Thỏa thuận hạn chế lựa chọn đối tác có vi phạm pháp luật cạnh tranh doanh nghiệp?

Hỏi :

Công ty chúng tôi là một công ty của Trung Quốc, liên doanh với một doanh nghiệp ở Hà Nội lắp ráp xe gắn máy. Trong hợp đồng liên doanh nếu hai bên thỏa thuận khi liên doanh có nhu cầu vay vốn thì công ty của chúng tôi sẽ lo liệu, khi liên doanh có nhu cầu xuất khẩu thì bên phía chúng tôi sẽ bao tiêu, khi liên doanh thay đổi công nghệ thì chỉ được mua công nghệ từ các nguồn do công ty chúng tôi chỉ định, doanh nghiệp ở Hà Nội không được liên doanh với các đối thủ cạnh tranh với công ty chúng tôi và với chính liên doanh.
Với việc thỏa thuận như vậy có vi phạm pháp luật cạnh tranh doanh nghiệp không? Sau một thời gian nếu doanh nghiệp ở Hà Nội muốn liên doanh với một doanh nghiệp khác để lắp ráp xe gắn máy của Đài Loan có vi phạm hợp đồng không?

Trả lời :

Các vấn đề nêu trong câu hỏi của bạn được bóc tách như sau:

-         Thỏa thuận bên công ty Trung Quốc cấp vốn không vi phạm Luật Cạnh tranh năm 2004 và Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh.

-         Cũng theo pháp luật cạnh tranh hiện hành của Việt Nam thì vấn đề thỏa thuận xuất khẩu xe máy do bên công ty Trung Quốc bao tiêu là vi phạm Luật Cạnh tranh và là hành vi hạn chế cạnh tranh (thỏa thuận phân chia thị trường và tiêu thụ/khách hàng) nếu “các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên? Theo Điều 8 và Điều 9 Luật Cạnh tranh. Việc xác định thị trường liên quan có phù hợp với pháp luật hiện hành còn căn cứ vào thực tế thị phần của liên doanh. Về vấn đề này, bạn có thể xem thêm khoản 1, khoản 5 Điều 3 Luật Cạnh tranh để xác định cụ thể thỏa thuận của liên doanh có rơi vào trường hợp bị cấm hay không.

-         Thỏa thuận khi liên doanh thay đổi công nghệ thì chỉ được mua công nghệ từ các nguồn do bên công ty Trung Quốc chỉ định là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, được hiểu là ấn định nguồn cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư. Đây là các vấn đề đã được Luật Cạnh tranh điều chỉnh, nhưng chỉ áp dụng với thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên. Vì vậy, để xác định cụ thể thỏa thuận của liên doanh có rơi vào trường hợp bị cấm hay không còn phải căn cứ vào thị phần thực tế của doanh nghiệp. Cách xác định thị phần liên quan cũng căn cứ vào khoản 1 và khoản 5 Điều 3 Luật Cạnh tranh.

-         Thỏa thuận bên doanh nghiệp Hà Nội không được liên doanh với các đối thủ cạnh trah với bên công ty Trung Quốc với với chính liên doanh là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, vi phạm quy định của Luật Cạnh tranh. Đây là thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho các doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh, được quy định tại khoản 6 Điều 8 Luật Cạnh tranh. Đối với loại thỏa thuận này sẽ bị cấm hoàn toàn mà không phụ thuộc và thị phần liên quan của liên doanh theo quy định tại Điều 9 Luật Cạnh tranh.

-         Doanh nghiệp Hà Nội liên doanh với doanh nghiệp của Đài Loan không vi phạm hợp đồng liên doanh trước đó với công ty của Trụng Quốc vì quy định trong hợp đồng liên doanh “doanh nghiệp ở Hà Nội không được liên doanh với các đối thủ cạnh tranh với công ty…” là thỏa thuận vô hiệu do vi phạm Luật Cạnh tranh. Luật cấm hoàn toàn các trường hợp thỏa thuận “ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển thị trường; thỏa thuận loại bỏ khối thị trường những doanh nghiệp không phải là  các bên của thỏa thuận”.

Trong các vấn đề quy định trong hợp đồng liên doanh cần xem xét và tính tới thị phần liên quan và các trường hợp thuộc đối tượng điều chỉnh là hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh.

doangia.vn.