơ đã đầy đủ chưa, người xin nhập quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện để được Chủ tịch xem xét cho nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải thôi quốc tịch nước ngoài không?...

 Trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam tại cấp trung ương được quy định cụ thể như sau:

- Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề xuất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy có đủ điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam thì gửi thông báo bằng văn bản cho người xin nhập quốc tịch Việt Nam để làm thủ tục xin thôi quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài hoặc là người không quốc tịch. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được giấy cho thôi quốc tịch nước ngoài của người xin nhập quốc tịch Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.

Trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài, người xin nhập quốc tịch Việt Nam là người không quốc tịch thì trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề xuất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy người xin nhập quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.

- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước xem xét, quyết định.

Với trình tự giải quyết ở Bộ Tư pháp như đã trình bày ở trên sẽ không bao gồm thời gian người xin nhập quốc tịch Việt Nam làm thủ tục xin thôi quốc tịch gốc. Trong thời gian qua, có rất nhiều trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam khi làm thủ tục xin thôi quốc tịch gốc thường mất rất nhiều thời gian, vì vậy thời hạn giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam của họ thường bị kéo dài.

Kết quả giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam của người nước ngoài và người không quốc tịch sẽ được Bộ Tư pháp thông báo, kết quả này cũng được đăng trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

Người đã được nhập quốc tịch Việt Nam, dù cư trú ở trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà cố ý khai báo không đúng sự thật hoặc giả mạo giấy tờ khi xin nhập quốc tịch Việt Nam thì Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam có thể bị hủy bỏ, nếu được cấp chưa quá 5 năm.

 

II. THÔI QUỐC TỊCH VIỆT NAM THEO LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM 2008

Thôi quốc tịch Việt Nam là việc công dân hiện đang có quốc tịch Việt Nam, tự nguyện xin thôi quốc tịch và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài hoặc trường hợp đang có quốc tịch Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài, nay tự nguyện xin thôi quốc tịch Việt Nam.

1. Căn cứ thôi quốc tịch Việt Nam

Theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật Quốc tịch Việt Nam thì công dân Việt Nam có đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài thì có thể được thôi quốc tịch Việt Nam.

Như vậy, việc xin thôi quốc tịch Việt Nam là hoàn toàn xuất phát từ sự tự nguyện của công dân Việt Nam và lý do duy nhất để công dân Việt Nam xin thôi quốc tịch Việt Nam là để nhập quốc tịch nước ngoài (hoặc đã có quốc tịch nước ngoài).

Cũng có một số ít trường hợp đang có quốc tịch Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài, nay tự nguyện xin thôi quốc tịch Việt Nam để được hưởng quyền lợi của nước mà họ đang là công dân (ví dụ 1 công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch Hoa Kỳ, nay được bổ nhiệm làm viên chức ngoại giao của Hoa Kỳ tại Hà Nội; người này tự nguyện xin thôi quốc tịch Việt Nam).

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp có đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam thì đều được Chủ tịch nước xem xét, quyết định cho thôi quốc tịch Việt Nam. Những người xin thôi quốc tịch Việt Nam thuộc các trường hợp sau đây sẽ chưa được thôi quốc tịch hoặc không được thôi quốc tịch Việt Nam (khoản 2 Điều 27 Luật Quốc tịch Việt Nam):

* Người xin thôi quốc tịch Việt Nam chưa được thôi quốc tịch Việt Nam, nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

- Đang nợ thuế đối với Nhà nước hoặc đang có nghĩa vụ tài sản đối với cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân ở Việt Nam. Trong trường hợp này, nếu cơ quan thuế hoặc cơ quan, tổ chức là chủ nợ có văn bản yêu cầu chưa cho người đó thôi quốc tịch Việt Nam thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ không giải quyết việc cho thôi quốc tịch Việt Nam;

- Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Đang chấp hành bản án, quyết định của Toà án Việt Nam;

- Đang bị tạm giam để chờ thi hành án;

- Đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng.

Việc quy định như trên là đảm bảo sự chặt chẽ theo quy định của pháp luật.Việc có quốc tịch Việt Nam làm phát sinh những quyền và nghĩa vụ nhất định giữa công dân với nhà nước, vì vậy, công dân Việt Nam cần phải giải quyết xong tất cả những nghĩa vụ đối với cơ quan nhà nước Việt Nam, đối với tổ chức và cá nhân Việt Nam thì mới có thể được Chủ tịch nước cho thôi quốc tịch Việt Nam.

* Những trường hợp sau đây không được thôi quốc tịch Việt Nam:

-  Người xin thôi quốc tịch Việt Nam không được thôi quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam.

- Cán bộ, công chức và những người đang phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam không được thôi quốc tịch Việt Nam.

2. Hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam

Công dân Việt Nam có nguyện vọng xin thôi quốc tịch Việt Nam thì phải làm hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam.

* Đối với trường hợp người xin thôi quốc tịch Việt Nam đang cư trú ở trong nước thì hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam bao gồm các giấy tờ sau đây:

- Đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam; Bản khai lý lịch (mẫu Đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam và bản khai lý lịch của người xin thôi quốc tịch Việt Nam được ban hành kèm theo Thông tư số 08/2010/TT-BTP ngày 25 tháng 3 năm 2010);

- Bản sao Hộ chiếu Việt Nam, Giấy chứng minh nhân dân hoặc một trong các giấy tờ sau đây để chứng minh quốc tịch Việt Nam: Giấy khai sinh, trường hợp Giấy khai sinh không thể hiện rõ quốc tịch Việt Nam thì phải kèm theo giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của cha mẹ, Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam, Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi đối với trẻ em là người nước ngoài, Quyết định cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi;

- Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp. Phiếu lý lịch tư pháp phải là phiếu được cấp không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ sơ;

- Giấy tờ xác nhận về việc người đó đang làm thủ tục nhập quốc tịch nước ngoài. Đây là giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận hoặc bảo đảm cho người đó được nhập quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp pháp luật nước đó không quy định về việc cấp giấy này. Trường hợp người xin thôi quốc tịch Việt Nam đã có quốc tịch nước ngoài thì nộp bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp để chứng minh người đó đang có quốc tịch nước ngoài;

- Giấy xác nhận không nợ thuế do Cục thuế nơi người xin thôi quốc tịch Việt Nam cư trú cấp;

- Đối với người trước đây là cán bộ, công chức, viên chức hoặc phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã nghỉ hưu, thôi việc, bị miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức hoặc giải ngũ, phục viên chưa quá 5 năm thì còn phải nộp giấy của cơ quan, tổ chức, đơn vị đã ra quyết định cho nghỉ hưu, cho thôi việc, miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức hoặc giải ngũ, phục viên xác nhận việc thôi quốc tịch Việt Nam của người đó không phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam. Giấy xác nhận này do thủ trưởng cơ quan, đơn vị nơi đã ra quyết định cho nghỉ hưu, cho thôi việc, miễn nhiệm, cách chức, giải ngũ hoặc phục viên căn cứ vào quy chế của ngành để xác nhận việc thôi quốc tịch Việt Nam của người đó không ảnh hưởng đến việc bảo vệ bí mật quốc gia hoặc không trái với quy định của ngành đó.

* Đối với trường hợp người xin thôi quốc tịch Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài thì hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam bao gồm các giấy tờ sau đây:

- Đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam; Bản khai lý lịch (mẫu Đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam và bản khai lý lịch của người xin thôi quốc tịch Việt Nam được ban hành kèm theo Thông tư số 08/2010/TT-BTP ngày 25 tháng 3 năm 2010);

- Bản sao Hộ chiếu Việt Nam, Giấy chứng minh nhân dân hoặc một trong các giấy tờ sau đây để chứng minh quốc tịch Việt Nam: Giấy khai sinh, trường hợp Giấy khai sinh không thể hiện rõ quốc tịch Việt Nam thì phải kèm theo giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của cha mẹ, Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam, Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi đối với trẻ em là người nước ngoài, Quyết định cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi;

- Giấy tờ xác nhận về việc người đó đang làm thủ tục nhập quốc tịch nước ngoài. Đây là giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận hoặc bảo đảm cho người đó được nhập quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp pháp luật nước đó không quy định về việc cấp giấy này. Trường hợp người xin thôi quốc tịch Việt Nam đã có quốc tịch nước ngoài thì nộp bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp để chứng minh người đó đang có quốc tịch nước ngoài.

* Các giấy tờ trong hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác. Những giấy tờ này cũng phải được dịch sang tiếng Việt và chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.

 Hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam phải được lập thành 3 bộ.

Khi nộp hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam, người xin thôi quốc tịch Việt Nam phải nộp lệ phí; nếu nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp thì lệ phí là 2.500.000đ; nếu nộp hồ sơ tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thì lệ phí là 200 USD.

3. Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam

Người xin thôi quốc tịch Việt Nam nếu cư trú ở trong nước thì nộp hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi cư trú, nếu cư trú ở nước ngoài thì nộp hồ sơ cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại.

- Khi tiếp nhận hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam, nếu thấy hồ sơ đã đầy đủ và hợp lệ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ ghi vào Sổ thụ lý hồ sơ, đồng thời cấp cho người nộp hồ sơ Phiếu tiếp nhận hồ sơ theo mẫu quy định và phải đóng dấu treo của cơ quan tiếp nhận hồ sơ. Trong trường hợp hồ sơ không đầy đủ, không hợp lệ thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn cho người xin thôi quốc tịch Việt Nam bổ sung, hoàn thiện hồ sơ.

 * Trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam tại cấp tỉnh

Theo quy định tại Điều 29 Luật Quốc tịch Việt Nam, thì thời hạn giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam trong vòng 105 ngày. Trong đó, thời hạn xem xét, thẩm tra và có ý kiến đề xuất giải quyết việc xin thôi quốc tịch Việt Nam tại cấp tỉnh là 70 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ (đối với trường hợp được miễn thủ tục thẩm tra hồ sơ thì thời hạn giải quyết tại UBND cấp tỉnh chỉ còn 40 ngày). Cụ thể như sau:

- Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp có trách nhiệm đăng thông báo về việc xin thôi quốc tịch Việt Nam trên một tờ báo viết hoặc báo điện tử ở địa phương trong ba số liên tiếp và gửi đăng trên Trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.Thông báo trên Trang thông tin điện tử phải được lưu giữ trên đó trong thời gian ít nhất là 30 ngày, kể từ ngày đăng thông báo. Cùng thời gian này, Sở Tư pháp gửi văn bản đề nghị cơ quan Công an cấp tỉnh xác minh về nhân thân của người xin thôi quốc tịch Việt Nam.

- Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, cơ quan Công an cấp tỉnh có trách nhiệm xác minh và gửi kết quả đến Sở Tư pháp. Trong thời gian này, Sở Tư pháp phải tiến hành thẩm tra giấy tờ trong hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam.

- Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, Sở Tư pháp có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

- Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, kết luận và đề xuất ý kiến gửi Bộ Tư pháp.

* Trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam tại các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài

Thời hạn xem xét, thẩm tra và có ý kiến đề xuất giải quyết việc xin thôi quốc tịch Việt Nam tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài là 20 ngày, kể từ ngày Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Cụ thể:

- Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm đăng thông báo về việc xin thôi quốc tịch Việt Nam trên Trang thông tin điện tử của mình.

- Trong thời hạn 20 ngày, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thẩm tra và chuyển hồ sơ kèm theo ý kiến đề xuất về việc xin thôi quốc tịch Việt Nam về Bộ Ngoại giao để chuyển đến Bộ Tư pháp.

Ngoài ra, Thông tư số 05/2010/TTLT/BTP-BNG-BCA ngày 01/3/2010 về hướng dẫn thi hành Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam đã có hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm của Sở Tư pháp và Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong việc thẩm tra hồ sơ, khoản 2 Điều 2 quy định: Cơ quan tiếp nhận hồ sơ thực hiện việc thẩm tra hồ sơ nhằm kiểm tra tính hợp pháp của các giấy tờ có trong hồ sơ và tính xác thực của các thông tin về người xin thôi quốc tịch Việt Nam. Sở Tư pháp đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác minh nếu thấy có những điểm chưa rõ ràng, thiếu chính xác về họ tên, địa chỉ, quan hệ gia đình hoặc mục đích xin thôi quốc tịch Việt Nam.

Khoản 4 Điều 2 cũng quy định: Đối với hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam, Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm phân loại thành thuộc diện được miễn xác minh về nhân thân theo quy định tại Điều 30 Luật Quốc tịch Việt Nam và hồ sơ thuộc diện cần phải xác minh về nhân thân. Trường hợp hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam thuộc diện được miễn xác minh về nhân thân thì thời hạn của giấy tờ bảo đảm cho nhập quốc tịch nước ngoài phải còn ít nhất là 120 ngày, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ; trường hợp không được miễn thủ tục xác minh về nhân thân thì thời hạn phải còn ít nhất là 150 ngày, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ.

Bên cạnh đó, khi gửi văn bản đề xuất ý kiến về việc giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài gửi Bộ Tư pháp danh sách những người được đề nghị giải quyết cho thôi quốc tịch Việt Nam vào địa chỉ thư điện tử cuả Bộ Tư pháp: quoctich@moj.gov.vn.

* Miễn thủ tục xác minh về nhân thân

Hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam phải qua thủ tục xác minh về nhân thân của cơ quan công an, tuy nhiên, hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam của những người thuộc các trường hợp sau đây không phải qua thủ tục xác minh về nhân thân: Người dưới 14 tuổi; người sinh ra và định cư ở nước ngoài; người đã định cư ở nước ngoài từ 10 năm trở lên; người đã được xuất cảnh theo diện đoàn tụ gia đình (Điều 30 Luật Quốc tịch Việt Nam).

Quy định về việc miễn thủ tục thẩm tra về nhân thân cho các đối tượng nói trên là một bước cải cách thủ tục thành chính trong lĩnh vực quốc tịch, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ.

* Trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam tại cấp trung ương

- Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề xuất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy người xin thôi quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện được thôi quốc tịch Việt Nam thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ ký tờ trình trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Tư pháp đề nghị Bộ Công an xác minh về nhân thân của người xin thôi quốc tịch Việt Nam.

- Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước xem xét, quyết định.

Trong trường hợp Chủ tịch nước quyết định cho thôi quốc tịch Việt Nam, Bộ Tư pháp sẽ thông báo quyết định của Chủ tịch nước cho người xin thôi quốc tịch Việt Nam. Trong trường hợp người xin thôi quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài, Bộ Tư pháp sẽ gửi bản sao Quyết định kèm theo danh sách những người được thôi quốc tịch Việt Nam cho Bộ Ngoại giao để chuyển cho Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nơi đã tiếp nhận hồ sơ; đồng thời, Bộ Tư pháp đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

Từ ngày 01 tháng 7 năm 2009 đến nay (ngày Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 có hiệu lực thi hành), việc giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam theo quy định mới đã có nhiều thay đổi, số lượng hồ sơ thuộc diện phải xác minh giảm, thời hạn giải quyết hồ sơ cũng đã được rút ngắn. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, từ ngày 01/7/2009 đến nay, Chủ tịch nước đã ký quyết định cho thôi quốc tịch Việt Nam đối với 14.179 người, trong đó chủ yếu là công dân Việt Nam đang cư trú tại nước ngoài xin thôi quốc tịch Việt Nam (chiếm khoảng 98%). Trong số công dân Việt Nam đang cư trú tại nước ngoài xin thôi quốc tịch Việt Nam thì có 9.162 công dân đang cư trú tại Đài Loan, số này chủ yếu là phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan, nay xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch Đài Loan ổn định cuộc sống lâu dài tại Đài Loan cùng gia đình. Còn lại, chủ yếu là công dân Việt Nam hiện đang cư trú tại CHLB Đức, Hàn Quốc, Lào, Hồng Kông, Séc, Đan Mạch, Na Uy…Trong thời gian gần đây, số hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam của công dân Việt Nam đang cư trú tại Hàn Quốc cũng tăng nhanh, do số phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc trong những năm qua đến nay đã đủ điều kiện để phía Hàn Quốc xem xét, cho nhập quốc tịch Hàn Quốc.

Có thể nói rằng, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này đã quán triệt mạnh mẽ tinh thần cải cách thủ tục hành chính của Đảng và Nhà nước. Việc quy định cụ thể thời hạn giải quyết hồ sơ, trình tự, thủ tục giải quyết vào luật và việc minh bạch hóa các kết quả giải quyết hồ sơ như đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp cũng là một cách làm mới, tạo điều kiện tối đa để người dân khắp mọi nơi dễ dàng tiếp cận những thông tin xung quanh kết quả giải quyết của mình.

 

 III. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ QUỐC TỊCH ĐỐI VỚI DÂN DI CƯ TỰ DO TẠI CÁC KHU VỰC BIÊN GIỚI

 1. Tình hình người không quốc tịch cư trú ổn định ở nước ta

Theo quan niệm quốc tế, tình trạng không quốc tịch có 2 dạng chính: 1) không quốc tịch theo luật (de jure) nghĩa là một người không có khả năng xin được xác nhận quốc tịch hoặc không được coi là công dân của một nước nào đó theo quy định của luật pháp nước đó, 2) không quốc tịch theo thực tế (de factor) nghĩa là một người không thể có bất cứ giấy tờ gì để chứng minh quốc tịch của mình.

 Khoản 2 Điều 2 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 đã giải thích cụm từ “người không quốc tịch” là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài. Thuật ngữ này vẫn tiếp tục được sử dụng lại tại khoản 2 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008. Quan điểm tiến bộ và chính sách nhất quản của Nhà nước ta về hạn chế tình trạng không quốc tịch được thể hiện tại Điều 8 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008:Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều kiện cho trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch và những người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật này”.

 Người không quốc tịch, người không rõ quốc tịch cư trú trên lãnh thổ Việt Nam đã có từ lâu và vẫn còn tồn đọng từ nhiều năm nay. Số cư dân này chủ yếu tập trung ở một số tỉnh, thành phố phía Nam, Tây Nguyên, biên giới phía Tây và phía Bắc. Do nước ta có chung đường biên giới trên đất liền với ba nước láng giềng, qua nhiều thời kì, những năm chiến tranh và việc đường biên giới quốc gia chậm được phân định mốc giới nên việc di cư tự do qua biên giới đã diễn ra dễ dàng và kéo dài, dẫn đến số dân không quốc tịch hoặc không rõ quốc tịch cư trú trên lãnh thổ nước ta khá nhiều. Trải qua nhiều năm cư trú, làm ăn, sinh sống ổn định trên lãnh thổ nước ta, đến nay số cư dân này đã thực sự hoà nhập vào cộng đồng xã hội Việt Nam về mọi mặt đời sống: sản xuất, sinh hoạt, học tập, hôn nhân, làm việc, kinh doanh... Nghề nghiệp của họ chủ yếu là làm ruộng, làm rẫy, làm thợ, một số ít làm kinh doanh, buôn bán nhỏ. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, những người này cũng như các con, cháu của họ chưa được hưởng các quyền công dân và cũng không phải làm các nghĩa vụ công dân vì chưa được xác định là có quốc tịch Việt Nam. Thực trạng này không những làm cho cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn, mà còn làm phát sinh nhiều vấn đề phức tạp trong việc quản lý dân cư tại địa phương, nhất là dân cư dọc biên giới.

Trong những năm gần đây có sự điều chỉnh đường biên giới giữa nước ta với các nước láng giềng thông qua các hiệp định về hoạch định biên giới, theo đó có một bộ phận dân cư là công dân của nước láng giềng sau cắm mốc sinh sống ổn định trên lãnh thổ Việt Nam. Trong hiệp định không quy định rõ số cư dân này đương nhiên có quốc tịch Việt Nam, cho nên nếu họ muốn có quốc tịch Việt Nam (hầu hết đều là người dân tộc, nghèo, trình độ văn hoá thấp, không hiểu biết về tình trạng hộ tịch, quốc tịch), thì phải làm thủ tục nhập quốc tịch. Thực tế việc giải quyết vấn đề này rất chậm vì để được nhập quốc tịch Việt Nam họ phải hội tụ đủ các các điều kiện, phải làm thủ tục xin thôi quốc tịch gốc, phải nộp khoản lệ phí cao so với mức thu nhập của họ. Trong số những cư dân này, có một số lượng không nhỏ người đang trong tình trạng không có quốc tịch hoặc không rõ quốc tịch vì bản thân họ không có giấy tờ chứng minh quốc tịch của mình và cơ quan nhà nước cũng không có sổ gốc, tài liệu gì xác định quốc tịch của họ. Các địa phương chưa có thống kê, phân loại đầy đủ, cụ thể danh sách những người sống ổn định trên khu vực mới được hoạch định thành lãnh thổ Việt Nam.    

Theo nghiên cứu và báo cáo của các địa phương, có thể khái quát nguời không quốc tịch, người không rõ quốc tịch cư trú ở nước ta thành 5 nhóm: 1) những người tị nạn từ Campuchia đến sinh sống tại các tỉnh phía Nam, 2) những người di cư tự do từ Lào sang Việt Nam sống dọc 10 tỉnh biên giới phía Tây, 3) những người di cư  tự do từ Campuchia đến sinh sống tại các tỉnh phía Nam, 4) những người di cư  tự do từ Trung quốc sang Việt Nam sống tại các tỉnh biên giới phía Bắc, 5) những người đã thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài nhưng vì nhiều lý do khác nhau họ không nhập được quốc tịch của nước đó nay họ trở về Việt Nam sinh sống và rơi vào tình trạng không quốc tịch.

Để thực  hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác quốc tịch, phục vụ việc xây dựng Luật  quốc tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành, ngày 03-6-2008, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 1707/BTP-HCTP đề nghị Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo Sở Tư pháp, Công an cấp tỉnh và các cơ quan hữu quan phối hợp tiến hành rà soát, lập danh sách những người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch hiện đang cư trú, làm ăn sinh sống ổn định tại địa phương từ 5 năm trở lên. Theo báo cáo thống kê không đầy đủ của 47/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, tính đến 30-7-2008,  có 9.709 người nước ngoài sống ổn định tại 47 địa phương nêu trên từ 5 năm trở lên, trong đó có 8.256 người có quốc tịch nước ngoài công dân nước ngoài và 1.453 người không quốc tịch.

Trong những năm qua, Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực trong việc giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về quốc tịch, phối hợp với các Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, Uỷ ban nhân dân và Sở Tư pháp của các tỉnh, thành phố trực trung ương đã thụ lý, xem xét, giải quyết một khối lượng rất lớn hồ sơ xin nhập, xin thôi, xin trở lại quốc tịch Việt Nam, cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, việc giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam trong nhiều năm qua chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân, số lượng người nước ngoài, đặc biệt là số người không quốc tịch sống trên lãnh thổ Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam là quá nhỏ so với nhu cầu thực tế.

Điều 8 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 quy định về hạn chế tình trạng không quốc tịch: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều kiện cho… những người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam”. Theo quy định tại Điều 20 của Luật năm 1998 này thì thủ tục nhập quốc tịch Việt Nam của những người không quốc tịch cũng giống như thủ tục đối với người nước ngoài thuần túy, không được miễn hoặc giảm về điều kiện, thủ tục và phải nộp đầy đủ lệ phí. Trong những năm qua, một phần do quy định của Luật Quốc tịch và các văn bản hướng dẫn Luật về điều kiện, thủ tục, trình tự giải quyết cho nhập quốc tịch còn cứng nhắc, phức tạp; một phần do tư duy của chúng ta về vấn đề quốc tịch còn hơi nặng nề, chặt chẽ nên không sớm đề xuất các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết cho số cư dân này nhập quốc tịch Việt Nam. Tính từ tháng 1 năm 1999 đến tháng 9 năm 2010, sau hơn 11 năm, Bộ Tư pháp đã làm thủ tục trình Chủ tịch nước cho phép gần 800 trường hợp được nhập quốc tịch Việt Nam, trong số đó chủ yếu là người Trung Quốc hiện đang sinh sống tập trung tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam và người Campuchia tị nạn; Trong số người nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam chủ yếu tập trung vào đối tượng là người tỵ nạn Campuchia, số này chiếm khoảng 80%, người không quốc tịch được nhập quốc tịch Việt Nam khoảng 10%, số còn lại là người Trung Quốc (Đài Loan), Ấn Độ, Pakistan, Pháp, Hàn Quốc… Số lượng người không quốc tịch sống ổn định từ nhiều năm trên lãnh thổ Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam là rất ít, nhất là đối với dân di cư tự do dọc các tỉnh biên giới phía Tây và Tây-Nam.

2.      Vấn đề quốc tịch đối với người Campuchia tị nạn

Để giải quyết tình trạng dân di cư tự do dọc biên giới Việt Nam - Campuchia, từ những năm 1976 đến 1889 Chính phủ Việt Nam đã cùng Cao uỷ Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR) thành lập một số trại tị nạn ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Phước để quản lý và giúp đỡ những người này.

 Trong nhiều năm qua, Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo các ngành xem xét cho những người này được nhập quốc tịch  nếu họ có đủ các điều kiện theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998.

Ngày 04/12/2007 Văn phòng Chính phủ có văn bản thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đồng ý với đề nghị của Bộ Ngoại giao về việc đẩy nhanh giải quyết nhập quốc tịch Việt Nam cho người Campuchia lánh nạn trước đây. Theo đó, Bộ Ngoại giao đã đề nghị Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ Tư pháp thành lập Nhóm công tác liên Bộ: Tư pháp, Ngoại giao, Công an và một số cơ quan chức năng để lên kế hoạch cụ thể thực hiện việc đẩy nhanh giải quyết nhập quốc tịch Việt Nam cho số người này và xử lý các vấn đề nảy sinh.

Ngày 22 tháng 8 năm 2008, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 1578/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch giải quyết vấn đề quốc tịch cho người Campuchia lánh nạn hiện đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và Bình Phước. Đối với những trường hợp lánh nạn diệt chủng Pol Pot từ Campuchia đến Việt Nam từ những năm 1970 đến năm 1983 mà không có giấy tờ chứng minh quốc tịch gốc và đã từng được đăng ký tại các trại tị nạn thì sẽ được xem xét, giải quyết cho nhập quốc tịch Việt Nam theo diện người không quốc tịch. Đối với những trường hợp hiện đang làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận thôi quốc tịch Campuchia (324 hồ sơ), và những trường hợp xin Giấy chứng nhận không có quốc tịch Campuchia (75 hồ sơ), nếu phía Campuchia xác nhận được số người này là người có quốc tịch Campuchia và cấp giấy cho thôi quốc tịch Campuchia thì phía Việt Nam sẽ giải quyết nhập quốc tịch theo thủ tục thông thường. Trường hợp ngược lại phía Campuchia không xác nhận hoặc không có ý kiến trả lời cụ thể thì phía Việt Nam sẽ xem xét, trình Chủ tịch nước cho họ nhập quốc tịch Việt Nam theo diện người không quốc tịch.

Theo kế hoạch này, Bộ Tư pháp có trách nhiệm chủ trì và phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành ở Trung ương và Uỷ ban nhân dân TP Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và Bình Phước thúc đẩy nhanh chóng việc giải quyết vấn đề nhập quốc tịch cho người lánh nạn Campuchia một cách thống nhất và đồng bộ theo kế hoạch; chỉ đạo và hướng dẫn Sở Tư pháp cùng với các cơ quan liên quan ở địa phương thực hiện việc khảo sát, thống kê, phân loại, phỏng vấn, lập hồ sơ những người có nhu cầu xin nhập quốc tịch Việt Nam, trình cơ quan có thẩm quyền cấp trên xem xét, giải quyết; chỉ đạo và hướng dẫn Sở Tư pháp thực hiện đăng ký kết hôn và các việc hộ tịch khác theo các văn bản pháp luật hiện hành, đối với những trường hợp đã được Chủ tịch nước quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện của địa phương. Trên cơ sở đó, các cơ quan có thẩm quyền phối hợp kịp thời để giải quyết tình trạng di cư tự do của dân Campuchia tị nạn cũng như người không quốc tịch tại các địa phương.

Theo thống kê và báo cáo của các Sở Tư pháp phía Nam, từ những năm 1970 đến năm 1983 có khoảng 125.000 người Campuchia tị nạn sang Việt Nam, tập trung chủ yếu tại một số địa phương như: TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình phước, Đồng Nai, An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh v.v... Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo các địa phương, cùng với Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR) đã thành lập một số trại ở một số tỉnh phía Nam để quản lý và giúp đỡ số người lánh nạn này. Sau khi Pol Pốt bị lật đổ, với sự hỗ trợ của UNHCR, Chính phủ Việt Nam đã trao đổi với Chính phủ Campuchia thu xếp cho đa số người tị nạn nêu trên hồi hương về Campuchia, đồng thời một số được thu xếp cho đi tái định cư ở nước thứ ba. Số còn lại khoảng mấy nghìn người chủ yếu là người gốc Việt Nam, gốc Campuchia và gốc Hoa vì không thể thu xếp đi định cư ở nước thứ ba nên họ đã ở lại Việt Nam làm ăn, sinh sống.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, mới có hơn 400 người có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam đã được nhập quốc tịch Việt Nam và khoảng 1000 người đang hoàn tất thủ tục cuối cùng để được nhập quốc tịch Việt Nam. Những người còn lại chưa được nhập quốc tịch Việt Nam vì trong quá trình làm hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam, họ khai là có quốc tịch Campuchia nhưng lại không có giấy tờ gì để chứng minh quốc tịch Campuchia của họ hoặc chứng minh được quốc tịch Campuchia của mình nhưng lại không thể xin thôi quốc tịch Campuchia để nhập quốc tịch Việt Nam. Do vậy, việc giải quyết quốc tịch cho đối tượng này cũng gặp không ít khó khăn.

3. Vấn đề dân di cư tự do dọc biên giới Việt - Lào

Tình trạng di cư của dân Lào và dân Việt Nam qua lại sinh sống dọc biên giới chung của hai nước đã có từ lâu. Vấn đề người Lào, người Lào gốc Việt di cư tự do sang cư trú ở các tỉnh giáp biên giới Việt Nam-Lào là thực trạng đã tồn tại từ nhiều năm nay và vẫn còn đang tiếp diễn, tập trung chủ yếu ở 10 tỉnh có đường biên giới Việt - Nam: Sơn La, Điện Biên, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và Kon Tum. Theo Báo cáo thống kê của Uỷ ban nhân dân các tỉnh gửi Bộ Tư pháp thì số dân di cư tự do tập trung nhiều nhất  tại Quảng Trị (406 hộ/2012 nhân khẩu), Kon Tum (383 hộ/ 1157 nhân khẩu), Nghệ An (388 hộ), Thừa Thiên Huế (112 hộ/447 nhân khẩu).

Tình trạng di cư tự do dọc biên giới Việt - Lào xuất phát từ nhiều nguyên nhân như tập quán du canh, du cư lâu đời; điều kiện kinh tế ở Lào khó khăn hơn nên nhân dân Lào di cư sang Việt Nam để làm ăn, sinh sống và do thực hiện Hiệp định hoạch định biên giới. Hầu hết những đối tượng này đều có cuộc sống kinh tế khó khăn, trình độ dân trí thấp, không có bất cứ giấy tờ gì để làm căn cứ xác định nhân thân của họ, mặc du phần lớn trong số họ khai là có quốc tịch Lào, tuy nhiên họ đếu không chứng minh được quốc tịch của mình; quan niệm về hôn nhân còn rất đơn giản, nhiều cặp vợ chồng sống chung với nhau nhưng không đăng ký kết hôn, sinh con đẻ cái nhưng không khai sinh cho con, con cái cũng không có giấy khai sinh và các giấy tờ khác để có thể đi học, xin việc làm. Những người này sống tập trung tại các xã có đường biên giới chung với Lào, có thời gian cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam và có nguyện vọng xin nhập quốc tịch Việt Nam, mong muốn được gắn bó lâu dài với tổ quốc Việt Nam.

Từ năm 1990 đến nay, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào đã ký một số biên bản thỏa thuận giải quyết dân di cư tự do dọc biên giới của hai nước.

Cuối tháng 11/2007, trong chuyến thăm và làm việc tại CHDCNN Lào, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Việt Nam đã tiếp kiến Phó Thủ tướng Thường trực CHDCNN Lào và hội đàm với Bộ trưởng Bộ Tư pháp CHDCNN Lào, qua đó Bộ trưởng Bộ Tư pháp Việt Nam đã trao đổi thông tin và đề nghị với phía Lào phối hợp tìm biện pháp giải quyết sớm đối với vấn đề quốc tịch cho người Việt Nam và Lào sinh sống tại các tỉnh biên giới Việt-Lào. Hai bên đều thống nhất nội dung ưu tiên hợp tác giữa hai Bộ Tư pháp trong thời gian tới là tập trung giải quyết vấn đề quốc tịch và hộ tịch cho đối tượng này trên cơ sở phù hợp với pháp luật của mỗi nước, thông lệ, tập quán quốc tế và mối quan hệ hữu nghị, truyền thống đặc biệt của hai nước.

Ngày 03/6/2008, Bộ Tư pháp có Công văn 1707/TP-HCTP đề nghị Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (trong đó bao gồm cả các tỉnh dọc biên giới Việt Nam - Lào) chỉ đạo các Sở Tư pháp phối hợp với Công an cấp tỉnh và các cơ quan có liên quan tiến hành rà soát, lập danh sách thống kê những người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch hiện đang cư trú ổn định tại địa phương từ 05 năm trở lên. Cho đến cuối năm 2008 đã có hơn 40 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi báo cáo kết quả về Bộ Tư pháp.

Bộ Tư pháp cũng đã cử cán bộ cấp vụ tham gia Nhóm công tác liên hợp giải quyết vấn đề dân di cư tự do và kết hôn không giá thú trong khu vực biên giới Việt Nam - Lào; tham gia ý kiến và thẩm định dự thảo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc giải quyết tình trạng di cư tự do, vượt biên trái phép và kết hôn không giá thú ở khu vực biên giới của hai nước.

Ngày 20/10/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Chỉ thị số 31/2008/CT-TTg về việc giải quyết tình trạng di cư tự do, vượt biên trái phép và nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn dọc khu vực biên giới Việt Nam - Lào. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã có Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 31/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quyết định số 500/QĐ-BTP ngày 04/3/2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Ngày 04/3/2009, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 500/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị này.

 Ngày 07/5/2009, Bộ Tư pháp có Công văn số 1430/BTP-HCTP hướng dẫn Uỷ ban nhân dân các tỉnh có chung đường biên giới với Lào thực hiện một số nội dung về việc nhập quốc tịch Việt Nam đối với số người Lào di cư tự do và rà soát, hệ thống hoá các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương liên quan đến giải quyết tình trạng di cư tự do, vượt biên trái phép và nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn ở khu vực biên giới Việt Nam – Lào. (Kèm theo các mẫu giấy tờ làm hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam và mẫu Báo cáo rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật)

 Ngày 07/5/2009, Bộ Tư pháp có Công văn số 1431/BTP-HCTP về việc cử cán bộ tham gia Nhóm rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật thực hiện Chỉ thị số 31/2008//CT-TTg.

 Ngày 26/3/2010, Bộ Tư pháp có Công văn số 792/BTP-HCTP về việc báo cáo kết quả triển khai thực hiện Kế hoạch triển khai Chỉ thị số 31/2008/CT-TTg

Ngày 29/4/2010, Bộ Tư pháp có Công văn số 1206/BTP-HCTP về việc cử cán bộ tham gia Nhóm công tác liên hợp giải quyết các vấn đề di cư tự do, vượt biên trái phép và nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn ở khu vực biên giới Việt Nam – Lào (gồm Vụ Hành chính tư pháp, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Pháp luật quốc tế - Bộ Tư pháp, Cục Lãnh sự, Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài -Bộ Ngoại giao, Vụ Pháp chế - Bộ Công an, Vụ Pháp chế - Ủy ban dân tộc).

Ngày 11/9/2010, Bộ Tư pháp có văn bản số 3197/BTP-HCTP gửi Văn phòng Chính phủ góp ý kiến về đề xuất của Bộ Ngoại giao để Thủ tướng có văn bản tiếp tục chỉ đạo các Bộ Ngành, các tỉnh biên giới liên quan trong đó nhấn mạnh cần có biện pháp thiết thực, thành lập các Tổ công tác liên ngành (Tư pháp, Công An, Ngoại Vụ, Biên Phòng, UBND huyện, xã) lưu động đến tận địa bàn huyện, xã để khảo sát, thống kê, phân loại, tuyên truyền, vận động và hướng dẫn, hỗ trợ bà con làm hồ sơ xin đăng ký hộ tịch, xin nhập quốc tịch Việt Nam theo hướng đơn giản hóa thủ tục và miễn một số điều kiện đã được pháp luật về hộ tịch, quốc tịch quy định, nhất là chỉ đạo Bộ Tài chính ưu tiên hỗ trợ kinh phí cho 10 tỉnh biên giới với Lào, trước mắt là cho tỉnh Nghệ An và Kon Tum để triển khai các hoạt động của Tổ công tác liên ngành lưu động và đón nhận số bà con không được phép cư trú tại Lào, thuộc đối tượng phải chuyển giao về Việt Nam, tổ chức cuộc sống, hỗ trợ kinh phí để bà con tái thiết nhà cửa, khôi phục sản xuất ngay sau khi trở về Việt Nam. Do xuất phát từ hoàn cảnh đặc biệt nên hầu hết họ đều là dân nghèo nên Chính phủ Việt Nam miễn lệ phí cho họ, tạo điều kiện thuận lợi để họ có quốc tịch, có các giấy tờ về hộ tịch để ổn định cuộc sống trên lãnh thổ Việt Nam, cụ thể: những người Lào di cư sang Việt Nam mà  có nguyện vọng xin nhập quốc tịch Việt Nam đã được phép cư trú ổn định trước ngày 01/01/2009 được miễn lệ phí theo quy định tại Khoản 4 Điều 2 Thông tư số 146/2009/TT-BTC ngày 20/7/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng lệ phí giải quyết các việc liên quan đến quốc tịch.

Đối với số dân di cư từ Lào sang Việt Nam, có nguyện vọng nhập quốc tịch Việt Nam, nhất trí sẽ báo cáo Chính phủ mỗi nước xem xét, quyết định cho họ được nhập quốc tịch theo nguyên tắc sau:

- Đối với những người có giấy tờ khẳng định họ có quốc tịch Lào thì họ phải làm đầy đủ thủ tục xin thôi quốc tịch Lào để được nhập quốc tịch Việt Nam.

- Đối với những người không có giấy tờ khẳng định họ có quốc tịch Lào hoặc quốc tịch một nước thứ ba, phía Việt Nam sẽ có công hàm gửi Đại sứ quán Lào tại Việt Nam đề nghị phía Lào trong thời hạn 06 tháng trả lời bằng văn khẳng định họ không có quốc tịch Lào, phía Việt Nam sẽ xem xét cho phép những người này được nhập quốc tịch Việt Nam như đối với những người không quốc tịch hoặc tình trạng quốc tịch không rõ ràng.

  Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với Bộ ngoại giao cùng với các Bộ ngành, địa phương và các cơ quan hữu quan của phía Lào tích cực tham gia các hoạt động của Nhóm công tác liên hợp Việt - Lào xây dựng chương trình và hướng dẫn địa phương giải quyết ở 2 cặp tỉnh thí điểm Kon Tum - Sê Kông và Nghệ An -Bô Li Khăm xay trong quý 4 năm 2010; đồng thời chủ trì và phối hợp chặt chẽ với các bộ ngành và chính quyền địa phương các tỉnh biên giới thúc đẩy nhanh việc giải quyết nhập quốc tịch và đăng ký hộ tịch cho dân di cư tại khu vực biên giới Việt- Lào theo từng cặp tỉnh còn lại; chỉ đạo và hướng dẫn Sở Tư pháp thực hiện việc  đăng ký hộ tịch đối với những người dân di cư kết hôn không giá thú đã cư trú ổn định tại các tỉnh biên giới của mỗi nước; tiếp nhận giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch và thực hiện đăng ký kết hôn và các việc hộ tịch khác; liên hệ với Cơ quan đại diện ngoại giao và Bộ Tư pháp của phía bên kia về danh sách số người Lào được phép ở lại xin nhập quốc tịch Việt Nam cũng như số người Việt Nam được phép ở lại xin nhập quốc tịch Lào và hoàn tất thủ tục trình cấp có thẩm quyền của hai nước xem xét, quyết định cho nhập quốc tịch trên nguyên tắc có đi, có lại, phù hợp với quy định pháp luật của mỗi nước và thông lệ, tập quán quốc tế.

Để giải quyết dứt điểm tình trạng dân di cư tự do tại các địa phương, đặc biệt là dân di cư từ Lào và Campuchia như đã nêu trên, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 ra đời là công cụ pháp lý hữu hiệu và đáp ứng yêu cầu của cuộc sống một cách kịp thời. Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã đưa ra chế định: “Người không quốc tịch mà không có đầy đủ giấy tờ về nhân thân, nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ hai mươi năm trở lên tính đến ngày Luật này có hiệu lực và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục và hồ sơ do Chính phủ quy định”(Điều 22).

Đây là quy định mang tính chất chuyển tiếp, được thực hiện trong vòng 03 năm, nhằm giải quyết dứt điểm một lần những tồn đọng về tình trạng người không quốc tịch làm ăn, sinh sống ổn định trên toàn lãnh thổ Việt Nam; đảm bảo quyền có quốc tịch của mỗi cá nhân, hạn chế tình trạng không quốc tịch; đồng thời xác định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan trong việc quản lý, giải quyết các việc về quốc tịch.

Với quy định này, đối tượng điều chỉnh là những người không có đầy đủ các giấy tờ chứng minh Việt Nam hoặc quốc tịch nước ngoài, đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên tính đến ngày 01/7/2009, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và có nguyện vọng xin nhập quốc tịch Việt Nam.

Trên cơ sở quy định này, ngày 18/10/2010, Bộ Tư pháp có Công văn số 3701/BTP-HCTP đôn đốc và hướng dẫn Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện Điều 22 Luật Quốc tịch Việt Nam (Theo báo cáo của các địa phương, số người không quốc tịch này chủ yếu là những người sinh sống dọc biên giới Việt – Lào và người Campuchia tị nạn), trong đó cũng hướng dẫn cụ thể đối với những khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng cao, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở Tư pháp chủ trì tổ chức các Tổ công tác lưu động với sự tham gia của cán bộ, công chức cơ quan Công an, Sở Ngoại vụ, Bộ đội biên phòng (nếu có), Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã đến tận địa bàn dân cư để tuyên truyền, rà soát, thống kê, hướng dẫn kê khai, hỗ trợ người dân làm đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam và lập hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam; chỉ đạo Cơ quan Công an chủ trì phối hợp với Sở Tư pháp và các cơ quan hữu quan tại địa phương khi xác minh về nhân thân và thời gian cư trú của người không quốc tịch theo hướng dẫn tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT/BTP-BNG-BCA ngày 01/3/2010 tiến hành theo danh sách của từng đợt và việc xác minh tất cả những người trong cùng một đợt phải được thực hiện trong thời gian ngắn nhất, phù hợp với điều kiện của từng địa phương.

Như vậy, bên cạnh Kế hoạch giải quyết vấn đề quốc tịch cho người Campuchia lánh nạn hiện đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và Bình Phước và  Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 31/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Luật Quốc tịch Việt Nam đã được Quốc hội ban hành kịp thời giải quyết được vấn đề tồn đọng từ trước tới nay, quốc tịch của dân di cư tự do dọc biên giới Việt - Lào và người Campuchia tị nạn đã và đang được giải quyết một cách cơ bản và triệt để, hạn chế tình trạng dân di cư tự do, không có quốc tịch, không có giấy tờ về nhân thân. Giải quyết được vấn đề này, một mặt, cuộc sống của những đối tượng này dần đi vào ổn định, nâng cao chất lương cuộc sống, mặt khác, giúp cho các cơ quan có thẩm quyền quản lý được dễ dàng người dân sinh sống tại địa phương.

4. Về thi hành Điều 22 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008

Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2009 có một số điều quy định về giải quyết nhập quốc tịch Việt Nam cho những người không quốc tịch theo hướng đơn giản hoá thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có cuộc sống ổn định lâu dài từ 20 năm trở lên, đã hoà nhập tốt với cộng đồng xã hội Việt Nam, để họ nhanh chóng ổn định cuộc sống, được hưởng đầy đủ quyền công dân và có điều kiện để làm nghĩa vụ của họ đối với tổ quốc Việt Nam, tạo thuận lợi cho việc quản lý nhà nước về dân cư ở các vùng biên giới, giữ gìn và phát triển quan hệ quốc tế với các nước láng giềng có chung đường biên giới với nước ta. 

  Trong những năm gần đây, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan và địa phương cố gắng giải quyết các vấn đề quốc tịch, hộ tịch, hộ khẩu để trên cơ sở đó giải quyết các chính sách về y tế, giáo dục cho số cư dân này, nhưng kết quả còn rất hạn chế. Để bảo đảm thực hiện nguyên tắc một quốc tịch, Luật quốc tịch năm 1998 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định rất chặt chẽ về điều kiện, thủ tục, trình tự giải quyết cho nhập quốc tịch Việt Nam, không phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện thực tế của số cư dân này. Thêm vào đó, do chúng ta bị gò bó, không thể thoát ra khỏi tư duy một quốc tịch nên gặp nhiều khó khăn trong việc tìm ra các giải pháp giải quyết cho số cư dân này nhập quốc tịch Việt Nam. Năm 2003, theo đề nghị của Uỷ ban nhân dân tỉnh Gia Lai, Bộ Tư pháp đã thống nhất ý kiến với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao và báo cáo Chính phủ cho phép thực hiện thí điểm đăng ký hộ tịch để xác định quốc tịch cho hơn 2.000 người thuộc loại này ở Gia Lai, kết quả đạt được rất tốt. Kinh nghiệm thực tiễn này đã được khái quát thành quy định của Luật để có thể áp dụng trong phạm vi toàn quốc.

Từ những năm chín mươi của thế kỷ XX, có khoảng 46.000 Việt kiều từ Campuchia trở về sinh sống tại một số tỉnh phía Nam (chủ yếu tập trung ở một số tỉnh như An Giang, Sóc Trăng, Tây Ninh... ) không có các giấy tờ tuỳ thân để chứng  minh quốc tịch, đã làm cho công tác quản lý của các cơ quan nhà nước gặp không ít khó khăn, phức tạp trong khoảng thời gian dài, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân những người này cũng như của cả gia đình họ. Trước tình hình đó, để giúp người dân sớm ổn định cuộc sống tại Việt Nam cũng như để đảm bảo công tác quản lý nhà nước, ổn định tình hình an ninh chính trị tại các địa phương, trong năm 2005 Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao chỉ đạo các tỉnh, thành phố rà soát, lập danh sách và tiến hành giải quyết vấn đề quốc tịch thông qua việc đăng ký hộ tịch cho số Việt kiều này. Cho đến nay, về cơ bản số Việt kiều nêu trên đã được đăng ký hộ tịch và qua đó xác định quốc tịch Việt Nam. Trên cơ sở các giấy tờ về hộ tịch, cơ quan Công an tiến hành cấp Sổ hộ khẩu và Giấy chứng minh nhân dân cho họ.

 Số phụ nữ Campuchia lấy chồng là bộ đội tình nguyện Việt Nam tuy không nhiều (khoảng mấy chục trường hợp) nhưng việc giải quyết cho những trường hợp này được nhập quốc tịch Việt Nam có ý nghĩa lớn về mặt tinh thần đối với họ. Bộ Tư pháp đã chỉ đạo các tỉnh, thành phố tiến hành rà soát và lập danh sách những trường hợp này và giải quyết nhập quốc tịch Việt Nam cho họ với tinh thần đơn giản hoá thủ tục và miễm giảm lệ phí để giúp họ nhanh chóng hoà nhập cuộc sống tại Việt Nam. Về cơ bản, các địa phương đã làm tốt công tác này.

Như đã nêu ở trên, cho đến nay, người không quốc tịch, người không rõ quốc tịch cư trú trên lãnh thổ nước ta vẫn còn tồn đọng. Để giải quyết thực tế này,  Điều 22 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: “Người không quốc tịch mà không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân, nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ hai mươi năm trở lên tính đến ngày Luật này có hiệu lực và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục và hồ sơ do Chính phủ quy định”. Đây là một bộ phận khá đông dân cư do nhiều lý do khác nhau (tị nạn chiến tranh, di canh, di cư, kết hôn) vào nước ta từ trước ngày 01-7-1989, sinh sống ở các tỉnh biên giới với Campuchia, Lào, Trung Quốc, một số bà con đã di chuyển vào các tỉnh, thành phố sâu trong lãnh thổ Việt Nam như Bà Rịa-Vũng Tầu, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải phòng, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế….. Hầu hết trong số đó đã có cuộc sống ổn định, đã có thời gian khá lâu sống hòa nhập với cộng đồng xã hội Việt Nam mà không có giấy tờ về nhân thân để chứng minh quốc tịch của mình. Quá trình làm ăn, sinh sống, họ đều chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta. Vì vậy, số cư dân này được coi là đối tượng ưu tiên, được giảm bớt một số điều kiện, khi làm hồ sơ, thủ tục xin nhập quốc tịch Việt Nam và quá trình giải quyết được thực hiện theo trình tự đơn giản hơn. Quốc hội giao cho Chính phủ sẽ thông qua một Nghị định để quy định trình tự, thủ tục và hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam theo hướng giảm các khâu trung gian trong quy trình giải quyết công việc, đơn giản hóa các thủ tục, thời gian giải quyết hồ sơ nhập quốc tịch sẽ nhanh hơn, các giấy tờ trong hồ sơ cũng được giảm bớt đến mức tối thiểu, chỉ gồm Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam và Bản khai lý lịch theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định, không nhất thiết phải nộp chứng chỉ tiếng Việt, giấy tờ tùy thân, bản sao thẻ thường trú, giấy tờ chứng minh đảm bảo cuộc sống ở Việt Nam. Để tạo thuận lợi cho người dân, hồ sơ xin nhập quốc tịch được giải quyết theo yêu cầu cá nhân, theo từng đợt với danh sách tập thể hoặc theo danh sách của gia đình, các đối tượng này đều được miễn lệ phí quốc tịch.

Để được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục ưu tiên đặc biệt nêu trên, điều rất quan trọng là chỉ giới hạn đối với những người tính đến ngày 01 tháng 7 năm 2009 đã cư trú ổn định ở Việt Nam được 20 năm thì mới thuộc đối tượng được xem xét cho nhập quốc tịch theo quy định này. Số người này với nhiều năm cư trú, làm ăn sinh sống ổn định trên lãnh thổ nước ta, đến nay đã thực sự hoà nhập vào cộng đồng người Việt về mọi mặt đời sống. Vì vậy, việc tạo điều kiện thuận lợi cho nhập quốc tịch của những đối tượng này là hoàn toàn phù hợp với chính sách của Nhà nước ta. Tuy nhiên, khi giải quyết những hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam thuộc diện này cần đảm bảo nhanh gọn, thuận lợi, nhưng hồ sơ của họ vẫn phải trên cơ sở sự tự nguyện của đượng sự và qua trình tự, thủ tục xem xét, thẩm định rất chặt chẽ của các cơ quan khác nhau như Sở Tư pháp, Công an cấp tỉnh, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chủ tịch nước sau đó mới được trình lên Chủ tịch nước xem xét, quyết định. Theo Điều 8 Nghị định số 78/2009/NĐ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008, việc giải quyết việc nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của Điều 22 Luật này như sau:

Về đối tượng: Người không quốc tịch phải đáp ứng được các điều kiện: 1)   không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân, 2) đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên tính đến ngày Luật có hiệu lực, 3)tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam.

Về hồ sơ: hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam chỉ bao gồm Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam và Bản khai lý lịch theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định.

Về trình tự giải quyết hồ sơ: Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở Tư pháp phối hợp với cơ quan Công an cấp tỉnh, Sở Ngoại vụ và Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hướng dẫn Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức việc rà soát, lập danh sách, hỗ trợ làm hồ sơ, xác minh về nhân thân của người xin nhập quốc tịch Việt Nam. Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét danh sách và hồ sơ xin nhập quốc tịch và đề nghị Sở Tư pháp giải quyết việc cho nhập quốc tịch Việt Nam. Sở Tư pháp phối hợp với cơ quan Công an cấp tỉnh, Sở Ngoại vụ thẩm định, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, kết luận và đề xuất về việc xin nhập quốc tịch Việt Nam của những người trong danh sách và gửi Bộ Tư pháp; Căn cứ vào danh sách và hồ sơ do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đề xuất, Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ ký Tờ trình kèm theo Danh sách và hồ sơ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Tư pháp trao đổi với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao trước khi trình Chủ tịch nước.

Về thời hạn nộp hồ sơ: đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2012. Cần thiết phải có một thời hạn khá dài (khoảng 3 năm) để thực hiện việc tuyên truyền trong các cộng đồng dân cư cho nguời dân hiểu được ý nghĩa của việc có quốc tịch, hiểu được chính sách và sự quan tâm tạo đièu kiện của Nhà nước Việt Nam, các cơ quan ở địa phương cũng cần có thời gian để rà soát, thống kê, phân loại đối tượng, hướng dẫn bà con hoàn chỉnh hồ sơ và phối hợp giải quyết theo từng đợt, tránh không để sót người trong diện có nguyện vọng muốn trở thành công dân Việt Nam.

Về sự phối hợp giải quyết: Bộ Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao hướng dẫn Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc xây dựng kế hoạch rà soát, lập danh sách và hỗ trợ việc giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam cho những người thuộc diện này.

 Về lệ phí: theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 4 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/9/2009 và tại khoản 3 Điều 2 Thông  tư số 146/2009/TT-BTC ngày 20-7-2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu nộp và quản lý sử dụng lệ phí giải quyết các việc liên quan đến quốc tịch, thì đối tượng người không quốc tịch theo quy định tại Điều 22 Luật quốc tịch năm 2008 khi làm hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam được miễn lệ phí. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam căn cứ vào quy định của Bộ Tài chính để quyết định việc miễn lệ phí cho từng trường hợp cụ thể.

  Vì Điều 22 Luật quốc tịch là quy định mang tính chuyển tiếp, được thực hiện trong vòng khoảng 3 năm, để giải quyết những trường hợp tồn đọng lâu nay, nhằm bảo đảm quyền có quốc tịch của mỗi cá nhân, hạn chế tình trạng không quốc tịch được quy định trong Luật quốc tịch. Do vậy, khoản 3 Điều 8 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP quy định thời hạn nộp hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam cho những người không quốc tịch theo quy định tại Điều 22 Luật quốc tịch là đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2012. Đối với những người này mà hết hạn vẫn chưa nộp hồ sơ, nếu có nguyện vọng nhập quốc tịch Việt Nam, thì việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ được giải quyết theo quy định tại các điều 19, 20 và 21 Luật Quốc tịch Việt Nam (thủ tục nhập quốc tịch thông thường cho người nước ngoài và người không quốc tịch).

Còn đối với những người không quốc tịch, kể cả những người di cư tự do tại các tỉnh có biên giới với Trung quốc,  Lào, Campuchia cư trú ổn định tại Việt Nam chưa đủ 20 năm tính đến ngày Luật quốc tịch năm 2008 có hiệu lực hoặc cư trú một thời gian dài sau ngày Luật này có hiệu lực nếu có nguyện vọng xin nhập quốc tịch Việt Nam sẽ được xem xét cho nhập quốc tịch Việt Nam theo thủ tục thông thường quy định tại các điều 19, 20 và 21 Luật Quốc tịch Việt Nam.

 Ngày 18/10/2010, sau khi thống nhất ý kiến với Bộ Ngoại giao và Bộ Công an, Bộ Tư pháp đã có công văn số 3701/BTP-HCTP về việc đôn đốc triển khai thực hiện Điều 22 gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và Bộ Ngoại giao, Bộ Công an - các cơ quan phối hợp. Tại Công văn này, Bộ Tư pháp đôn đốc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khẩn trương triển khai kế hoạch thực hiện Điều 22 Luật Quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục và hồ sơ được quy định tại Điều 8 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP và được hướng dẫn chi tiết tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT/BTP-BNG-BCA với những việc cụ thể như:

- Chỉ đạo nhiệm vụ cho Sở Tư pháp trong việc phối hợp với các cơ quan hữu quan như Công an, Ngoại vụ, Bộ đội biên phòng (nếu có) xây dựng kế hoạch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

- Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp huyện hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã rà soát, lập danh sách những người đủ điều kiện quy định tại Điều 22 Luật Quốc tịch Việt Nam;

- Chủ động tổ chức các Tổ công tác lưu động với sự tham gia của cán bộ, công chức cơ quan Công an, Sở Ngoại vụ, Bộ đội biên phòng (nếu có), Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã đến tận địa bàn dân cư để tuyên truyền, rà soát, thống kê, hướng dẫn kê khai, hỗ trợ người dân làm đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam và lập hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam.

- Chỉ đạo cơ quan Công an chủ trì phối hợp với Sở Tư pháp và các cơ quan hữu quan tại địa phương khi xác minh về nhân thân và thời gian cư trú của người không quốc tịch theo hướng dẫn tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT/BTP-BNG-BCA ngày 01/3/2010 tiến hành theo danh sách của từng đợt và việc xác minh tất cả những người trong cùng một đợt phải được thực hiện trong thời gian ngắn nhất, phù hợp với điều kiện của từng địa phương;

- Báo cáo cụ thể về tình hình thực hiện cũng như những khó khăn vướng mắc gặp phải khi triển khai thực hiện quy định này để Bộ Tư pháp phối hợp với các Bộ, ngành thống nhất hướng dẫn, giải quyết kịp thời hoặc tổng hợp tình hình của các địa phương trình Thủ tướng Chính phủ có chỉ đạo giải quyết.

Tóm lại, hiện nay, khi chúng ta đang trong bối cảnh chuẩn bị bước sang giai đoạn vượt ra khỏi tình trạng kém phát triển, hội nhập quốc tế, Luật Quốc tịch Việt Nam được Quốc hội thông qua sẽ khắc phục được những điểm hạn chế của Luật Quốc tịch năm 1998, qua đó thể hiện rõ chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quốc tịch là phát huy truyền thống nguyên tắc một quốc tịch, hạn chế tình trạng hai hay nhiều quốc tịch đối với công dân sống trên lãnh thổ Việt Nam; tăng cường hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước đối với công tác quốc tịch; thiết lập cơ chế giải quyết những tồn đọng về tình trạng người không quốc tịch, làm ăn, sinh sống ổn định trên lãnh thổ Việt Nam; xác định cụ thể trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan trong việc quản lý, giải quyết các việc về quốc tịch, kế thừa và cụ thể hoá những quy định về trình tự, thủ tục giải quyết các vấn đề về quốc tịch, xây dựng cơ chế tháo gỡ những vướng mắc, tồn đọng trong thực tiễn giải quyết các công việc về quốc tịch. Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta, với sự chỉ đạo kiên quyết, kịp thời của thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với các bộ ngành và địa phương, đồng thời quan hệ hợp tác với các nước có chung đường biên giới nhanh chóng thực hiện có hiệu quả các kế hoạch giải quyết việc nhập quốc tịch Việt Nam cho những đối tượng người không quốc tịch đã sống ổn định tại các địa phương, đưa Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 đi vào cuộc sống.

 

IV. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG KÝ GIỮ QUỐC TỊCH VIỆT NAM THEO LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM NĂM 2008

Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 được Quốc hội thông qua là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về quốc tịch của nước ta có nhiều điểm mới so với Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998. Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân Việt Nam nói chung cũng như người Việt Nam định cư ở nước ngoài nói riêng, đã thể chế hoá đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quốc tịch Việt Nam, đặc biệt là Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài; tăng cường và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quốc tịch, bảo hộ và bảo vệ một cách có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam sinh sống ở nước ngoài.

1. Tình hình đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam

Bên cạnh các quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ pháp lý của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng đã quy định thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước về quốc tịch, tạo mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước và công dân Việt Nam. Khoản 2 Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam”.

Thời hạn 05 năm này là để giải quyết những tồn đọng do lịch sử để lại. Hiện trong số những người Việt Nam định cư ở nước ngoài, nhiều người mặc dù đã có quốc tịch nước ngoài nhưng họ vẫn muốn giữ quốc tịch Việt Nam. Do vậy, quy định về đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam là rất cần thiết. Việc đăng ký giữ quốc tịch được thực hiện đến hết ngày 01 tháng 7 năm 2014. Hết thời hạn này, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam, nếu không đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam thì mất quốc tịch Việt Nam. Sau thời điểm này, nếu họ muốn có quốc tịch Việt Nam thì phải làm thủ tục xin trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật quốc tịch Việt Nam hiện hành.

Hiện nay, theo báo cáo của Bộ Ngoại giao thì có khoảng 3.600.000 người Việt Nam đang sinh sống, định cư ở nước ngoài. Họ cư trú ở gần 90 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó, tập trung chủ yếu ở 21 quốc gia thuộc các khu vực: Bắc Mỹ, Tây Bắc Âu, Nga và Đông Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Á và Châu Úc. Một số khu vực khác như Nam và Tây Á, Trung Đông, Châu Phi và Nam Phi tuy cũng có người Việt Nam làm ăn, sinh sống nhưng số lượng không đáng kể.

Theo số liệu thống kê cụ thể của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, khoảng 80% người Việt Nam đang làm ăn, sinh sống tại các nước phát triển, tập trung đông nhất là ở Mỹ (1,5 triệu người), Pháp (300.000 người), Canađa (250.000 người), Úc (245.000 người). Ở các nước Đông Âu (Nga), Các nước Châu Á (Campuchia, Thái Lan, Lào) mỗi nước có khoảng 100.000 người Việt Nam sinh sống.

Tuy nhiên, do không xác định được những ai trong số 3.600.000 người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang còn giữ quốc tịch Việt Nam nên công tác quản lý quốc tịch, quản lý công dân, cấp hộ chiếu, xác nhận có quốc tịch Việt Nam cũng như thực hiện nhiệm vụ bảo hộ công dân của Nhà nước ta ở nước ngoài gặp nhiều khó khăn.

Mặt khác, hiện nay, Nhà nước ta đang và sẽ tiếp tục có những chính sách cụ thể cho công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài khi về nước được hưởng một số quyền như công dân Việt Nam ở trong nước như miễn thị thực, mua nhà ở… Một số người sẽ lợi dụng chính sách ưu đãi trong nước để được hưởng một số quyền như công dân Việt Nam ở trong nước, họ chỉ quan tâm đến quốc tịch nước sở tại của mình, chỉ khi nào có quyền, lợi ích liên quan ở Việt Nam thì họ mới quan tâm đến quốc tịch Việt Nam của họ. Do đó, đăng ký giữ quốc tịch là quy định có ý nghĩa thời sự. Việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam được cho là giải pháp cụ thể để Nhà nước có thể xác định được những ai trong số hơn 3 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn muốn giữ quốc tịch Việt Nam, qua đó xác định rõ tình trạng quốc tịch của họ, tạo điều kiện để làm tốt công tác quản lý về quốc tịch, thực hiện nhiệm vụ bảo hộ công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài. Theo ước tính của Bộ ngoại giao, hiện có khoảng 70% số kiều bào đang định cư ở nước ngoài còn có quốc tịch Việt Nam và cho đến ngày 01/9/2010 đã có 291 người Việt Nam định cư ở nước ngoài đến làm thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã có quy định mở hơn, tạo cơ chế pháp lý thuận lợi để có thể công nhận tình trạng hai quốc tịch của công dân Việt Nam trong một số trường hợp nhất định “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này quy định khác”. Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã chấm dứt tình trạng không rõ ràng về quốc tịch Việt Nam từ trước tới nay. Để đảm bảo cho quy định này được thực hiện thống nhất và có hiệu quả, Quốc hội đã giao cho Chính phủ quy định trình tự, thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.

2. Trình tự, thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam

Trình tự, thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam được quy định cụ thể tại Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam và Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT/BTP-BNG-BCA ngày 01/3/2010.

Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính phủ đã quy định cụ thể, rõ ràng về đối tượng đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền về đăng ký giữ quốc tịch và trình tự thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.

Về đối tượng đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam:

Điều 18 Nghị định đã quy định cụ thể hơn đối tượng đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo pháp luật Việt Nam trước ngày 01/7/2009 mà không có Hộ chiếu Việt Nam còn giá trị sử dụng, nếu có nguyện vọng giữ quốc tịch Việt Nam thì phải đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.” Theo quy định này, tất cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến trước ngày 01/7/2009 nếu có nguyện vọng giữ quốc tịch Việt Nam thì đều phải tiến hành các thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam trừ những người có Hộ chiếu Việt Nam còn hạn sử dụng thì không phải đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam vì thông qua việc cấp hộ chiếu, gia hạn hộ chiếu Nhà nước ta đã thấy được rằng họ vẫn rất quan tâm đến quốc tịch Việt Nam, gắn bó với đất nước Việt Nam; đồng thời qua công tác cấp Hộ chiếu, gia hạn hộ chiếu, Nhà nước ta có thể nắm được danh sách của một số người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định đối tượng đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam là để xác định tình trạng quốc tịch Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài từ trước đến thời điểm Luật này có hiệu lực. Thời hạn để đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam là 05 năm (từ ngày 01/7/2009 đến ngày 01/7/2014). Hết thời hạn này, những người thuộc đối tượng đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam mà không đăng ký thì mất quốc tịch Việt Nam, nếu muốn có quốc tịch Việt Nam thì phải làm thủ tục xin trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành.

Về thẩm quyền thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam:

Điều 19 Nghị định quy định cụ thể cơ quan thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, có thể là cơ quan đại diện Việt Nam thường trú hoặc kiêm nhiệm tại nước nơi người đăng ký giữ quốc tịch đang có quốc tịch hoặc đang thường trú. Trường hợp Việt Nam chưa có quan hệ ngoại giao với quốc gia mà người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam đang sinh sống, hoặc tại nước đó chưa có cơ quan đại diện Việt Nam thường trú hoặc kiêm nhiệm thì việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam được thực hiện tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước thứ ba theo sự uỷ quyền của Bộ Ngoại giao.

Các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài áp dụng các văn bản pháp luật về quốc tịch Việt Nam được ban hành từ năm 1945 đến trước ngày 01/7/2009 để xác định người đăng ký giữ quốc tịch có hay không có quốc tịch Việt Nam tại thời điểm đăng ký, bao gồm các văn bản sau:

- Sắc lệnh số 53/SL ngày 20/10/1945 quy định quốc tịch Việt Nam;

- Sắc lệnh số 73/SL ngày 07/12/1945 quy định việc nhập quốc tịch Việt Nam;

- Sắc lệnh số 25/SL ngày 25/02/1946 sửa đổi Sắc lệnh số 53/SL ngày 20/10/1945 quy định quốc tịch Việt Nam;

- Sắc lệnh số 215/SL ngày 20/8/1948 ấn định những quyền lợi đặc biệt cho những người ngoại quốc giúp vào cuộc kháng chiến Việt Nam;

- Sắc lệnh số 51/SL ngày 14/12/1959 bãi bỏ Điều 5, 6 Sắc lệnh số 53/SL ngày 20/10/1945 quy định quốc tịch Việt Nam;

- Nghị quyết số 1043/NQ-TVQHK6 ngày 08/02/1971 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc xin thôi hoặc nhập quốc tịch Việt Nam;

- Quyết định số 268/TTg ngày 12/9/1980 của Thủ tường Chính phủ về chính sách cho thôi và cho trở lại quốc tịch Việt Nam của người Việt Nam ở nước ngoài;

- Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1988 và các văn bản hướng dẫn thi hành;

- Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 và các văn bản hướng dẫn thi hành;

- Các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Ngoài ra, các giấy tờ về nhân thân, hộ tịch, quốc tịch do chế độ cũ cấp trước ngày 30/4/1975 cũng là căn cứ để Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài xem xát, xác định quốc tịch Việt Nam của người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.

Về trình tự, thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam:

Để tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, Quốc hội đã giao cho Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính phủ quy định người đăng ký giữ quốc tịch nộp Tờ khai theo mẫu và bản sao giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của người đó cho cơ quan đại diện Việt Nam. Khi tiếp nhận Tờ khai đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, Cơ quan đại diện Việt Nam có trách nhiệm ghi vào Sổ đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam và cấp cho người đăng ký giấy xác nhận về việc người đó đã đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.

Tuy nhiên, việc cơ quan có thẩm quyền cấp cho người đăng ký giấy xác nhận đã đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam không có nghĩa là Cơ quan đại diện Việt Nam thừa nhận quốc tịch Việt Nam của họ ngay tại thời điểm đăng ký.

Trường hợp người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam có giấy tờ chứng minh rõ họ đang có quốc tịch Việt Nam thì cơ quan đăng ký ghi vào Sổ đăng ký giữ quốc tịch là người đó có quốc tịch Việt Nam.

Trường hợp người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam không có đủ giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của họ hoặc giấy tờ chứng minh không rõ ràng thì Cơ quan đăng ký phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan tiến hành xác minh theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Bộ Công an để xác định người đó đang có quốc tịch Việt Nam hay không. Đối với những trường hợp này, người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam còn phải nộp thêm Tờ khai lý lịch và các giấy tờ quy định tại Điều 10 Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT/BTP-BNG-BCA ngày 01/3/2010 để phục vụ việc xác minh về quốc tịch của người đó, bao gồm bản sao các giấy tờ về nhân thân, hộ tịch, quốc tịch của ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em ruột, con; bản sao giấy tờ có nội dung liên quan đến quốc tịch của đương sự do chế độ cũ cấp trước ngày 30 tháng 4 năm 1975; bản sao giấy tờ trên đó có ghi quốc tịch Việt Nam hoặc quốc tịch gốc Việt Nam do các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Tờ khai đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, đối với những trường hợp cần xác minh để xác định người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam hay không, Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài gửi văn bản đề nghị xác minh về Bộ Ngoại giao kèm theo bản sao các giấy tờ, thông tin phục vụ việc xác minh do người đăng ký cung cấp.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao gửi Bộ Công an văn bản đề nghị xác minh về nhân thân, đồng thời gửi Bộ Tư pháp văn bản đề nghị tra cứu xem đương sự có tên trong danh sách đã được thôi hoặc đã bị tước quốc tịch Việt Nam hay không.

Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị xác minh, Bộ Công an thực hiện việc xác minh về nhân thân và trả lời Bộ Ngoại giao về kết quả xác minh.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị tra cứu, Bộ Tư pháp có trách nhiệm tra cứu danh sách những người đã được Chủ tịch nước cho thôi quốc tịchViệt Nam và  danh sách những người bị tước quốc tịch Việt Nam trong hệ thống lưu trữ và trả lời Bộ Ngoại giao về kết quả tra cứu.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lời về kết quả xác minh và tra cứu, Bộ Ngoại giao gửi văn bản thông báo kết quả xác minh, tra cứu cho Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để hoàn tất thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.

Để đảm bảo cho việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam được tiến hành đồng bộ trên khắp các nước, vùng lãnh thổ có người Việt Nam sinh sống, Điều 27 Luật Quốc tịch Việt Nam đã quy định cụ thể trách nhiệm của Bộ Ngoại giao trong việc đăng tải trên Trang thông tin điện tử Bộ Ngoại giao về đối tượng, thời hạn, cơ quan có thẩm quyền và trình tự, thủ tục thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam đến hết ngày 01/7/2014; tránh tình trạng người Việt Nam định cư ở nước ngoài bị mất quốc tịch Việt Nam do không biết thông tin.

Có thể nói, đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng, liên quan đến quyền, lợi ích thiết thực của người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Nếu như trước đây, theo Luật Quốc tịch năm 1998, nhiều người Việt Nam định cư ở nước ngoài, đặc biệt là thế hệ thứ 2, thứ 3, không xác định được mình còn quốc tịch Việt Nam hay không thì đến Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, với chế định đăng ký giữ quốc tịch, trạng quốc tịch Việt Nam của hơn 3 triệu người Việt Nam ở nước ngoài sẽ được xác định rõ ràng, tạo tâm lý phấn khởi, yên tâm và hướng về tổ quốc Việt Nam với những tình cảm đặc biệt của cộng đồng người Việt ở xa tổ quốc.

 


Phần thứ ba

GIỚI THIỆU NỘI DUNG

CƠ BẢN MỘT SỐ VĂN BẢN MỚI HƯỚNG DẪN THI HÀNH

LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM NĂM 2008



 


I. NGHỊ ĐỊNH SỐ 78/NĐ-CPNGÀY 22/9/2009 QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM NĂM 2008

            Ngày 13 tháng 11 năm 2008, tại kỳ họp thứ tư Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009 và thay thế Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998. Thực hiện Kế hoạch triển khai Luật Quốc tịch Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành kèm theo Quết định số 4204/QĐ-BTP ngày 29-12-2008 về Triển khai Luật Quốc tịch Việt Nam và Chương trình xây dựng Nghị định của Chính phủ năm 2009, theo sự phân công của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan  nghiên cứu, xây dựng và trình Chính phủ để ban hành Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008.

Ngày 13 tháng 01 năm 2009, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 135/QĐ-BTP thành lập Ban soạn thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam gồm đại diện một số Bộ, ngành như: Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, do Thứ trưởng Bộ Tư pháp làm Trưởng ban. Sau hơn 8 tháng tiến hành xây dựng dự thảo theo đúng trình tự, ngày 22-9-2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 78/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10-11-2009 và thay thế Nghị định số 104/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 1998 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam và Nghị định số 55/2000/NĐ-CP ngày 11 tháng 10 năm 2000 của Chính phủ sửa đổi một số điều của Nghị định số 104/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 12  năm 1998 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam. Dưới đây, là những nội dung cơ bản của Nghị định:

1. Sự cần thiết ban hành Nghị định

 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã quy định tương đối cụ thể các vấn đề về quốc tịch Việt Nam như: chính sách về quốc tịch, nguyên tắc quốc tịch, các điều kiện nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam, hồ sơ và trình tự, thủ tục giải quyết các việc xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, v.v...

Tuy nhiên, Luật Quốc tịch Việt Nam chưa thể quy định chi tiết tất cả các vấn đề về hồ sơ, trình tự và thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch; do đó, Luật Quốc tịch Việt Nam đã giao cho Chính phủ quy định chi tiết 10 điều đó là các điều: 13, 19, 20, 22, 23, 24, 27, 28, 32 và 34. Ngoài ra, Luật Quốc tịch Việt Nam cũng có một số quy định mới so với các đạo luật quốc tịch trước đây như: vấn đề hai quốc tịch cho những trường hợp ngoại lệ, đăng ký giữ quốc tịch, v.v... cần phải được cụ thể hóa và hướng dẫn thêm như những biện pháp để thực thi pháp luật quốc tịch, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước. Vì vậy, việc ban hành Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Quốc tịch Việt Nam là rất cần thiết và cũng phù hợp với quy định tại Điều 44 của Luật Quốc tịch Việt Nam, tạo thuận lợi cho người dân dễ dàng biết được các bước phải tiến hành và các giấy tờ phải hoàn chỉnh khi nộp hồ sơ, cũng như tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho các cơ quan hữu quan thực hiện khi tiếp nhận và giải quyết hồ sơ.

2. Bố cục của Nghị định số 78/2009/NĐ-CP

 Nghị định gồm 5 chương, 32 Điều, cụ thể như sau:

  Chương I - Quy định chung (gồm 4 điều, từ Điều 1 đến Điều 4);

 Chương II - Quy định chi tiết và hướng dẫn thi thành một số điều về nhập, trở lại, thôi, tước quốc tịch Việt Nam và đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam (gồm 17 điều, từ Điều 5 đến Điều 21), chia làm 5 mục sau đây:

Mục 1- Nhập quốc tịch quốc tịch Việt Nam;

Mục 2- Trở lại quốc tịch Việt Nam;

Mục 3- Thôi quốc tịch Việt Nam;

Mục 4-  Tước quốc tịch Việt Nam;

Mục 5. Đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, thông báo có quốc tịch nước ngoài.

 Chương III -  Ghi vào Sổ hộ tịch các việc về quốc tịch (gồm 4, điều từ Điều 22 đến Điều 25);

Chương IV - Trách nhiệm của các cơ quan trong quản lý nhà nước về quốc tịch (gồm 5 điều, từ Điều 26 đến Điều 30);

Chương V - Điều khoản thi hành (gồm 2 điều, Điều 31 và Điều 32).

3. Những nội dung cơ bản của Nghị định

Nghị định số 78/2009/NĐ-CP được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Nghị định số 104/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 1998 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật quốc tịch Việt Nam và Nghị định số 55/2000/NĐ-CP ngày 11 tháng 10 năm 2000 của Chính phủ sửa đổi một số điều của Nghị định số 104/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 1998 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật quốc tịch Việt Nam; đồng thời nghị định hoá các quy định, các hướng dẫn còn phù hợp, khả thi, mang tính tương đối ổn định tại các Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định số 104/1998/NĐ-CP và Nghị định số 55/2000/NĐ-CP. Ngoài ra, Nghị định cũng quy định cụ thể hơn về vấn đề nhập quốc tịch đối với người không quốc tịch, tước quốc tịch Việt Nam và đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, cụ thể như sau:

3.1. Những quy định chung

Phạm vi điều chỉnh được xác định rõ tại Điều 1 là những điều nào sẽ được quy định chi tiết, những điểm nào phải hướng dẫn cụ thể để thuận lợi cho việc thực thi : “Nghị định này quy định chi tiết thi hành các Điều 13, 19, 20, 22, 23, 24, 27, 28, 32, 34 và hướng dẫn thi hành một số điều khác của Luật Quốc tịch Việt Nam”.

Để tránh việc nhắc đi, nhắc lại việc hợp pháp hoá lãnh sự, chứng thực và dịch sang tiếng Việt đối với các giấy tờ trong hồ sơ quốc tịch khi hướng dẫn cụ thể từng việc giải quyết hồ sơ quốc tịch, Điều 2 đã quy định chung:

“1. Giấy tờ có trong hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam và trong việc giải quyết các việc khác về quốc tịch Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp phải được hợp pháp hoá lãnh sự, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

2. Giấy tờ bằng tiếng nước ngoài có trong các hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này phải được dịch sang tiếng Việt và chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam”.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp là người thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ ký Tờ trình báo cáo Chủ tịch nước xem xét, quyết định cho nhập, cho trở lại, cho thôi hoặc tước quốc tịch Việt Nam, cho nên Bộ Tư pháp cũng chính là cơ quan phải tiến hành thông báo kết quả đến người yêu cầu. Như vậy, sau khi có quyết định giải quyết các việc này, Bộ Tư pháp thực hiện thông báo kết quả giải quyết các việc về quốc tịch cho người người xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam theo thủ tục tại Điều 3:

 Khi thông báo cho người xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 41 Luật Quốc tịch Việt Nam, Bộ Tư pháp có trách nhiệm đồng thời thông báo cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), nếu người xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam nộp hồ sơ ở trong nước.

Trong trường hợp người xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam nộp hồ sơ tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thì việc thông báo kết quả giải quyết cho người xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam được thực hiện thông qua Bộ Ngoại giao.

Để Bộ Tài chính có cơ sở quy định, hướng dẫn thống nhất chế độ thu, nộp và quản lý, sử dụng lệ phí quốc tịch, Điều 4. đã quy định rõ trách nhiệm nộp lệ phí của những người xin giải quyết hồ sơ quốc tịch, những đối tượng được miễn  lệ phí và cơ quan có thẩm quyền quyết định việc miễn lệ phí:

“1. Người xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam phải nộp lệ phí trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Mức thu và chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng lệ phí do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định.

2. Những người sau đây được miễn lệ phí xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam:

a) Người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam;

b) Người thuộc chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật;

c) Người không quốc tịch xin nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 22 Luật Quốc tịch Việt Nam.

3. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam căn cứ vào quy định của Bộ Tài chính để quyết định việc miễn lệ phí cho từng trường hợp cụ thể.”

3.2. Về việc giải quyết hồ sơ trở lại quốc tịch Việt Nam

Một số điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam: Về khả năng biết tiếng Việt của người xin nhập quốc tịch Việt Nam: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam thì một trong những điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam là phải “biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam”. Khoản 1 Điều 5 Nghị định đã giải mã cụ thể vấn đề này: “Biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được đánh giá trên cơ sở khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt với công dân Việt Nam trong cuộc sống, phù hợp với môi trường sống và làm việc của người đó”.

Về điều kiện thường trú tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam: Theo quy định của Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam thì điều kiện bắt buộc chung đối với người xin nhập quốc tịch Việt Nam là phải thường trú tại Việt Nam. Để xác định rõ yêu cầu về thường trú, khoản 2 Điều 5 Nghị định quy định người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải là người đang thường trú tại Việt Nam và được cơ quan Công an có thẩm quyền của Việt Nam cấp thẻ thường trú. Thời gian thường trú tối thiểu 5 năm của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được tính từ ngày người đó được cấp thẻ thường trú (thời gian tạm trú trước đó không được tính). Riêng đối với người được miễn một số điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam thì không bắt buộc phải có đủ 5 năm thường trú tại Việt Nam nhưng vẫn phải là người đã được cấp thẻ thường trú. Quy định này là nhằm bảo đảm người nhập quốc tịch Việt Nam là người đã có thời gian đủ để thích nghi, gắn bó với tổ quốc Việt Nam, một cách ổn định, hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam.

Về điều kiện bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam: Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam thì một trong những điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam là người nhập quốc tịch phải “có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam”. Khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam chủ yếu là khả năng về vật chất, khả năng này được xem xét, đánh giá từ rất nhiều nguồn khác nhau. Vì vậy, Nghị định quy định khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được chứng minh bằng tài sản, nguồn thu nhập hợp pháp của người đó hoặc sự bảo lãnh của tổ chức, cá nhân tại Việt Nam (điểm đ khoản 1 Điều 7 của Nghị định).

Những trường hợp được miễn một số điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam:

Điều 6 Nghị định hướng dẫn cụ thể các điểm b (người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam) và điểm c (người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam:

“1. Người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam phải là người được tặng thưởng Huân chương, Huy chương, danh hiệu cao quý khác của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam xác nhận về công lao đặc biệt đó.

2. Người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là người có tài năng trong các lĩnh vực khoa học, kinh tế, văn hoá, xã hội, nghệ thuật, thể thao, được cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng nhận và cơ quan quản lý nhà nước cấp bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận việc nhập quốc tịch của họ sẽ đóng góp cho sự phát triển trong các lĩnh vực nói trên của Việt Nam.” 

Những giấy tờ trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam: Khoản 1 Điều 7 hướng dẫn chi tiết các giấy tờ quy định tại điểm b, đ, e và g khoản 1 Điều 20 Luật Quốc tịch Việt Nam:

“a) Giấy tờ khác có giá trị thay thế Giấy khai sinh, Hộ chiếu của người xin nhập quốc tịch Việt Nam là những giấy tờ có giá trị chứng minh quốc tịch nước ngoài của người đó;

b) Giấy tờ chứng minh trình độ tiếng Việt của người xin nhập quốc tịch Việt Nam là một trong các giấy tờ sau đây: bản sao bằng tốt nghiệp sau đại học, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trung học phổ thông hoặc trung học cơ sở của Việt Nam; bản sao văn bằng hoặc chứng chỉ chứng nhận trình độ tiếng Việt do cơ sở đào tạo tiếng Việt của Việt Nam cấp.

Trong trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam khai báo biết tiếng Việt đủ để hoà nhập theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này, nhưng không có một trong các giấy tờ nêu trên, thì Sở Tư pháp tổ chức phỏng vấn trực tiếp để kiểm tra trình độ tiếng Việt của người đó theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp. Kết quả phỏng vấn phải được lập thành văn bản; người trực tiếp phỏng vấn căn cứ vào tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này để đề xuất ý kiến và chịu trách nhiệm về ý kiến đề xuất của mình;

c) Bản sao Giấy khai sinh của người con chưa thành niên cùng nhập quốc tịch Việt Nam theo cha mẹ hoặc giấy tờ khác chứng minh quan hệ cha con, mẹ con. Trường hợp chỉ cha hoặc mẹ nhập quốc tịch Việt Nam mà con chưa thành niên sinh sống cùng người đó nhập quốc tịch Việt Nam theo cha hoặc mẹ thì còn phải nộp văn bản thoả thuận của cha mẹ về việc nhập quốc tịch Việt Nam cho con;

d) Bản sao Thẻ thường trú;

đ) Giấy tờ chứng minh bảo đảm cuộc sống ở Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam gồm một trong các giấy tờ sau: giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản; giấy xác nhận mức lương hoặc thu nhập do cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc cấp; giấy xác nhận của cơ quan thuế về thu nhập chịu thuế; giấy tờ chứng minh được sự bảo lãnh của tổ chức, cá nhân tại Việt Nam; giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi thường trú của người xin nhập quốc tịch Việt Nam về khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người đó.”

 Để làm rõ trường hợp được miễn một số điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam, Nghị định đã cụ thể hóa bằng các giấy tờ chứng minh có trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam như bản sao Giấy chứng nhận kết hôn để chứng minh quan hệ hôn nhân của người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam, bản sao Giấy khai sinh để chứng minh quan hệ cha con, mẹ con, v.v... (các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 7 Nghị định).

Về trình tự, thủ tục và hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam cho người không quốc tịch: Việc nhập quốc tịch Việt Nam cho những người không quốc tịch mà không có các giấy tờ về nhân thân nhưng đã cư trú lâu năm trên lãnh thổ Việt Nam là một thực tế tồn đọng từ nhiều năm nay chưa được giải quyết. Trong quá trình xây dựng dự án Luật Quốc tịch Việt Nam, vấn đề này đã được thảo luận kỹ với tinh thần là Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi nhất, ưu tiên giải quyết việc nhập quốc tịch Việt Nam cho những người thuộc đối tượng này theo một quy trình riêng, thủ tục đơn giản, miễn một số điều kịên và không thu lệ phí.

 Nghị định đã thể hiện tinh thần nêu trên, đồng thời đề cao trách nhiệm và tính chủ động của các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết vấn đề quốc tịch cho những người không quốc tịch thuộc diện quy định tại Điều 22 Luật Quốc tịch Việt Nam, nhằm giúp những người không quốc tịch ổn định cuộc sống, hưởng quyền và làm nghĩa vụ công dân. Để thực hiện nhiệm vụ nêu trên, Uỷ ban nhân dân các tỉnh nơi có người không quốc tịch sinh sống sẽ phải chỉ đạo các Sở, ban, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã rà soát, lập danh sách, hỗ trợ người không quốc tịch hoàn thiện về hồ sơ và đề xuất ý kiến kèm theo danh sách gửi Bộ Tư pháp. Đây là công việc mang tính chất quá độ, chuyển tiếp nhằm giải quyết những tồn đọng của nhiều năm nay về vấn đề người không quốc tịch cư trú trên lãnh thổ Việt Nam nên nhiệm vụ này cần được xác định thời hạn để giải quyết dứt điểm, theo đó, khoản 3 Điều 8 Nghị định quy định thời hạn giải quyết đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2012. Chính phủ cũng giao cho Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và Bộ Ngoại giao hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo xây dựng kế hoạch vả triển khai công tác này. Cụ thể:

“1. Người không quốc tịch, không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân, đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ ngày 01 tháng 7 năm 1989 trở về trước (sau đây gọi là người không quốc tịch) có nguyện vọng được nhập quốc tịch Việt Nam thì làm hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam gồm Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam và Bản khai lý lịch theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam của người không quốc tịch quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện như sau:

a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở Tư pháp phối hợp với cơ quan Công an cấp tỉnh, Sở Ngoại vụ (nếu có) và Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp huyện) hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc rà soát, lập danh sách, hỗ trợ làm hồ sơ, xác minh về nhân thân của người xin nhập quốc tịch Việt Nam.

Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét danh sách và hồ sơ xin nhập quốc tịch và đề nghị Sở Tư pháp giải quyết việc cho nhập quốc tịch Việt Nam.

Sở Tư pháp phối hợp với cơ quan Công an cấp tỉnh, Sở Ngoại vụ thẩm định, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, kết luận và đề xuất về việc xin nhập quốc tịch Việt Nam của những người trong danh sách và gửi Bộ Tư pháp.

c) Căn cứ vào danh sách và hồ sơ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề xuất, Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ ký tờ trình kèm theo danh sách và hồ sơ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Tư pháp trao đổi với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao trước khi trình Chủ tịch nước.

3. Thời hạn nộp hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều  này đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2012. Hết thời hạn này, những người nói tại khoản 1 Điều này mà chưa nộp hồ sơ, nếu có nguyện vọng nhập quốc tịch Việt Nam, thì việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ được giải quyết theo quy định tại các Điều 19, 20 và 21 Luật Quốc tịch Việt Nam.

4. Bộ Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao  hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc xây dựng kế hoạch rà soát, lập danh sách và hỗ trợ việc giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam cho những người quy định tại khoản 1 Điều này”.

3.3. Về việc giải quyết hồ sơ trở lại quốc tịch Việt Nam

Một số điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam: Trên tinh thần “Nhà nước có chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người đã mất quốc tịch Việt Nam trở lại quốc tịch Việt Nam” việc giải quyết nhập quốc tịch cho đối tượng này được thực hiện theo trình tự thủ tục ít khắt khe hơn so với thủ tục nhập quốc tịch. Các điều kiện quy định tại điểm c, d và đ khoản 1 Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam được quy định cụ thể tại Điều 9 như sau:

“1. Người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam và người mà việc trở lại quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng theo quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 6 của Nghị định này.

2. Người thực hiện đầu tư tại Việt Nam phải có dự án đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy tờ chứng nhận việc đầu tư đó.”

Một số giấy tờ trong hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam: Điều 10 quy định rất chi tiết, cụ thể các giấy tờ quy định tại các điểm đ và e khoản 1 Điều 24 Luật Quốc tịch Việt Nam:

“a) Các giấy tờ chứng minh người xin trở lại quốc tịch Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam là một trong các giấy tờ sau đây: bản sao Giấy khai sinh; bản sao Quyết định cho thôi quốc tịch Việt Nam hoặc Giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam; giấy tờ khác có ghi quốc tịch Việt Nam hoặc có giá trị chứng minh quốc tịch Việt Nam trước đây của người đó;

b) Giấy tờ chứng minh đủ điều kiện trở lại quốc tịch Việt Nam là một trong các giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 7 của Nghị định này hoặc giấy tờ chứng minh người xin trở lại quốc tịch Việt Nam đang làm thủ tục xin hồi hương về Việt Nam hoặc bản sao giấy tờ chứng nhận việc đầu tư tại Việt Nam.

2. Con chưa thành niên cùng trở lại quốc tịch Việt Nam theo cha mẹ thì phải nộp bản sao Giấy khai sinh của người con hoặc giấy tờ khác chứng minh quan hệ cha con, mẹ con. Trường hợp chỉ cha hoặc mẹ trở lại quốc tịch Việt Nam mà con chưa thành niên sống cùng người đó cùng trở lại quốc tịch Việt Nam theo cha hoặc mẹ thì phải nộp văn bản thoả thuận của cha mẹ về việc trở lại quốc tịch Việt Nam của con.

3. Hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải lập thành 03 bộ, được lưu trữ tại Văn phòng Chủ tịch nước, Bộ Tư pháp và cơ quan tiếp nhận hồ sơ”.

 Trong quá trình xem xét hồ sơ, nếu nhận thấy cần thiết phải xác minh thêm về nhân thân của người xin trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 3 Điều 25 Luật Quốc tịch Việt Nam thì Bộ Tư pháp có văn bản nêu rõ những nội dung cụ thể đề nghị Bộ Công an xác minh và trả lời kết quả bằng văn bản cho Bộ Tư pháp. Thời hạn để thực hiện việc xác minh được quy định tối đa là 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Bộ Tư pháp, Bộ Công an có trách nhiệm xác minh (Điều 11).

3.4. Về việc giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam

Trường hợp chưa được thôi quốc tịch Việt Nam: Điều 12 hướng dẫn cụ thể quy định tại điểm a khoản 2 Điều 27 Luật Quốc tịch Việt Nam đối với trường hợp người đang nợ thuế đối với Nhà nước hoặc đang có nghĩa vụ tài sản đối với cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân ở Việt Nam mà cơ quan thuế hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân là chủ nợ có văn bản yêu cầu chưa cho người đó thôi quốc tịch Việt Nam thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ không giải quyết việc cho thôi quốc tịch Việt Nam, chờ cho người đó hoàn thành nghĩa vụ của mình thì mới được thôi quốc tịch Việt Nam. 

  Một số giấy tờ trong hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam: Để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người xin thôi quốc tịch Việt Nam, không để họ bị rơi vào tình trạng không quốc tịch hoặc không cho thôi quốc tịch Việt Nam khi họ còn nghĩa vụ, ràng buộc trách nhiệm nào đó. Các giấy tờ quy định tại các điểm đ và g khoản 1 Điều 28 của Luật Quốc tịch Việt Nam được quy định cụ thể tại Điều 13 như sau:

“1. Giấy tờ xác nhận việc người xin thôi quốc tịch Việt Nam đang làm thủ tục nhập quốc tịch nước ngoài là giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận hoặc bảo đảm cho người đó được nhập quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp pháp luật nước đó không quy định về việc cấp giấy này. Trường hợp người xin thôi quốc tịch Việt Nam đã có quốc tịch nước ngoài thì nộp bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ tuỳ thân khác do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp để chứng minh người đó đang có quốc tịch nước ngoài.

2. Giấy xác nhận quy định tại điểm g khoản 1 Điều 28 Luật Quốc tịch Việt Nam do thủ trưởng cơ quan, đơn vị nơi đã ra quyết định cho nghỉ hưu, cho thôi việc, miễn nhiệm, cách chức, giải ngũ hoặc phục viên căn cứ vào quy chế của ngành để xác nhận việc thôi quốc tịch Việt Nam của người đó không ảnh hưởng đến việc bảo vệ bí mật quốc gia hoặc không trái với quy định của ngành đó.

3. Hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam phải lập thành 03 bộ, được lưu trữ tại Văn phòng Chủ tịch nước, Bộ Tư pháp và cơ quan tiếp nhận hồ sơ.”

Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thông báo về trường hợp chưa được thôi, không được thôi quốc tịch Việt Nam: Chỉ trong trường hợp người xin thôi quốc tịch cư trú ở trong nước, thì cơ quan thụ lý hồ sơ quốc tịch  phải đăng tải công khai thông tin về việc xin thôi quốc tịch Việt Nam của đương sự. Điều 14 quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan hữu quan, tổ chức, cá nhân phải thông báo cho cơ quan đăng tải biết nếu biết và phải biết, cụ thể:

Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp đăng tải thông tin về người xin thôi quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Luật Quốc tịch Việt Nam, cơ quan Công an, cơ quan Thi hành án dân sự, cơ quan thuế hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, nếu phát hiện thấy người xin thôi quốc tịch Việt Nam thuộc trường hợp chưa được thôi hoặc không được thôi quốc tịch Việt Nam theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 27 Luật Quốc tịch Việt Nam, thì phải kịp thời thông báo cho Sở Tư pháp nơi đã đăng tải thông tin đó.”.

Xác minh về nhân thân của người xin thôi quốc tịch Việt Nam: Hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam được gửi từ các Cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài qua Cục Lãnh sự về Bộ Tư pháp được phân loại thành 2 danh sách: hồ sơ thuộc diện phải xác minh nhân thân và hồ sơ thuộc diện được miễn xác minh về nhân thân. Trên cơ sở danh sách đó, trong quá trình kiểm tra, Bộ Tư pháp thấy những trường hợp cần thiết phải xác minh, thì có văn bản đề nghị xác minh về nhân thân, không cần phải đăng tải, niêm yết như trường hợp người xin thôi cư trú ở trong nước. Cụ thể:

1. Trường hợp người xin thôi quốc tịch Việt Nam không thuộc diện được miễn thủ tục xác minh về nhân thân theo quy định tại Điều 30 Luật Quốc tịch Việt Nam thì Bộ Tư pháp có văn bản đề nghị Bộ Công an xác minh.

2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Bộ Tư pháp, Bộ Công an có trách nhiệm xác minh và trả lời kết quả bằng văn bản cho Bộ Tư pháp.”

3.5. Tước quốc tịch Việt Nam

            Tuy Luật Quốc tịch ViệtNam đã quy định rất chi tiết tại các Điều 31 và 32 về căn cứ, trình tự thủ tục tước quốc tịch Việt Nam và tại các Điều 33 và 34 về căn cứ và trình tự, thủ tục huỷ bỏ quyết định tước quốc tịch Việt Nam, nhưng Nghị định vẫn hướng dẫn cụ thể thêm trong các tình huống cụ thể về hồ sơ kiến nghị tước quốc tịch Việt Nam tại Điều 16:

 “1. Trong trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài kiến nghị tước quốc tịch Việt Nam đối với người có hành vi quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Quốc tịch Việt Nam thì hồ sơ gồm có:

a) Văn bản kiến nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài về việc tước quốc tịch Việt Nam;

b) Các tài liệu xác minh, kết luận của các cơ quan có thẩm quyền về hành vi vi phạm của người bị đề nghị tước quốc tịch Việt Nam;

c) Đơn, thư tố cáo người bị đề nghị tước quốc tịch Việt Nam (nếu có).

2. Trong trường hợp Toà án đã xét xử bị cáo có hành vi quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Quốc tịch Việt Nam kiến nghị tước quốc tịch Việt Nam đối với người đó thì hồ sơ gồm có:

a) Văn bản kiến nghị của Toà án về việc tước quốc tịch Việt Nam;

b) Bản án đã có hiệu lực pháp luật và các tài liệu có liên quan.”

Đồng thời, Nghị định cũng hướng dẫn cụ thể về hồ sơ kiến nghị hủy bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam tại Điều 17:  

“1. Trong trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiến nghị huỷ bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam đối với người có hành vi quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Quốc tịch Việt Nam thì hồ sơ gồm có:        

a) Văn bản của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiến nghị huỷ bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam;

b) Các tài liệu xác minh, kết luận của các cơ quan có thẩm quyền về hành vi vi phạm của người bị đề nghị huỷ bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam;

c) Đơn, thư tố cáo người bị đề nghị huỷ bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam (nếu có).

2. Trong trường hợp Toà án đã xét xử bị cáo có hành vi quy định tại  khoản 1 Điều 33 Luật Quốc tịch Việt Nam kiến nghị huỷ bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam đối với người đó thì hồ sơ gồm có:

a) Văn bản kiến nghị của Toà án về việc tước quốc tịch Việt Nam;

b) Bản án đã có hiệu lực pháp luật và các tài liệu có liên quan.”

3.6. Đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, thông báo có quốc tịch nước ngoài

 Đối tượng phải đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam: Đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam là một chế định hoàn toàn mới trong Luật quốc tịch Việt Nam nhằm giải quyết tình trạng không rõ ràng về quốc tịch Việt Nam của một bộ phận người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Về đối tượng đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam: Theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam thì: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam”.  Nghị định quy định cụ thể đối tượng phải đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. Quy định này phù hợp với tinh thần của khoản 2 Điều 13 nêu trên ở chỗ: chỉ người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không có hộ chiếu Việt Nam còn giá trị sử dụng, nếu có nguyện vọng giữ quốc tịch Việt Nam thì đăng ký để giữ quốc tịch Việt Nam.

Thẩm quyền của các cơ quan thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam: cần thiết phải xác định rõ thẩm quyền theo địa hạt của các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong từng tình huống cụ thể, kể cả ở những nước và vùng lãnh thổ mà không có Cơ quan đại diện để người dân biết và chủ động đến hoặc liên hệ với Cơ quan đại diện để thực hiện yêu cầu của họ. Điều 19 quy định:

“1. Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam là Cơ quan đại diện Việt Nam thường trú hoặc kiêm nhiệm tại nước nơi người đăng ký giữ quốc tịch đang có quốc tịch hoặc đang thường trú.

2. Trường hợp Việt Nam chưa có quan hệ ngoại giao hoặc chưa có Cơ quan đại diện thường trú hoặc kiêm nhiệm tại nước mà người đăng ký giữ quốc tịch đang thường trú thì việc đăng ký giữ quốc tịch được thực hiện tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước thứ ba theo sự uỷ quyền của Bộ Ngoại giao.”

 Trình tự, thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam: Khoản 1 Điều 20   Nghị định quy định người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam làm Tờ khai (theo mẫu) và bản sao giấy tờ có giá trị chứng minh quốc tịch Việt Nam nộp cho Cơ quan đại diện Việt Nam. Việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam không có nghĩa là Cơ quan đại diện Việt Nam phải công nhận ngay tại thời điểm đăng ký là người đó có quốc tịch Việt Nam. Khi tiếp nhận Tờ khai đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, Cơ quan đại diện ghi vào Sổ đăng ký giữ quốc tịch và cấp cho đương sự giấy xác nhận đã đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. Nếu người đăng ký giữ quốc tịch có đầy đủ giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, thì Cơ quan đăng ký ghi vào Sổ đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam là người đó có quốc tịch Việt Nam; nếu người đăng ký giữ quốc tịch không có đầy đủ giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam hoặc giấy tờ chứng minh không rõ thì Cơ quan đăng ký phối hợp với các cơ quan liên quan để tiến hành xác minh. Căn cứ vào giấy tờ đương sự xuất trình và kết quả xác minh, tra cứu, nếu xác định được người đó có quốc tịch Việt Nam và không có vướng mắc về an ninh - chính trị, thì Cơ quan đại diện ghi vào Sổ đăng ký giữ quốc tịch là người đó có quốc tịch Việt Nam; Trường hợp không đủ căn cứ xác định thì cũng cần ghi rõ là không có đủ căn cứ xác định quốc tịch Việt Nam.  

Thông báo có quốc tịch nước ngoài: Do chính sách một quốc tịch mềm dẻo của Nhà nước ta được thể hiện trong Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, nên kể từ ngày Luật có hiệu lực công dân Việt Nam có thể có hai quốc tịch là quốc tịch Việt Nam và quốc tịch nước ngoài. Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 cũng có quy định riêng về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân của họ. Cần phải quy định trách nhiệm của công dân Việt Nam, từ ngày 01 tháng 7 năm 2009 trở đi , vì lý do nào đó mà có quốc tịch nước ngoài thì trong vòng 02 năm phải thông báo việc có quốc tịch nước ngoài cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, vì theo quy định tại Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam thì Nhà nước ta đã chính thức công nhận về mặt pháp lý công dân có thể có hai quốc tịch. Do vậy, để được công nhận quốc tịch nước ngoài thì công dân Việt Nam phải có trách nhiệm thông báo cho Nhà nước quốc tịch nước ngoài của họ. Quy định này là cần thiết, nhằm bảo đảm cho việc hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ của công dân đối với những trường hợp có hai quốc tịch được thực hiện theo đúng pháp luật. Do đó, phải quản lý chặt chẽ việc công dân Việt Nam có hai quốc tịch, cũng là để góp phần làm cho công tác quản lý công dân ngày càng đi vào nền nếp, khắc phục tình trạng không rõ ràng về quốc tịch thời gian qua. Trên tinh thần đó, Điều 21 quy định trách nhiệm của công dân Việt Nam phải thông báo về việc có quốc tịch nước ngoài của mình cho cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 02 năm kể từ ngày có quốc tịch nước ngoài. Nếu không thực hiện việc thông báo thì cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có quyền từ chối việc công nhận quốc tịch nước ngoài của người đó, dựa trên nguyên tắc một quốc tịch nêu tại Điều 4 của Luật.

3.7. Ghi vào sổ hộ tịch các việc về quốc tịch  

Luật Quốc tịch Việt Nam cho phép trẻ em khi sinh ra mà cha mẹ là người không quốc tịch, hoặc khi sinh ra mà mẹ là người không quốc tịch còn cha không rõ là ai thì đều có quốc tịch Việt Nam và việc xác định quốc tịch Việt Nam phải được thực hiện thông qua đăng ký khai sinh. Khi đăng ký khai sinh, cơ quan đăng ký hộ tịch ghi quốc tịch Việt Nam của trẻ em đó vào Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh. Bên cạnh đó, việc Luật Quốc tịch Việt Nam cho người nước ngoài nhập quốc tịch Việt Nam, người đã từng có quốc tịch Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam, mở rộng ngoại lệ công dân Việt Nam có thể đồng thời có quốc tịch nước ngoài trước hết đặt ra yêu cầu phải ghi nhận quốc tịch nước ngoài của những người này trong các giấy tờ hộ tịch do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp.  Do vậy, Nghị định đã dành riêng chương III để quy định việc ghi vào Sổ hộ tịch các việc về quốc tịch, cụ thể là: ghi quốc tịch Việt Nam của trẻ em khi sinh ra có cha mẹ là người không quốc tịch (Điều 22); ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch của người được nhập, được trở lại quốc tịch Việt Nam (Điều 23); ghi quốc tịch trong các giấy tờ về hộ tịch đối với công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài (Điều 24) và ghi chú vào Sổ hộ tịch việc thôi quốc tịch Việt Nam (Điều 25).

3.8. Trách nhiệm của các cơ quan trong quản lý nhà nước về quốc tịch

Điều 39 và Điều 40 Luật Quốc tịch Việt Nam đã quy định về nguyên tắc trách nhiệm của Chính phủ, các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các Cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài cơ quan trong quản lý nhà nước về quốc tịch. Chính phủ thấy cần thiết phải có sự phân công cụ thể cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp trong quá trình triển khai thực hiện để có sự đồng bộ, thống nhất cao. Với vai trò giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về quốc tịch trên phạm vi cả nước, Bộ Tư pháp có trách nhiệm sau đây (Điều 26):

“1. Soạn thảo, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về quốc tịch;

2. Tổ chức, hướng dẫn và chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quốc tịch;

3. Phối hợp với Bộ Ngoại giao trong việc tổ chức, hướng dẫn và chỉ đạo Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quốc tịch;

4. Tổng hợp tình hình và thống kê các việc đã giải quyết về quốc tịch, hằng năm báo cáo Chính phủ;

5. Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về quốc tịch;

6. Ban hành và quản lý thống nhất các mẫu giấy tờ, sổ sách về quốc tịch Việt Nam;

7. Thanh tra, kiểm tra và giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo liên quan đến vấn đề giải quyết các việc về quốc tịch Việt Nam;

8. Thẩm tra hồ sơ và phối hợp với Bộ Công an trong việc xác minh các hồ sơ về quốc tịch theo quy định của pháp luật;

9. Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ ký Tờ trình trình Chủ tịch nước về việc cho nhập, cho trở lại, cho thôi quốc tịch Việt Nam;

10. Chủ trì và phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an trong việc đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế về quốc tịch;

11. Xây dựng và chỉ đạo xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử về quốc tịch Việt Nam trong phạm vi cả nước;

12. Hết thời hạn giải quyết quy định tại Điều 8 và Điều 18 của Nghị định này, chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng kết việc giải quyết nhập quốc tịch Việt Nam cho người không quốc tịch; phối hợp với Bộ Ngoại giao chỉ đạo Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tổng kết việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam để báo cáo Chính phủ.”

 Trong vai trò chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về quốc tịch đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm sau đây (Điều 27):

“1. Chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tổ chức, hướng dẫn và chỉ đạo Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quốc tịch;

2. Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc kiểm tra, thanh tra công tác quốc tịch tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài;

3. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quốc tịch cho công dân Việt Nam ở nước ngoài;

4. Tổng hợp tình hình và số liệu thống kê các việc đã giải quyết về quốc tịch tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, hằng năm thông báo cho Bộ Tư pháp;

5. Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc đàm phán, ký kết điều ước quốc tế về quốc tịch;

6. Đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Bộ Ngoại giao về đối tượng, thời hạn, cơ quan có thẩm quyền và trình tự, thủ tục thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam đến hết ngày 01 tháng 7 năm 2014; chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và Bộ Công an hướng dẫn cụ thể việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam khi có vướng mắc;

7. Hết thời hạn giải quyết quy định tại Điều 18 của Nghị định này, chỉ đạo Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tổng kết việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam để thông báo cho Bộ Tư pháp.”

Trong vai trò chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về quốc tịch đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Công an có trách nhiệm sau đây (Điều 28):

 1. Bộ Công an phối hợp với Bộ Tư pháp trong quá trình giải quyết các việc về quốc tịch, có trách nhiệm thẩm tra, xác minh hoặc hướng dẫn, chỉ đạo cơ quan công an địa phương trong việc xác minh về nhân thân của người xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam hoặc đối với những người bị đề nghị tước quốc tịch Việt Nam hoặc bị đề nghị huỷ bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam.

2. Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc đàm phán, ký kết điều ước quốc tế về quốc tịch.”

 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về quốc tịch trong phạm vi địa phương, có trách nhiệm sau đây (Điều 29):

“1. Xem xét, đề xuất ý kiến về các trường hợp xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, tước quốc tịch Việt Nam và huỷ bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam;

2. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quốc tịch;

3. Tổng hợp tình hình, thống kê các việc đã giải quyết về quốc tịch, hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp;

4. Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền;

5. Hết thời hạn giải quyết quy định tại Điều 8 của Nghị định này, tổng kết việc giải quyết nhập quốc tịch Việt Nam cho người không quốc tịch để báo cáo Bộ Tư pháp.”

 Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện quản lý nhà nước về quốc tịch Việt Nam trong phạm vi địa bàn phụ trách, có trách nhiệm sau đây (Điều 30):

“1. Xem xét, đề xuất ý kiến về các trường hợp xin thôi, xin trở lại quốc tịch Việt Nam, tước quốc tịch Việt Nam;

2. Đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và thông báo kết quả cho người đăng ký;

3. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quốc tịch cho công dân Việt Nam ở nước ngoài;

4. Tổng hợp tình hình, thống kê các việc đã giải quyết về quốc tịch tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, hằng năm báo cáo Bộ Ngoại giao;

5. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về quốc tịch theo thẩm quyền;

6. Đăng tải trình tự, thủ tục và thời hạn đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam trên Trang thông tin điện tử của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đến hết ngày 01 tháng 7 năm 2014;

7. Hết thời hạn giải quyết quy định tại Điều 18 của Nghị định này, tổng kết việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam để báo cáo Bộ Ngoại giao và Bộ Tư pháp”.

 

II. THỒNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 05/2010/BTP-BNG-BCA NGÀY 01/3/2010 CỦA BỘ TƯ PHÁP, BỘ NGOẠI GIAO VÀ BỘ CÔNG AN HƯỚNG DẪN THI HÀNH NGHỊ ĐỊNH SỐ 78/2009/NĐ-CP

1. Bối cảnh và sự cần thiết

Ngay sau khi Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 được ban hành, dư luận của nhân dân ở trong và ngoài nước rất phấn khởi, đã đánh giá cao những điểm sửa đổi, bổ sung trong Luật Quốc tịch mới so với Luật Quốc tịch năm 1998, đặc biệt là Luật đã thể hiện rõ tinh thần cải cách hành chính, thuận lợi cho việc giải quyết hồ sơ quốc tịch vốn tồn tại từ nhiều năm, vừa khó khăn vừa chậm chễ, ách tắc, đáp ứng được sự mong mỏi của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Đồng thời Bộ Tư pháp cũng đã nhận được nhiều thông tin phản ánh trên các phương tiên thông tin đại chúng về một số điểm trong Luật, trong Nghị định số 78/2009/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật (tuy đã có sự thể hiện khá chi tiết, cụ thể) nhưng vẫn còn những điểm chưa rõ, cần phải có sự hướng dẫn cụ thể hơn. Ngoài ra, một số địa phương và Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cũng đã có văn bản nêu ra những khó khăn, vướng mắc đề nghị được giải đáp, hướng dẫn cụ thể hơn để triển khai đồng bộ, thông nhất. Trước tình hình đó, Lãnh đạo Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Bộ Công an đã chỉ đạo cần thiết phải khẩn trương xây dựng và ban hành một Thông tư liên tịch để hướng dẫn thi hành Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam.   

2. Cơ cấu của Thông tư liên tịch

Thông tư liên tịch gồm 16 điều, cụ thể như sau:

Điều 1:  Phạm vi điều chỉnh

Điều 2: Tiếp nhận và thẩm tra hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam

Điều 3. Chuyển giao hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam

Điều 4.  Thông báo kết quả giải quyết hồ sơ cho người xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam

 Điều 5.  Thông báo cho cơ quan đăng ký hộ tịch việc nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam

Điều 6 Giải quyết trường hợp xin thôi quốc tịch Việt Nam mà giấy tờ bảo đảm việc cho nhập quốc tịch nước ngoài bị hết thời hạn

Điều 7. Giải quyết việc nhập quốc tịch Việt Nam cho những người không quốc tịch theo Điều 22 Luật Quốc tịch Việt Nam

Điều 8. Đăng tải danh sách Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam và tiếp nhận thông báo có quốc tịch nước ngoài

Điều 9. Văn bản pháp luật và giấy tờ dùng để xác định quốc tịch Việt Nam đối với người đăng ký giữ quốc tịch

Điều 10. Xác minh quốc tịch Việt Nam của người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam

Điều 11. Thông báo có quốc tịch nước ngoài

 Điều 12. Báo cáo tình hình đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam và thông báo có quốc tịch nước ngoài

Điều 13. Xác nhận có quốc tịch Việt Nam, xác nhận là người gốc Việt Nam

Điều 14. Ghi chú vào Sổ đăng ký khai sinh việc nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam

Điều 15. Ghi chú vào Sổ đăng ký khai sinh việc thông báo có quốc tịch nước ngoài

Điều 16. Tổ chức thực hiện.

3. Nội dung của Thông tư liên tịch

3.1. Tiếp nhận và thẩm tra hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam (Điều 2)

Trước đây, việc tiếp nhận hồ sơ quốc tịch chưa có một quy trình thống nhất. Hầu hết việc tiếp nhận hồ sơ đều được thực hiện theo cách thức riêng của từng cơ quan. Nhất là đối với hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam được nộp ở nước ngoài, cơ quan tiếp nhận, thông qua Bộ Ngoại giao chuyển hồ sơ về Bộ Tư pháp bằng nhiều công văn khác nhau mà không có một danh sách tổng thể những người xin thôi quốc tịch Việt Nam. Để việc giải quyết hồ sơ quốc tịch đi vào nền nếp, trật tự, khoa học thì cần phải xây dựng một quy trình thống nhất, chặt chẽ ngay từ khâu tiếp nhận hồ sơ. Các nội dung cần có trong Phiếu tiếp nhận hồ sơ cũng cần được hướng dẫn cụ thể để áp dụng thống nhất tại các cơ quan tiếp nhận hồ sơ (khoản 1).

Thẩm tra hồ sơ là nhiệm vụ của cơ quan tiếp nhận hồ sơ mới được quy định trong Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008. Việc thẩm tra hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam nhằm kiểm tra tính hợp pháp của các giấy tờ có trong hồ sơ và tính xác thực của các thông tin về người xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam nếu thấy có những điểm chưa rõ ràng. Việc thẩm tra này là cần thiết để đảm bảo các hồ sơ được xem xét kỹ ngay từ khâu đầu tiên.

Đồng thời với các công việc trên, các khoản 2, 3 và 4 hướng dẫn cụ thể cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm phân thành 2 loại: hồ sơ thuộc diện được miễn xác minh và hồ sơ thuộc diện phải xác minh; lập danh mục các giấy tờ có trong từng hồ sơ và danh sách những người được đề nghị giải quyết hồ sơ quốc tịch đó. Việc phân loại hồ sơ thuộc diện được miễn xác minh và hồ sơ thuộc diện phải xác minh sẽ giúp kiểm soát được thời hạn của giấy tờ bảo đảm việc cho nhập quốc tịch nước ngoài. Qua đó, khắc phục được tình trạng tồn tại trong thời gian qua là khi hồ sơ chuyển về đến Bộ Tư pháp (sau khi xác minh xong) thì giấy tờ bảo đảm việc cho nhập quốc tịch nước ngoài đã hết thời hạn. Nhiều trường hợp phải xin gia hạn hoặc xin cấp lại giấy tờ nêu trên, thậm chí có một số trường hợp tồn đọng quá lâu mà không giải quyết được.

3.2. Chuyển giao hồ sơ và danh sách những người xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam (Điều 3)

Để xử lý nhanh chóng và chính xác hồ sơ khi hồ sơ được chuyển đến Bộ Tư pháp và để tiến tới tin học hóa quá trình giải quyết hồ sơ quốc tịch, khoản 2 hướng dẫn Cơ quan tiếp nhận hồ sơ khi gửi hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, đồng thời gửi cho Bộ Tư pháp văn bản điện tử về danh sách những người được đề nghị giải quyết vào địa chỉ: quoctich.@moj.gov.vn .

Đặc biệt, để phù hợp với xu hướng cải cách hành chính của Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay, nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch trong việc giải quyết các hồ sơ quốc tịch, tạo điều kiện cho các cơ quan và người dân có thể theo dõi được tiến độ, kết quả giải quyết hồ sơ, khoản 2 đã hướng dẫn Bộ Tư pháp trong việc đăng tải danh sách những người có hồ sơ lên Trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp và cập nhật tiến độ và kết quả giải quyết hồ sơ vào danh sách đã được đăng tải nói trên.

 3.3. Thông báo kết quả giải quyết hồ sơ cho người xin nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam và thông báo cho các cơ quan đăng ký hộ tịch kết quả giải quyết việc nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam để ghi vào Sổ đăng ký khai sinh (Điều 4 và Điều 5)

Thông báo kết quả giải quyết việc nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam là khâu cuối cùng trong quá trình giải quyết hồ sơ quốc tịch. Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 và Nghị định số 78/2009/NĐ-CP chỉ quy định chung về trách nhiệm thông báo của Bộ Tư pháp. Vì vậy, để cụ thể hóa vấn đề này, Điều 4 Thông tư đã hướng dẫn quy trình, thủ tục thông báo kết quả, hồ sơ đã được giải quyết và hồ sơ không được giải quyết cho cơ quan thụ lý hồ sơ và cho đương sự.

Ngoài ra, để việc quản lý hộ tịch và quốc tịch có mối liên thông chặt chẽ với nhau, cần thiết phải thông báo kết quả giải quyết việc thôi quốc tịch, việc trở lại quốc tịch Việt Nam cho các cơ quan quản lý hộ tịch để cập nhật thay đổi về quốc tịch thông qua việc ghi chú vào Sổ đăng ký khai sinh. Điều 5 đã hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

3.4. Giải quyết trường hợp xin thôi quốc tịch Việt Nam mà giấy tờ bảo đảm việc cho nhập quốc tịch nước ngoài hết thời hạn (Điều 6)

Một trong những vướng mắc hiện nay khi giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam là khi công dân nộp hồ sơ xin thôi quốc tịch thì giấy tờ bảo đảm việc cho nhập quốc tịch của nước ngoài còn thời hạn nhưng khi hồ sơ được chuyển về Bộ Tư pháp thì giấy tờ đó đã hết hạn. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho công dân, Điều 6 hướng dẫn cách xử lý trường hợp giấy tờ bảo đảm việc cho nhập quốc tịch nước ngoài hết thời hạn để người xin thôi quốc tịch Việt Nam làm thủ tục xin gia hạn giấy tờ đó hoặc xin cấp mới. Nếu người xin thôi quốc tịch Việt Nam có đề nghị, thì Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có biện pháp hỗ trợ đương sự làm thủ tục xin gia hạn hoặc xin cấp mới giấy tờ bảo đảm cho việc nhập quốc tịch nước ngoài phù hợp với pháp luật và qui định hiện hành của nước sở tại.

3.5. Giải quyết việc nhập quốc tịch Việt Nam cho những người không quốc tịch không có các giấy tờ về nhân thân đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ đủ 20 năm trở lên tính đến ngày ngày 01 tháng 7 năm 2009 (Điều 7)

Giải quyết việc nhập quốc tịch Việt Nam cho những người không quốc tịch mà không có các giấy tờ về nhân thân đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ đủ 20 năm trở lên tính đến ngày ngày 01 tháng 7 năm 2009 là một vấn đề quan trọng được quy định trong Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và Nghị định số 78/2009/NĐ-CP. Điều 8 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP đã hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục giải quyết vấn đề này. Vì vậy, Thông tư liên tịch tại Điều 7 có hướng dẫn chi tiết hơn trách nhiệm của Sở Tư pháp trong việc chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan ở địa phương để xây dựng và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt Kế hoạch giải quyết việc nhập quốc tịch cho những người không quốc tịch thuộc diện này và cách thức phối hợp triển khai kế hoạch đó ở địa phương.

3.6. Đăng tải danh sách các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thực hiện viêc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam và tiếp nhận thông báo có quốc tịch nước ngoài (Điều 8)

Đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam và thông báo có quốc tịch nước ngoài là những quy định mới được đặt ra trong Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008. Mặc dù Luật Quốc tịch năm 2008 và Nghị định số 78/2009/NĐ-CP đã có quy định chung về thẩm quyền của cơ quan thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam (Điều 19 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP), nhưng thực tế, đối tượng thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam và thông báo giữ quốc tịch nước ngoài là người Việt Nam hiện đang định cư ở nhiều nước hoặc nhiều vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới. Để thuận lợi cho người dân thì ngoài thẩm quyền theo nội dung công việc đã được quy định, phải có sự hướng dẫn cụ thể và đăng tải công khai trên Công thông tin của Bộ Ngoại giao và Cổng thông tin của Bộ Tư pháp danh sách các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thẩm quyền theo địa hạt (từng khu vực các nước, vùng lãnh thổ). Đây thực chất là một bản đồ phân bố thẩm quyền theo địa hạt để vừa thuận lợi cho các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, vừa thuận lợi cho người dân biết trước được nơi cần đến đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. 

3.7. Áp dụng các văn bản pháp luật về quốc tịch Việt Nam để xác định quốc tịch Việt Nam của người đăng ký giữ quốc tịch (Điều 9)

   Liên quan đến việc áp dụng các văn bản pháp luật Việt Nam về quốc tịch, do đặc điểm lịch sử, tại thời điểm trước năm 1975, ở miền Nam Việt Nam tồn tại hệ thống chính quyền của Nhà nước Việt Nam Cộng hoà. Và đi kèm theo chính thể đó là hệ thống các văn bản pháp luật do chính quyền này ban hành trong đó có văn bản quy định về quốc tịch Việt Nam là Dụ số 10. Vấn đề quốc tịch của người dân Việt Nam sống trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam sẽ được điều chỉnh bởi văn bản này. Vậy trong Thông tư có nên liệt kê Dụ số 10 là một trong những văn bản pháp luật được áp dụng để xác định quốc tịch Việt Nam của công dân như những văn bản pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hay không?  Cần thiết phải liệt kê các văn bản pháp luật về quốc tịch qua các thời kỳ để xác định một người có hay không có quốc tịch Việt Nam làm cơ sở cho các cơ quan áp dụng thống nhất. Tuy nhiên, không nên liệt kê rõ các văn bản của chế độ cũ trước 30/4/1975, vì thực tế trong một giai đoạn lịch sử có nhiều người dân đã được Nhà nước Việt Nam Cộng hoà cấp các giấy tờ về hộ tịch, quốc tịch Việt Nam, nếu không áp dụng Dụ này thì các giấy tờ đó không được thừa nhận, như thế sẽ không đảm bảo quyền lợi cho người dân. Đây là vấn đề nhạy cảm, nên phải rất linh hoạt khi áp dụng các văn bản pháp luật nêu trên trong các trường hợp cụ thể để xác định quốc tịch Việt Nam của người đăng ký giữ quốc tịch, có thể căn cứ vào các giấy tờ về quốc tịch, nhân thân, hộ tịch do các chế độ cũ cấp trước ngày 30/4/1975 để xác định một người có hay không có quốc tịch Việt Nam; nếu có vướng mắc thì Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phản ánh về Bộ Ngoại giao để phối hợp với Bộ Tư pháp và Bộ Công an kịp thời hướng dẫn. Hơn nữa, việc liệt kê các văn bản cũng giúp cho các cơ quan đăng ký dễ dàng đối chiếu, áp dụng. Đây là vấn đề nhạy cảm nên chỉ hướng dẫn trong Thông tư liên tịch ở mức đó, còn tuỳ từng trường hợp các cơ quan sẽ phối hợp hướng dẫn cụ thể trong nội bộ các cơ quan nhà nước.

Đối với việc thực hiện đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam cho với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì những căn cứ mang tính pháp lý để xác định họ có hay không có quốc tịch Việt Nam là rất phức tạp. Bởi vì họ đã sống qua nhiều chế độ khác nhau, có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau đã được ban hành điều chỉnh về quốc tịch, họ đã làm rất nhiều thủ tục qua các sự kiện pháp lý như đăng ký khai sinh, đăng ký kêt hôn, xin cấp thẻ căn cước, chứng minh nhân dân, hộ chiếu, hộ khẩu, thẻ thường trú, có quyết định được thôi, được nhập, được trở lại quốc tịch Việt Nam, được làm con nuôi, có quốc tịch Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên…. Do đó, cơ quan đăng ký cần căn cứ vào thời gian xảy ra sự kiện pháp lý về quốc tịch của họ và đối chiếu với các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực tại thời điểm đó để xác định họ có hay không có quốc tịch Việt Nam. Điều 9 đã hướng dẫn theo hướng liệt kê các văn bản pháp luật về quốc tịch qua các thời kỳ để cơ quan thực hiện việc đăng ký đối chiếu, áp dụng. Quá trình áp dụng các văn bản pháp luật nêu trên trong các trường hợp cụ thể để xác định quốc tịch Việt Nam của người đăng ký giữ quốc tịch, các giấy tờ về quốc tịch, nhân thân, hộ tịch do các chế độ cũ cấp trước ngày 30/4/1975 cũng là căn cứ để xác định một người có hay không có quốc tịch Việt Nam; nếu có vướng mắc thì Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phản ánh về Bộ Ngoại giao để phối hợp với Bộ Tư pháp và Bộ Công an kịp thời hướng dẫn.

3.8. Xác minh quốc tịch Việt Nam của người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam (Điều 10)

.Căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 20 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP, Điều 7 Thông tư đã hướng dẫn cụ thể việc xác minh có hay không có quốc tịch Việt Nam của người yêu cầu đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. Trường hợp phải xác minh do không có đủ giấy tờ để chúng minh quốc tịch Việt Nam hoặc giấy tờ chứng minh không rõ thì người đăng ký cần cung cấp cho Cơ quan đăng ký những thông tin và giấy tờ cần thiết có liên quan để phục vụ việc xác minh quốc tịch; người yêu cầu đăng ký giữ quốc tịch cung cấp càng nhiều thông tin thì càng dễ dàng, thuận lợi trong việc xác minh của cơ quan Ngoại giao, Tư pháp, Công an. Các giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp trong đó có ghi quốc tịch Việt Nam của người đăng ký có giá trị làm căn cứ để xem xét trong việc xác định quốc tịch của đương sự. Quy trình và thời hạn xác minh tại các cơ quan cũng được hướng dẫn cụ thể tại khoản 2. Trên cơ sở hướng dẫn này, Cơ quan đăng ký có thể chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan trong nước trong việc tiến hành xác minh xem người đăng ký có hay không có quốc tịch Việt Nam.

3.9. Thông báo có quốc tịch nước ngoài (Điều 11)

Căn cứ vào Điều 21 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP, cần phải có hướng dẫn cụ thể về hình thức thông báo có quốc tịch nước ngoài đối với công dân Việt Nam đồng thời có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài. Việc thông báo có quốc tịch nước ngoài rất cần thiết để quản lý chặt chẽ người có hai quốc tịch trở lên, tạo điều kiện để thực hiện bảo hộ công dân cũng như thuận lợi khi tham gia vào các quan hệ pháp lý. Tuy nhiên, thủ tục thông báo cần phải thông thoáng để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân. Vì vậy, Điều 11 Thông tư hướng dẫn hình thức của việc thông báo phải bằng văn bản trong đó có các nội dung chi tiết liên quan, có chữ ký của người thông báo, kèm theo bản sao giấy tờ chứng minh quốc tịch nước ngoài của người đó.

 Ngoài ra, để tạo điều kiện cho người dân, đương sự có thể đến Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; trường hợp không thể trực tiếp đến thông báo thì có thể thông qua người thân hoặc có thể gửi văn bản thông báo có quốc tịch nước ngoài qua đường bưu điện và văn bản thông báo đó phải kèm theo bản sao giấy tờ tuỳ thân.

3.10. Báo cáo tình hình đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, thông báo có quốc tịch nước ngoài (Điều 12)

Để có thể thực hiện tốt việc quản lý nhà nước về quốc tịch và bảo hộ công dân đối với những người đã thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam và thông báo việc đồng thời có quốc tịch nước ngoài, cần thiết phải hướng dẫn cụ thể cho các cơ quan quản lý ở trong và ngoài nước định ký báo cáo cho nhau kết quả và tình hình thực hiện các việc nêu trên, tạo cở sở để so sánh, đối chiếu, phục vụ công tác quản lý, thống kê, tổng hợp, báo cáo. 

 3.11. Xác nhận có quốc tịch Việt Nam, xác nhận là người gốc Việt Nam (Điều 13) 

Trước đây, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 có quy định về việc cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam. Nhưng Luật Quốc tịch năm 2008 không còn quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, trên thực tế, nhu cầu của công dân về việc cấp loại giấy này vẫn còn nhiều để phục vụ các quan hệ pháp lý như làm hồ sơ nhập học, hồ sơ xin học bổng, hồ sơ xin việc làm, đăng ký kinh doanh, thương mại, bổ nhiệm, làm thủ tục hưởng các chế độ đãi ngộ.... Ngay khi Luật năm 2008 có hiệu lực, Bộ Tư pháp đã nhận được nhiều công văn của các Sở Tư pháp địa phương và đơn, thư của người dân đề nghị hướng dẫn để tháo gỡ vướng mắc này. Mặc dù đã xuất trình những giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam nhưng nhiều cơ quan trong và ngoài nước vẫn yêu cầu có giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam. Thực tế cũng có khá nhiều người đã thôi quốc tịch Việt Nam nhưng họ vẫn có thể xuất trình giấy khai sinh, chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu được cấp từ trước khi thôi quốc tịch. Với chức năng quản lý nhà nước về quốc tịch, các cơ quan quản lý quốc tịch ở trong và ngoài nước, sau khi kiểm tra, xem xét các giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam do người yêu cầu nộp và tra cứu danh sách những công dân Việt Nam đã được Chủ tịch nước cho thôi quốc tịch Việt Nam, bị tước quốc tịch Việt Nam qua hệ thống lưu trữ của Bộ Tư pháp, trả lời bằng văn bản trong đó có nội dung xác nhận một người có quốc tịch Việt Nam. Trong cảc trường hợp, việc đề nghị tra cứu thông tin tại Bộ Tư pháp là cần thiểt trong điều kiện chưa có cơ sở dữ liệu quốc tịch điện tử và chưa nối mạng được giữa Bộ Tư pháp, các Cơ quan đại diện và các UBND cấp tỉnh với nhau. Tuy nhiên, đối với trường hợp mà đương sự xuất trình đầy đủ giấy tờ chứng  minh quốc tịch Việt Nam theo quy định của Điều 11 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và giấy tờ đó vừa mới được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, có đủ sự tin cậy để xác nhận, thì không nhất thiết phải tra cứu ở Bộ Tư pháp.

Việc xác nhận người gốc Việt Nam cũng là một nhu cầu đang đặt ra trong thực tiễn hiện nay do các quy định của pháp luật Việt Nam nhất là các quy định có liên quan đến nhà ở, đất đai, đầu tư có những ưu đãi riêng đối với những người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài, họ đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra có quốc tịch Việt Nam theo huyết thống hoặc con cháu của họ.

Vì vậy, Điều 13 Thông tư liên tịch có hướng dẫn về việc Sở Tư pháp và Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, theo yêu cầu của người dân, trả lời bằng văn bản trong đó xác nhận có quốc tịch Việt Nam hoặc xác nhận là người gốc Việt Nam. Quy định này nhằm tháo gỡ vướng mắc phát sinh trong thực tế và cũng không trái với Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, vì đây không phải là hình thức cấp “Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam” hoặc “Giấy xác nhận là người gốc Việt Nam” mà là việc trả lời dưới hình thức văn bản đối với yêu cầu của người dân. Trong cảc trường hợp, việc đề nghị tra cứu thông tin tại Bộ Tư pháp cũng là cần thiểt trong điều kiện chưa có cơ sở dữ liệu quốc tịch điện tử và chưa nối mạng được giữa Bộ Tư pháp, các Cơ quan đại diện và các UBND cấp tỉnh với nhau. Tuy nhiên, đối với trường hợp mà đương sự xuất trình đầy đủ giấy tờ chứng minh rõ ràng rằng mới bị mất quốc tịch Việt Nam, giấy tờ đó có đủ sự tin cậy để xác nhận người đó có quốc tịch theo huyết thống khi sinh ra và đã từng có quốc tịch Việt Nam, thì không nhất thiết phải tra cứu ở Bộ Tư pháp.

3.12. Ghi chú vào sổ hộ tịch các việc về quốc tịch (các Điều 14 và 15)

Hộ tịch và quốc tịch có mối liên hệ mật thiết với nhau, những thông tin về quốc tịch của một người khi có sự thay đổi cần phải được ghi chú vào sổ hộ tịch. Khi công dân Việt Nam có thay đổi quốc tịch do được nhập, được trở lại, được thôi quốc tịch Việt Nam hoặc đối với Công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài, thì những thông tin đó nhất thiết phải được ghi chú, cập nhật tại cơ quan tư pháp đăng ký hộ tịch ở trong nước hoặc tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Nếu một người có thay đổi về quốc tịch mà không ghi chú vào Sổ đăng ký khai sinh những thông tin đó thì sau này cơ quan quản lý hộ tịch rất dễ bị những sai sót khi cấp các giấy tờ hộ tịch (ví dụ: một người đã thôi quốc tịch Việt Nam năm 2000, nhưng trở lại quốc tịch Việt Nam năm 2010, đến năm 2012 xin cấp lại bản chính hoặc xin cấp bản sao từ sổ gốc). Vì vậy, căn cứ vào các Điều 23, 24 và 25 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP, vận dụng các quy định về pháp luật hộ tịch hiện hành, Thông tư liên tịch đã hướng dẫn cụ thể việc ghi chú vào Sổ đăng ký khai sinh việc nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam  (Điều 14); ghi chú vào Sổ đăng ký khai sinh việc công dân Việt Nam thông báo có quốc tịch nước ngoài đối với trường hợp đã đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền đăng ký khai sinh ở trong nước hoặc Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài (Điều 15); Việc ghi chú này cũng có ý nghĩa quan trọng, làm căn cứ để cơ quan đăng ký hộ tịch cấp các giấy tờ về hộ tịch trong đó cập nhật được tình trạng quốc tịch của công dân./.