25/5/2017 9:14
Bài tham luận của Luật sư Hoàng Văn Sơn - Trưởng văn phòng luật sư VNC tại Hội thảo
      Cạnh tranh bình đẳng, công bằng là mong muốn của các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nền kinh tế thị trường thời kì hội nhập và phát triển. Tuy nhiên, không phải lúc nào, ở đâu, mong muốn này cũng đạt được như ý muốn, lợi ích khác nhau của các cá nhân, tổ chức đã luôn luôn thúc đẩy họ hành động. Hành động này có thể hợp pháp, có thể bất hợp pháp nhằm đạt được mục đích của mình trong kinh doanh. Nhưng hành động bất hợp pháp sẽ làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, người khác, vì vậy để ngăn chặn hành vi cạnh tranh thiếu lành mạnh này, nhà nước phải ban hành các đạo luật để loại trừ những hành vi chèn ép các đối thủ, người tiêu dùng… để bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ nền pháp chế trong đó có Luật cạnh tranh.
      Về nội dung dự án luật lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức chúng tôi xin đóng góp một số ý kiến của mình như sau:     Luật cạnh tranh là một dự án luật đặc biệt, nó đặc biệt so với các đạo luật khác, bởi vì, Luật này vừa là luật quy định về nội dung vừa là luật quy định về hình thức quy định tại Điều 1. 
      Luật về nội dung thể hiện ở chỗ quy định về : 
     1. Hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền và tập trung kinh tế được thực hiện tại Việt Nam hoặc bên ngoài lãnh thổ Việt Nam gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường Việt Nam;
     2. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
      Về hình thức luật này quy định :
      Tố tụng về cạnh tranh và xử lí vi phạm pháp luật pháp về cạnh tranh. 
   Đây là đạo luật hỗn hợp nên rất dễ có nguy cơ bị chồng chéo với các văn bản khác hoặc sẽ không đầy đủ. Bởi vì, về tố tụng ngoài xử lí vụ việc cạnh tranh theo luật này, nó phải giải quyết các vấn đề khác cũng liên quan đến cạnh tranh như : Chống trợ cấp hang hóa nhập khẩu vào Việt Nam; Chống bán phá giá hang hóa nhập khẩu vào Việt Nam theo các pháp lệnh tương tự. Các vấn đề này đều liên quan đến cạnh tranh của doanh nghiệp, nhà đầu từ trong và ngoài nước.
      Dự án luật lấy ý kiến lần này chúng tôi không thấy ban soạn thảo đưa ra quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam. Nếu không đưa quy định này vào dự án luật, thì sẽ chồng chéo thẩm quyền xử lí vụ việc hoặc không đầy đủ khi luật này có hiệu lực và các văn bản khác dưới luật hết hiệu lực thi hành. Cụ thể :
 - Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lí cạnh tranh. Căn cứ pháp lí để ban hành nghị định này là : Luật tổ chức chính phủ năm 2001; Luật cạnh tranh năm 2004; Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hang hóa nước ngoài vào Việt Nam năm 2002; Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; Pháp lệnh chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam…
      Theo đó, Cục quản lí cạnh tranh có thẩm quyền : 
Điều 2. Nhiệm vụ và quyền hạnCục Quản lý cạnh tranh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
1. Xây dựng và trình Bộ trưởng Bộ Thương mại các văn bản quy phạm pháp luật về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật sau khi được ban hành.
      Như vậy, nếu sau khi Luật cạnh tranh này có hiệu lực thi hành, thì Luật cạnh tranh năm 2004 hết hiệu lực, đương nhiên Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 cũng sẽ hết hiệu lực, và không có cơ quan nào thực thi việc chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ đối với hang hóa nhập khẩu vào Việt Nam. Vì vậy, theo chúng tôi cần phải bổ sung nội dung này vào dự án luật về thẩm quyền của Ủy ban cạnh tranh Quốc gia. 
   - Nghị định số 42/2014/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2014 quy định về bán hàng đa cấp dựa trên căn cứ pháp lí là Luật cạnh tranh năm 2004. Vậy, sau khi Luật cạnh tranh mới có hiệu lực thi hành thì Nghị định số 42/2014/NĐ-CP sẽ tồn tại như thế nào? Trong khi ban soạn thảo đã loại bỏ quy định về bán hàng đa cấp ra khỏi Luật cạnh tranh mới. Và quy định về hoạt động quản lí bán hàng đa cấp sẽ do cơ quan nào chịu trách nhiệm, khi mà Cục quản lí cạnh tranh theo Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 có thể cũng chấm dứt. Chúng tôi kiến nghị ban soạn thảo cần làm rõ vấn đề này?
-  Về chi tiết góp ý vào dự án Luật cạnh tranh, chúng tôi đóng góp một số ý kiến như sau:
      Ban soạn thảo dự án luật này chưa rà soát hết các quy định có liên quan, dẫn chiếu các điều luật không chính xác. Vì vậy, theo chúng tôi vẫn còn nhiều quy định chưa chặt chẽ, hoặc quy định về thẩm quyền nửa vời. 
      Chẳng hạn như : Thẩm quyền của Hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh quy định tại Điều 42.
Điều 42 Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh
1. Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh do Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh Quốc gia quyết định thành lập để xem xét và kiến nghị Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh Quốc gia ra quyết định xử lý đối với một vụ việc hạn chế cạnh tranh cụ thể.
2. Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh bao gồm từ ba thành viên trở lên, do Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh Quốc gia quyết định lựa chọn trong từng vụ việc cụ thể theo các tiêu chí quy định tại Điều 44 Luật này, trong đó có một thành viên là Phó Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh Quốc gia được chỉ định làm Chủ tịch Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh.
3. Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh hoạt động theo vụ việc, chấm dứt hoạt động và tự động giải thể khi hoàn thành nhiệm vụ xử lý một vụ việc hạn chế cạnh tranh cụ thể.
   Như vậy hội đồng này không có thẩm quyền mà chủ tịch Ủy ban cạnh tranh Quốc gia mới có thẩm quyền, cần phải quy định thẩm quyền của Hội đồng cạnh tranh Quốc gia giải quyết tương tự như Hội đồng xét xử tại tòa án và sau khi có khiếu nại tiếp theo thì thẩm quyền tiếp theo thuộc Chủ tịch ủy ban cạnh tranh Quốc gia để đảm bảo một quy trình chặt chẽ, tránh lạm dụng, sai sót. Mặt khác, quy định viễn dẫn tại khoản 2 điều này cũng không chính xác. Điều 44 quy định về Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh.
- Về quy định tại Điều 3 cần bổ sung thêm việc giải thích từ ngữ “Vị trí thống lĩnh thị trường” là gì? 
      Giải thích cụ thể hơn quy định tại khoản 6 Điều 3 “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”. 
      Chúng tôi đề nghị sửa lại như sau : 
“Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh, gièm pha, nhái sản phẩm, cạnh tranh không dựa trên chất lượng của hang hóa, dịch vụ, giá cả, chèn ép đối thủ bằng nhiều cách như lôi kéo khách hàng không dựa trên sự tự nguyện; so sánh trực tiếp hang hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp khác khi quảng cáo…”
-  Về quy định tại Điều 12 :  
Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm
1. Cấm các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 12 Luật này. 
2. Cấm các doanh nghiệp thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại các khoản 7, 8, 9, 10, 11 và 12  Điều 12 Luật này gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường.
     Ban soạn đã quá cẩu thả khi viễn dẫn các điều khoản tại khoản 1, 2 điều này. Đang là Điều 12 lại dẫn chiếu đến các khoản của Điều 12 mà không có. 
    Tương tự quy định tại Điều 13 
Đánh giá tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể
1. Việc đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của hành vi thoả thuận quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật này bao gồm các nội dung sau đây:
a) Mức độ tác động hạn chế cạnh tranh;
b) Mức độ tác động thúc đẩy cạnh tranh;
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Hành vi thỏa thuận quy định tại khoản 2 Điều 13 bao gồm… Đang là quy định tại Điều 13 lại dẫn chiếu đến khoản 2 Điều 13, nhưng khoản 2 lại đang do Chính phủ quy định chi tiết.
- Về quy định tại Điều 14
   Hành vi khác liên quan đến thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 
Cấm tổ chức, cá nhân thực hiện các hành vi sau đây: 
1. Vận động, kêu gọi, dụ dỗ, ép buộc hoặc tổ chức cho các doanh nghiệp tham gia vào các thoả thuận bị cấm theo quy định tại Điều 13 Luật này;
2. Cung cấp thông tin nhằm hình thành các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định tại Điều 13 Luật này.
Điều luật này quá lủng củng. Tiêu đề điều luật thì ghi các hành vi khác liên quan đến thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Còn nội dung thì lại cấm tổ chức, cá nhân thực hiện các hành vi. Viễn dẫn điều luật tại khoản 2 cũng không chính xác.
Cần sửa lại tiêu đề là : “Hành vi khác liên quan đến thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm”. Bãi bỏ phần : Cấm tổ chức cá nhân thực hiện các hành vi sau đây.
- Về quy định tại Điều 15 khoản 1:
   Miễn trừ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
1. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 13 (11) Luật này (quy định này sẽ làm thiệt hại đến DN mới) có thể được xem xét cho hưởng miễn trừ có thời hạn nếu phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong cùng thời kỳ hoặc nhằm hạ giá thành, có lợi cho người tiêu dùng.
Điều luật này tương tự các điều đã nêu trên. Viễn dẫn các khoản 1,2,3,4 và 5 Điều 13 là không chính xác. Mặt khác, quy định này sẽ làm thiệt hại đến DN mới thành lập.
     -  Về quy định tại Điều 31 Các điều kiện, biện pháp khắc phục đối với tập trung kinh tế, theo chúng tôi nên sắp xếp điều luật này xuống dưới Điều 32, 33 thì hợp lí hơn. Vì Điều 32, 33 quy định về các biện pháp thực hiện và các hành vi vi phạm. Sau khi xử lí thì mới khắc phục.
      -  Về quy định tại Điều 40 khoản 3
    Ủy ban cạnh tranh Quốc gia 
3. Chính phủ quy định về cơ cấu, tổ chức bộ máy của Ủy ban cạnh tranh Quốc gia.
     Theo chúng tôi, nên quy định tổ chức cơ cấu bộ máy của Ủy ban cạnh tranh Quốc gia này trong luật.
- Về quy định tại Điều 51
Chứng cứ
1. Chứng cứ là những gì có thật, được Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi vi phạm quy định của Luật này.     Theo chúng tôi, cần bổ sung thêm : “Chứng cứ phải liên quan trực tiếp, hoặc gián tiếp đến vụ việc này”
Trên đây là một số ý kiến đóng góp của chúng tôi, kính mong ban tổ chức hội thảo tiếp thu.
Trân trọng kính chào !

Thành viên đang xem chủ đề này