24/5/2017 19:14
Bài tham luận của PGS.TS. Hồ Xuân Thắng tại Hội thảo
Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11 được Quốc hội khóa XI thông qua tại Kỳ họp thứ 6 ngày 03 tháng 12 năm 2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2005. Sau gần 12 năm thực thi, Luật Cạnh tranh năm 2004 đã góp phần đảm bảo và duy trì môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh, bảo vệ quyền cạnh tranh tự do bình đẳng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể hoạt động trên thị trường, hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và qua đó đã góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày một sâu, rộng với những kết quả quan trọng đáng khích lệ. Tuy nhiên đạo luật này cũng xuất hiện nhiều hạn chế cần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình mới, một số quy định trong Luật Cạnh tranh hiện hành không còn phù hợp với bối cảnh và xu hướng phát triển của nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu, rộng với khu vực và thế giới. Đồng thời cần tập trung xây dựng theo hướng Luật Cạnh tranh đóng vai trò là luật công bao trùm tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế thì tính thống nhất điều chỉnh giữa các luật chuyên ngành khác mới có khả thi trong thực tiễn.
Tôi hoàn toàn đồng quan điểm với ban soạn thảo, Luật Cạnh tranh cần được sửa đổi, bổ sung để phục vụ cho mục tiêu quan trọng nhất là: “Bảo vệ môi trường cạnh tranh/hoạt động cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trên thị trường, thông qua đó tăng cường hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam”.  Đây là một định hướng khá quan trọng và rõ ràng để khẳng định được vai trò của Luật cạnh tranh là một bản “Hiến pháp của nền kinh tế thị trường” ở nước ta.
Dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi) bao gồm 10 chương, 99 điều, phải thừa nhận “Ban soạn thảo đã lựa chọn một số vấn đề cơ bản, quan trọng về mặt chính sách của Dự án Luật để đánh giá tác động. Sau khi phân tích, đánh giá tác động của từng phương án, giải pháp đối với từng vấn đề, Dự án Luật đã chọn ra các phương án phát sinh chi phí ít nhất và đem lại lợi ích lớn nhất cho xã hội” . Trong diễn đàn lấy ý kiến góp ý dự thảo lần này, chúng tôi có một số vấn đề cần đóng góp theo góc nhìn đa chiều cửa người nghiên cứu pháp luật cạnh tranh mang tính chất trao đổi và kiến nghị sau đây:
               Vấn đề thứ nhất: “Các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm” kết cấu nội dung phân tán không khoa học, giảm hiệu lực pháp lý trong quá trình thực thi pháp luật cạnh tranh trong tương lai. Cần phải hợp nhất nội dung điều 13 và 15 thành một điều, sự thay đổi cấu trúc của dự thảo luật còn 98 điều vẫn không ảnh hưởng đến việc ban hành luật cạnh tranh.
          Theo phương diện nghiên cứu học thuật pháp lý thì quy định cấm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được dự thảo nêu trong 2 điều luật riêng biệt là điều 13 “Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm” và “Hành vi khác liên quan đến thỏa thuận hạn chế cạnh tranh”tại điều 15 nó không rõ ràng và có sự nhầm lẫn. Mặt khác dưới góc độ xây dựng quy phạm pháp luật của dự thảo thì nó cũng thật sự chưa phù hợp với khoa học, bởi vì nội dung này đều nói lên việc để đảm bảo cạnh tranh bình đẳng trong nền kinh tế thị trường thì các chủ thể không được có hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Điều 13 “Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm” riêng điều 15 tiêu đề là “Hành vi khác liên quan đến thỏa thuận hạn chế cạnh tranh” chúng tôi khẳng định rằng ban biên soạn muốn liệt kê hay diễn tả hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đang quy định tại Khoản 12 điều 12 của dự thảo “Thỏa thuận khác theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật này”chứ không phải ban biên soạn đang xây dựng điều 15 là quy phạm pháp luật cấm đoán. Tuy nhiên trong nội dung của điều 15 lại có 2 khoản riêng biệt thể hiện tinh thần quy phạm pháp luật cấm đoán. Nếu nhóm biên soạn lấy tiêu đề của điều 15 là “Hành vi bị cấm khác liên quan đến thỏa thuận hạn chế cạnh tranh” thì rất phù hợp với nội dung chuyển tải trong 2 khoản của điều này, giá trị của quy phạm sẽ được bảo đảm cao hơn trong quá trình thực hiện pháp luật.
           Nếu như theo quan điểm xây dựng luật cạnh tranh của ban soạn thảo trình Chính phủ “vai trò của Luật cạnh tranh là một bản “Hiến pháp của nền kinh tế thị trường” thì việc cấm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh phân chia thành 2 điều riêng biệt như nói ở trên là không hợp lý, mâu thuẫn với nhau, giảm giá trị của luật. Ban biên soạn chưa tập trung và có tính lan man, nhầm lẫn khó chập nhận. Theo chúng tôi, cần thiết phải hợp nhất 2 điều luật nói trên thành một điều luật hoàn chỉnh “Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm” tại điều 13. Hay nói cách khác cần hợp nhất nội dung điều 15 thành khoản 3 của điều 13 với việc hình thành khoản này thành 2 điển a và b. Như vậy chúng ta dùng biện pháp rút gọn điều khoảng mà không thay đổi nội dung trong kỹ thuật lập pháp để hiệu quả hơn và dễ dàng thực thi trong quá trình áp dụng khi luật được quốc hội thông qua là điều hết sức cần thiết. Cụ thể như sau:
Điều 13. Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm1. Cấm các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 12 Luật này. 2. Cấm các doanh nghiệp thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại các khoản 7, 8, 9, 10, 11 và 12  Điều 12 Luật này gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường.3. Hành vi khác liên quan đến thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm, như sau:a. Vận động, kêu gọi, dụ dỗ, ép buộc hoặc tổ chức cho các doanh nghiệp tham gia vào các thoả thuận bị cấm theo quy định tại Điều 13 Luật này;b. Cung cấp thông tin nhằm hình thành các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định tại khoảng 1 và 2 Điều này.

           Vấn đề thứ hai: Quy định về chính sách khoan hồng trong dự thảo là mâu thuẫn với nội dung quy định của dự thảo và pháp luật khác có liên quan.Theo quan điểm của ban soạn thảo tại tờ tình chính phủ có nêu: “Bổ sung quy định về chương trình khoan hồng để miễn hoặc giảm nhẹ mức độ xử lý đối với doanh nghiệp thực hiện một trong các hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm, theo đó quy định chặt chẽ về đối tượng và điều kiện áp dụng … trên nguyên tắc rõ ràng, minh bạch.”. Nhưng quan điểm này chưa đủ tính thuyết phục, mâu thuẫn và làm giảm tính nghiêm minh của chế tài xử lý vi phạm về cạnh tranh.
Tại khoản 6 điều 8 Luật doanh nghiệp năm 2014 có quy định về nghĩa vụ của doanh nghiệp: “Thực hiện đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ về đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, công khai thông tin về thành lập và hoạt động, báo cáo và các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.”. Nghĩa là khi thành lập doanh nghiệp để hoạt động trong nền kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp có quyền kinh doanh và có nghĩa vụ chấp hành các quy định của pháp luật trong đó có nghĩa vụ báo cáo với cơ quan quản lý có thẩm quyền. Như vậy, khi hoạt động, doanh nghiệp có hành vi vi phạm về cạnh tranh thì bắt buộc phải báo cáo, mặc nhiên doanh nghiệp phải thực hiện, nếu không thực hiện đương nhiên bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp chứ không thể lý giải “Nếu không bổ sung chính sách khoan hồng thì không có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp khai báo về vi phạm, dẫn đến giảm khả năng phát hiện, điều tra và xử lý các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, đặc biệt trong bối cảnh các thỏa thuận ngầm ngày càng trở nên phổ biến” . Mặt khác, các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế phải tuân theo một quy luật chung là tạo cung cầu, nhà quản lý rất dễ dàng để kiểm soát. Dưới góc độ kinh tế thì cung cầu luôn luôn xuất hiện như hình với bóng, họ là doanh nghiệp với doanh nghiệp và với người tiêu dùng, nhà quản lý phải thể hiện rõ chức năng kiểm tra giám sát cung cầu và thông qua đó việc kiểm tra giám sát ngăn chặn các hành vi vi phạm về cạnh tranh mà không phụ thuộc vào việc tự khai báo của doanh nghiệp để hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật.
Tôi hoàn toàn đồng quan điểm với ban soạn thảo ở chỗ: “Kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc… cho thấy, chương trình khoan hồng là một công cụ hữu hiệu nhằm kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh, bởi vì chương trình khoan hồng cho phép miễn hoặc giảm mức phạt đối với một hoặc một số bên tham gia thoả thuận với những điều kiện nhất định đã tạo động cơ, thúc đẩy các doanh nghiệp này tự nguyện khai báo và hợp tác tích cực với cơ quan cạnh tranh trong quá trình điều tra vụ việc”  Nhưng ở nước họ phần lớn là những tập đoàn, tổ chức kinh tế có quy mô lớn về vốn và sử dụng người lao động. Trong khi đó ở nước ta theo báo cáo của Chính phủ tính đến nay có 95% doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp nhỏ và vừa này đóng góp trách xã hội rất ít không đáng kể để bảo vệ người tiêu dùng khi họ có hành vi vi phạm về pháp luật cạnh tranh như các nước đã nêu trên. 
Nhìn nhận dưới góc độ khoa học, khi các cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh không đơn thuần là những lý do khách quan hay lỗi vô ý mà có thể thấy hoàn toàn thuộc về lỗi cố ý có chủ đích mà thôi. Nếu ta quy định về chương trình khoan hồng thì vô hình trung khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân cứ phạm lỗi sau đó tự khai báo để được khoan hồng. Ngoài ra nếu quy định như vậy thì rõ ràng pháp luật cạnh tranh chưa bảo vệ triệt để người tiêu dùng. Thực tế, người tiêu dùng luôn luôn bị thiệt thòi, chính hành vi vi phạm cạnh tranh của doanh nghiệp làm tổn thương đến họ nhất là sử dụng các sản phẩm hàng hóa dịch vụ của các doanh nghiệp có hành vi vi phạm cạnh tranh một cách cố ý. Nếu ủng hộ tính khoan hồng thì tính nghiêm minh của pháp luật sẽ bị giảm trong lòng công chúng. Tôi đồng quan đểm với ban soạn thảo trong việc bảo vệ người tiêu dùng, vì thế cho nên tôi không đồng quan điểm xây dựng chính sách khoan hồng trong cạnh tranh quy định tại điều 17 trong dự thảo luật cạnh tranh sửa đổi.
Kiến nghị: Bỏ nội dung chính sách khoan hồng quy định tại điều 17 của dự thảo luật cạnh tranh sửa đổi. 
          Vấn đề thứ ba: “Lôi kéo khách hàng bất chính” chưa chính xác và thiếu tính thuyết phụcTại điều 40, quy định “Lôi kéo khách hàng bất chính là việc đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về doanh nghiệp hoặc sản phẩm, dịch vụ, điều kiện giao dịch liên quan đến sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp nhằm thu hút khách hàng của doanh nghiệp khác”. Dưới khoa học pháp lý, đơn thuần đây là một quy phạm pháp luật giải thích làm rõ khái niệm như thế nào là hành vi lôi kéo khách hàng bất chính trong quá trình tham gia hoạt động kinh doanh của mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường của nước ta. 
Tuy nhiên, chúng ta nên xem xét lại cụm từ này, bản chất của việc lôi kéo khách hàng mặc định đã là trái đạo đức thông thường rồi chứ không cần đến việc bất chính mới đưa vào luật để làm quy tắc xử sự chung trong xã hội. Câu hỏi đặt ra là có hành vi nào lôi kéo khách hàng không bất chính quy định trong pháp luật của Việt Nam mà mọi chủ thể được phép thực hiện không? 
Chắc chắn là không, bởi vì, tự do cạnh tranh không được hiểu là được sử dụng mọi biện pháp hoặc thực hiện mọi hành vi để lôi kéo khách hàng. Khi đã có hành vi lôi kéo khách hàng của đối phương thì hậu quả bất lợi chắc chắn sẽ xẩy ra, mà hậu quả gây thiệt hại đó chính là lỗi cố ý của người lôi kéo. Bản chất của “”lôi kéo” đã xuất hiện sự bất chính rồi, tức là yếu tố lỗi của chủ thể và hậu quả pháp lý của hành vi nó đã cấu thành bởi vậy tại sao cần thiết phải gọi là “Lôi kéo khách hàng bất chính”?.  Để bảo vệ quyền tự do cạnh tranh quy định tại khoản 2 điều 4 của dự thảo luật “Hoạt động cạnh tranh phải được tiến hành theo nguyên tắc trung thực, công bằng và lành mạnh, không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác, của người tiêu dùng và phải tuân theo các quy định của Luật này.”, Chúng tôi kiến nghị: Nên sử dụng “Lôi kéo khách hàng” chứ không sử dụng cụm từ “Lôi kéo khách hàng bất chính” để khoa học và logic hơn trong quy định của pháp luật về vấn đề này.
Về khái niệm chưa thể hiện rõ được hậu quả của hành vi cần loại trừ trong cạnh tranh đối với các đối thủ cạnh tranh “đưa thông tin gian dối”  hoặc  “gây nhầm lẫn cho khách hàng về doanh nghiệp hoặc sản phẩm, dịch vụ, điều kiện giao dịch liên quan đến sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp nhằm thu hút khách hàng của doanh nghiệp khác”. Thực chất khi lôi kéo khách hàng thì các chủ thể đều hành động có chủ ý, mục đích đặt ra rất rõ ràng họ mới hành động đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn,,, để thu hút một lượng khách hàng về với doanh nghiệp của mình. Như vậy, hành vi đó có lợi cho ai và gây hại cho ai thì các nhà làm luật không thấy đề cập đến trong khái niệm này. Nếu không đề cập vấn đề này thì khái niệm lôi kéo khách hàng trong cạnh tranh chưa bảo đảm phân định và loại trừ cái xấu trong cạnh tranh của nền kinh tế thị trường ở nước ta. 
Trên cơ sở đó, chúng tôi đề nghị bổ sung cụm từ “để có lợi cho mình và làm tổn hại đến hoạt động của doanh nghiệp khác” vào khái niệm nêu trên của dự thảo. Cụ thể như sau: “Lôi kéo khách hàng là việc đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về doanh nghiệp hoặc sản phẩm, dịch vụ, điều kiện giao dịch liên quan đến sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp nhằm thu hút khách hàng của doanh nghiệp khác để có lợi cho mình và làm tổn hại đến hoạt động của doanh nghiệp khác”

           Vấn đề Thứ tư: “Người làm chứng” quy định tại điều 58 của dự thảo luật chưa khoa học và khó thực thi áp dụng một cách thống nhất trong tương lai: 
Một là: Tại khoản 1 quy định: “ Người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ việc cạnh tranh có thể được Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh triệu tập tham gia tố tụng cạnh tranh với tư cách là người làm chứng. Người mất năng lực hành vi dân sự không thể là người làm chứng”, Không nên sử dụng cụm từ “có thể” Bởi vì người làm chứng trong cạnh tranh là những người tham gia tố tụng cạnh tranh được thừa nhận trong điều 54 của luật này, nếu ta sử dụng cụm từ có thể thì nó rất mâu thuẫn với nội dung nói tại điều luật nói trên. Mặt khác, khi sử dụng cụm từ có thể là thể hiện sự tùy nghi trong tình huống, bối cảnh nào đó nhưng trong tố tụng cạnh tranh mà cụ thể là người có liên quan đến vụ việc một cách chắc chắn thì mới làm chứng, hay nói cách khác khi họ là người làm chứng thì không thể tùy nghi được, nó sẽ giảm tính hiệu lực của vấn đề cần giải quyết của vụ việc và vô hình trung pháp luật tạo kẽ hở bất lợi trong giải quyết xử lý vụ việc cạnh tranh, nhất là việc “Tôi thích thì tôi gọi người đó làm chứng không thích tôi không gọi” bởi vì luật quy định có thể mà sao bắt buộc tôi, chắc chắn rất khó thực thi trong quá trình áp dụng luật.
Hai là: Người làm chứng Điều 58 của dự thảo chưa lường hết được những tình huống có thể xẩy ra trong đời sống xã hội của quá trình làm chứng cho vụ việc cạnh tranh. Trong quá trình vụ việc cạnh tranh đang diễn ra, trường hợp người làm chứng  bị hạn chế năng lực hành vi dân sự do tâm thần, do tai nạn dẫn đến tàn phế hay không kiểm soát được hành vi (người mất năng lực hành vi dân sự trong quá trình đang làm chứng). Những người đang làm chứng bị chết do nhiều nguyên nhân khác nhau thì sự việc giải quyết về cạnh tranh sẽ như thế nào? Vụ việc đó sẽ rất rất khó khăn để kết luận, người làm chứng trong tình huống này có thừa nhận là có hiệu lực nữa hay không, điều 58 chưa đề cập đến. Như vậy câu hỏi chưa có lời giải, cần xem xét bổ sung để phù hợp trong thực tiễn áp dụng của luật này trong tương lai.
Chúng tôi kiến nghị, bỏ cụm từ “có thể ” quy định trong khoản 1 điều 58 của dự thảo luật để thống nhất trong cách hiểu luật. Bổ sung quy định xác định người đang làm chứng có thể trở thành người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự của mình, người bị chết khi đang làm chứng thì giải quyết như thế nào để làm cơ sở áp dụng khi xử lý các vụ việc cạnh tranh trong thực tiễn thi hành, tránh trường hợp luật này vừa ban hành đã phải sửa vì thiếu sót khó áp dụng từ trung ương đến địa phương.

         Vấn đề thứ năm: “Quyết định việc thay đổi người giám định, người phiên dịch” thiếu căn cứ, không thuyết phục, tạo kẽ hở tùy tiện của quy định có thể làm cản trở nghiêm trọng trong quá trình tham gia tố tụng cạnh tranh.
         Tại điều 63 của dự thảo quy định về Quyết định việc thay đổi người giám định, người phiên dịch, như sau: 1. Trước khi mở phiên điều trần, việc thay đổi người giám định, người phiên dịch do Ủy ban cạnh tranh Quốc gia quyết định.2. Tại phiên điều trần, việc thay đổi người giám định, người phiên dịch do Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi và những người tham gia tố tụng cạnh tranh khác.
Trường hợp phải thay đổi người giám định, người phiên dịch thì Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh ra quyết định hoãn phiên điều trần. Việc trưng cầu người giám định khác hoặc cử người phiên dịch khác được thực hiện theo quy định tại Điều 59 và Điều 60 Luật này.
Như vậy nội dung điều luật này Ban biên soạn có mục đích chỉ trao quyền tối thượng cho 2 cơ quan được phép thay đổi người giám định, người phiên dịch đó là Ủy ban cạnh tranh Quốc gia và Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh. Có thể nói hai cơ quan này quyền năng rất lớn và quyền năng này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tố tụng cạnh tranh diễn ra trong thực tế thi hành luật này. Thực chất, việc thay đổi một vấn đề nào đó trong đời sống xã hội luôn luôn xẩy ra và có thể coi đó là chuyện bình thường, tuy nhiên tính bất cập trong quy định này là ở chỗ:
Một là: Thiếu căn cứ để thay đổi mà lại thay đổi, hay nói cách khác không có căn cứ mà đương nhiên vẫn bị thay đổi
Hai là: Việc thay đổi thiếu căn cứ này sẽ khó lường trước được hậu quả trong thực tiễn thi hành khi ý chí hoàn toàn thuộc về người có quyền lực là 2 cơ quan nêu trên.
Nhìn nhận theo logic của vấn đề thì nội dung quy định tại điều 54 của dự thảo thừa nhận “Người giám định” và “Người phiên dịch” là người tham gia tố tụng cạnh tranh. Nghĩa là họ đã hội tụ đủ các tiêu chí quy định tại điều 59 và điều 60 của dự thảo. Câu hỏi đặt ra là Tại sao phải thay đổi những người này? muốn thay đổi họ thì cần thiết phải có căn cứ thuyết phục để thay đổi. Nếu không cần căn cứ thì vô hình trung pháp luật tạo kẽ hở cho các cơ quan có thẩm quyền này thay đổi liên tục người phiên dịch và người giám định theo ý chí của người có quyền dể có lợi cho bên này mà bất lợi cho bên kia gây ảnh hưởng lớn đến tố tụng cạnh tranh và làm cho môi trường cạnh tranh bất ổn trong nền kinh tế thị trường ngày một gia tăng. Mặt khác, sẽ không khuyến khích hết khả năng của người phiên dịch và người giám định tham gia tố tụng cạnh tranh một cách tự nguyện trung thực và bình đẳng trong tương lai. Làm méo mó hình ảnh của cơ quan quản lý cạnh tranh mà nhà nước là đại diện nếu như họ muốn thay đổi người phiêm dịch và người giám định một cách vô tội vạ trong quá trình tố tụng cạnh tranh. Như vậy, quy định này rất mâu thuẫn với chủ trương đường lối, chính sách của đảng ta về cạnh tranh mà Ban soạn thảo trình Chính phủ: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nâng cao hiệu lực, hiệu quả, kỷ luật, kỷ cương, công khai, minh bạch trong quản lý kinh tế, năng lực quản lý của Nhà nước và năng lực quản trị doanh nghiệp”.
Chúng tôi kiến nghị: Cần thiết phải bổ sung một điều luật trong dự thảo quy định rõ căn cứ để “Quyết định việc thay đổi người giám định, người phiên dịch” thì tính đồng thuận, tin tưởng cao hơn trong quá trình tham gia tố tụng của các bên cũng như ngăn chặn triệt để những tiêu cực làm trong sạch môi trường cạnh tranh. Chắc chắn việc phòng chống ngăn ngừa tham nhũng trong lĩnh vực Tố tụng cạnh tranh rất hiệu quả khi được bổ sung điều luật nêu trên vào dự thảo sửa đổi lần này
Ngoài ra, cũng kiến nghị bổ sung căn cứ làm thay đổi người tiến hành tố tụng cạnh tranh do Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh quyết định, quy định tại Điều 71 của dự thảo để thuyết phục và khoa học hơn trong quá trình áp dụng luật cạnh tranh.

Vấn đề thứ sáu: Cần bổ sung hành vi định giá trong quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của dự thảo để bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường cạnh tranh bình đẳng của các chủ thể kinh doanh hoạt động thương mại trong nền kinh tế thị trường. 
Trong luật cạnh tranh năm 2004 và dự thảo luật cạnh tranh sửa đổi lần này cũng thiếu vắng quy định hành vi định giá của doanh nghiệp trong quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Thực tế cho thấy, hiện nay người tiêu dùng luôn bị thiệt hại từ việc trong cùng một thời điểm doanh nghiệp sử dụng nhiều mức giá khác nhau so với giá ban đầu doanh nghiệp đã quảng cáo. Ví dụ khi người tiêu dùng vào siêu thị mua hàng, bảng giá loại hàng rau củ quả trên bày hàng là 12.000 đồng kg nhưng đến lúc người tiêu dùng ra quày thu ngân của siêu thị thì giá tính tiền ghi trên phiếu tính tiền là 13.500 đồng/kg. Người tiêu dùng phát hiện ra thì bộ phận bán hàng của siêu thị được gọi tới và xin lỗi khách hàng, có siêu thị đưa lại bảng giá treo ở quày hàng giá khác ban đầu người tiêu dùng đã tận mắt nhìn thấy là 12.000 đồng. Như vậy lợi dụng kẽ hở của pháp luật các doanh nghiệp đã trục lợi của khách hàng đến hàng chục tỷ đồng trở lên, khách hàng luôn bị ăn cắp tiền vô tội vạ mà không được pháp luật bảo vệ cũng như doanh nghiệp có hành vi vi phạm như đã nói trên vẫn bình yên không bị xử lý.
Theo kinh nghiệm về pháp luật cạnh tranh không lành mạnh của Liên bang Úc (Australia), hành vi định giá của doanh nghiệp được thừa nhận trong Bộ luật cạnh tranh và người tiêu dùng năm 2010, như sau: “Hành vi định giá là hành vi định nhiều mức giá khác nhau nhằm thu lợi bất chính và gây thiệt hại cho người tiêu dùng”. Quy định này cũng cấm không được cung cấp hàng hóa có nhiều hơn một mức giá quảng cáo và mức giá hiện cung cấp không phải là mức giá quảng cáo thấp hơn hoặc thấp nhất. Ngoài ra có quy định hành vi ấn định đơn giá trong trường hợp nhất định: cấm các hành vi tạo chỉ dẫn có liên quan đến một số lượng hàng hóa nhất định nếu hàng hóa này được trả tiền sẽ tạo thành một phần tiền bồi thường cho nguồn cung hàng hóa, dịch vụ trừ khi người bán hàng cũng cụ thể hóa đơn giá của hàng hóa hay dịch vụ bằng một cách gây chú ý và bằng một con số duy nhất nào đó .
Trong thời gian qua, các doanh nghiệp, cá nhân làm đại lý bán vé máy bay của nước ta đã sử dụng ấn định nhiều giá vé bay nội địa khác nhau, và đặc biệt là trong cùng một thời điểm (1 tiếng đồng hồ) các đại lý đều đưa ra các giá khác nhau theo ý chỉ độc quyền của họ làm khó người tiêu dùng và tất nhiên người tiêu dùng không có quyền lựa chọn nào khác vẫn phải chấp nhận sự định giá (chết) đó của hãng độc quyền.
            Năm 2009 trên tờ báo Dân trí có bài viết “Thủ đoạn ấn định giá của các công ty Dược”, Thuốc trước khi nhập khẩu vào Việt Nam đã được nhà phân phối, công ty môi giới cấu kết với văn phòng đại diện của các công ty nước ngoài “ấn định giá”. Các công ty nước ngoài cũng quyết luôn giá, có khi giá thuốc được nâng cao hơn giá gốc đến 200-300%. Thế nhưng vẫn không có cơ sở pháp lý nào để xử lý, các doanh nghiệp vẫn ngang nhiên hoạt động, người tiêu dùng phải gánh nặng loạt giá cao ngất ngưởng mà không có sự lựa chọn nào khác. 
Dưới tác động của nền kinh tế thị trường các dạng giao dịch bởi cung và cầu luôn luôn xuất hiện, tồn tạiphát triển và cạnh tranh rất khốc liệt, nếu pháp luật canh tranh không quy định hành vi định giá vào hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì khó có cơ sở áp dụng điều chỉnh chung từ trung ương đến địa phương nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Như vậy môi trường cạnh tranh của nước ta vẫn chưa bảo đảm, việc bảo vệ người tiêu dùng (quyền của con người) vẫn chỉ là lý thuyết mà thôi. 
Chúng tôi kiến nghị: Cần thiết bổ sung quy định hành vi định giá trong quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của dự thảo để bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường cạnh tranh bình đẳng của các chủ thể kinh doanh hoạt động thương mại trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng XHCN ở nước ta. Đây chính là biện pháp quan trọng nhằm ngăn chặn hành vi ấn định giá đã và đang diễn ra như hiện nay.

Tóm lai: Để dự thảo luật cạnh tranh sửa đổi có chất lượng, không vi phạm tính hợp lý của kinh tế thị trường cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đặc biệt là doanh nghiệp và người tiêu dùng, cần thiết phải bàn bạc trao đổi thẳng thắn tại các diễn đàn hội thảo khác nhau. Việc Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam phối hợp với Bộ Công Thương tổ chức hội thảo góp ý kiến vào dự thảo luật cạnh tranh sửa đổi lần này đóng một vai trò rất tích cực và quan trọng, làm cơ sở tốt nhất để cơ quan có thẩm quyền trình Quốc hội. Cũng tại Hội thảo này hy vọng với cách nhìn của người nghiên cứu, chúng tôi mong muốn đóng góp phần nhỏ bé để tạo sự đồng thuận cao trong quá trình lấy ý kiến góp ý hoàn thiện văn bản luật này nhằm điều chỉnh quan hệ cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh hoạt động thương mại trong nền kinh tế thị trường đang phát triển ở nước ta có hiệu quả và bền vững.

Thành viên đang xem chủ đề này