Tranh chấp hợp đồng vận chuyển Container

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TÒA PHÚC THẨM TẠI HÀ NỘI

------------------

Bản án số: 171/2006/KT-PT

Ngày 06/9/2006

V/v tranh chấp Hợp đồng vận chuyển Container.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------------------------HA.7

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Phượng;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đạt Tôn;

Ông Nguyễn Xuân Khôi.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuyên, cán bộ Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

Ngày 06 tháng 9 năm 2006 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh tế thụ lý số 23/2006/KTPT ngày 06 tháng 6 năm 2006 về việc tranh chấp hợp đồng đại lý theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2386/2006/QĐPT ngày 22 tháng 8 năm 2006.

* Nguyên đơn: Công ty TTC TRANS COMBI CORGO LOGISTICS GMBH;

Trụ sở: ANFDERHOHEN SCHA 321107 HAMBURG Cộng hòa liên bang Đức;

* Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

Ông Phạm Đức Thắng – theo giấy ủy quyền ngày 21/3/2005 của Trưởng văn phòng Luật sư Trần Hữu Nam và cộng sự ủy quyền lại theo giấy ủy quyền ngày 17/11/2004 của Giám đốc Công ty TCC.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Phan Việt Dũng – Văn phòng luật sư Trần Hữu Nam và cộng sự.

Bị đơn: Công ty PHILIP ORIENT LINES Việt Nam;

Trụ sở: số 153 Nguyễn Tất Thành, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh;

Chi nhánh Hà Nội: 99 Lê Duẩn, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội;

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: bà Lê Thị Hinh – Giám đốc chi nhánh Hà Nội theo ủy quyền số 05/04/GUQ ngày 04/4/2006 của Tổng giám đốc Dương Văn Ấn.

NHẬN THẤY

Theo bản án sơ thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo đơn khởi kiện của đại diện nguyên đơn thì: Công ty PHILIP ORIENT LINES Việt Nam (gọi tắt là Công ty Phili) do ông JOHNNY CHEW khi đó là Giám đốc điều hành chi nhánh tại Hà Nội đã ký vận đơn yêu cầu Công ty TCC TRANS COMBI CORGO LOGISTICS GMBH (gọi tắt là Công ty TCC) vận chuyển Container từ thành phố Hồ Chí Minh đến Praha. Sau khi chuyển số hàng theo vận đơn số 310A và 311A tới địa điểm Công ty TCC đã gửi hai hóa đơn số: 200200351 và 200200353 ngày 30/9/2002 yêu cầu Công ty Phili thanh toán chi phí vận chuyển là 6.502,60USD nhưng Công ty Phili mới trả được 1000USD nên ngày 21/3/2005 Công ty TCC làm đơn khởi kiện đến tòa buộc Công ty Phili thanh toán các khoản tiền sau:

- Nợ gốc: 5.502,60USD;

- Lãi chậm trả 8%/năm từ 1/3/2004;

- Các chi phí khác liên quan đến vụ án như phí giao dịch, phí luật sư;

Tại phiên tòa đại diện cho nguyên đơn xác định Container được vận chuyển bằng đường bộ từ Hamburg đi Anh Quốc chứ không phải đi Praha.

Đại diện bị đơn trình bày:

Công ty TCC kiện đòi Công ty Phili các khoản tiền trên là không đúng vì Công ty Phili đã trả đủ cước cho hai vận đơn số 310A và 311A ngày 22/8/2002 cho hãng vận tải Hanchi và ở hai vận đơn này không thể hiện được hàng sẽ được tiếp đến đâu ngoài quãng đường từ thành phố Hồ Chí Minh-Hamburg như Công ty TCC khai.

Còn ông Johnny Chew đã thôi việc tại Công ty từ 01/9/2002. Trước đó ông là Giám đốc chi nhánh tại Hà Nội. Đồng thời theo đơn khởi kiện thể hiện ông Chew đã trả 1000USD cho TCC với danh nghĩa cá nhân. Vì vậy Công ty Phili không đồng ý trả các khoản tiền này theo yêu cầu của Công ty TCC.

Tại bản án số 38/2006/KDTMST ngày 26/4/2006, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

Áp dụng ĐIều 233 và 234 Luật Thương mại;

Điều 131 và 243 Bộ luật tố tụng dân sự;

Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ quy định về án phí; xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty TCC TRANSCOMBI CORGO LOGISTICS GMBH đòi Công ty PHILIP ORIENT LINES Việt Nam trả phí vận chuyển Container theo 2 vận đơn ngày 2/8/2003 ghi số:

1. POLHAN/HCM-HAM/02-310A

2. POLHAN/HCM-HAM/02-311A

Theo 2 hóa đơn ngày 30/9/2002 ghi số:

1. 200200351

2. 200200353

Là : 5.502,60USD = 87.491.340 đồng Việt Nam (1USD = 15.900 đồng);

- Lãi chậm trả: 12.000.000 đồng Việt Nam

- Phí giao dịch và phí luật sư: 15.000.000 đồng Việt Nam

- Tổng cộng: 116.491.340 đồng Việt Nam

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 10/5/2006 đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Hữu Nam có đơn kháng cáo không nhất trí bản án sơ thẩm.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo ủy quyền của Công ty TCC vẫn đề nghi Công ty Phili thanh toán số tiền vận chuyển Container chè theo hai vận đơn 310A và 311A với đoạn đường bộ từ Hamburg đi Anh Quốc số tiền 5.502,60USD lãi theo quy định của Ngân hàng ngoại thương, rút yêu cầu về khoản chi phí giao dịch và phí luật sư.

Đại diện Công ty Phili không nhất trí trả số tiền trên vì Công ty chỉ dịch vụ chuyển hàng Container chè từ thành phố Hồ Chí Minh đến Hamburg bằng đường biển đối với hai vận đơn trên, ông Johnny Chew đã bị buộc thôi việc từ 01/9/2002, nếu ông có ký vận chuyển tiếp Container bằng đường bộ thì cá nhân ông Johnny Chew phải chịu trách nhiệm nguyên đơn đã có nhiều thư từ liên lạc với ông Johnny Chew.

Luật sư bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị chập nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trên cơ sở hợp đồng khung tại bản Fax ngày 11/7/2002 và bản E-mail mà ông Johnny Chew đã gửi ngày 11/9/2002 về việc chuyển tiếp Container hàng đi Anh quốc. Thư ngày 30/3/2206 ông Johnny Chew thừa nhận và đã trả 1000USD.

Xét thấy Công ty TCC đòi Công ty Phili phí vận chuyển Container chè theo 2 vận đơn số 310A và 311A ngày 22/8/2002 với 2 hóa đơn số 200200351 và 200200353 ngày 30/9/2002 số tiền 6.502,6USD. Đại diện của công ty xác nhận ông Johnny Chew đã trả 1000USD vào ngày 15/2/2004 còn lại 5.502,60USD. Nhưng xét thấy tại vận đơn chỉ thể hiện việc vận chuyển Container chè từ thành phố Hồ Chí Minh đi Hamburg do hãng vận chuyển Hanchi vận chuyển bằng đường biển còn từ Hamburg hàng được vận chuyển đi đâu thì không thể hiện. Giữa Công ty TCC và Công ty Phili không thể hiện có hợp đồng, hay một sự thỏa thuận nào về quãng đường vận chuyển cũng như cước phí là bao nhiêu đối với 2 vận đơn trên. Tại đơn khởi kiện thì Công ty TCC xác định vận chuyển Container đi Praha sau đó thay đổi là vận chuyển đi Anh Quốc như các chuyến hàng trước đó. Việc vận chuyển Container từ thành phố Hồ Chí Minh đi Hamburg thì Công ty Phili đã có hóa đơn thuế giá trị gia tăng thanh toánn xong với Công ty đại lý liên hiệp vận chuyển với số tiền 4.320USD. Đồng thời Công ty Phili đã nhận khoản tiền phí vận chuyển từ Công ty HANALE (chủ hàng) theo 2 vận đơn trên số tiền là 4.720USD (BL 21,24).

Tại phiên tòa đại diện Công ty Phili xuất trình bản gốc các hóa đơn nói trên. Hội đồng xét xử xét thấy tài liệu mà nguyên đơn xuất trình cho rằng thư ngày 11/7/2002 (BL 99) của ông Johnny Chew là hợp đồng khung đối với cả 2 vận đơn trên là chưa đủ căn cứ để chấp nhận.

Về thư ngày 11/9/2002 (BL 97) mà nguyên đơn cho rằng ông Johnny Chew yêu cầu Công ty TCC vận chuyển tiếp Container bằng đường bộ thì xét thấy ông Johnny Chew bị buộc thôi việc từ 01/9/2002, tại văn bản này (BL 25) thể hiện quyết định thôi việc có hiệu lực ngay. Mặt khác thực tế nguyên đơn xuất trình tài liệu thư của ông Johnny Chew ngày 03/3/2006 và nội dung thư xác định đây là nợ cá nhân. Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn cũng thừa nhận đã nhận 1000USD của ông Johnny Chew vào ngày 15/02/2004. Tuy nhiên theo thư ngày 03/3/2006 (BL 27,29) thì ông Johnny Chew xác định vận chuyển hàng Container đi Praha và là nợ của cá nhân ông.

Từ nhận định trên thì không đủ căn cứ để chấp nhận kháng cáo của Công ty TCC. Tòa án cấp sơ thẩm đã bác đơn khởi kiện của nguyên đơn kiện đòi tiền phí vận chuyển đối với Công ty Phili với 2 hóa đơn, vận đơn nêu trên là đúng pháp luật, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm và án phí kinh tế sơ thẩm. Bởi các lẽ trên, áp dụng khoản 1 điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự;

Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ quy định về án phí.

QUYẾT ĐỊNH:

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xử bác yêu cầu khởi kiện của Công ty TCCTRANSCOMBI CORGO LOGICSTIC GMBH đòi Công ty PHILIP ORIANT LINES Việt Nam trả phí vận chuyển Container theo 2 vận đơn ngày 22/8/2002 ghi số:

1. POLHAN/HCM-HAM/02-310A

2. POLHAN/HCM-HAM/02-311A

Theo 2 hóa đơn ngày 30/9/2002 ghi số 200200351 và 200200353 số tiền 5.502,60USD = 87.491.340 đồng Việt Nam; lãi chậm trả 12.000.000 đồng Việt Nam và phí giao dịch, phí luật sư 15.000.000 đồng Việt Nam tổng cộng 114.491.340 đồng Việt Nam.

Công ty TCC TRANS COMBI COGOR LOGISTICS GMBH phải nộp tiền án phí kinh tế sơ thẩm là 5.560.000 đồng Việt Nam.

Xác nhận Công ty TCC đã nộp 2.000.000 đồng Việt Nam tiền dự phí kinh tế sơ thẩm theo biên lai số N0 ngày 25/01/2006 tại Phòng thi hành án thành phố Hà Nội được khấu trừ, còn phải nộp 3.560.000 đồng Việt Nam.

Án phí kinh tế phúc thẩm Công ty TCC TRANS COMBI CORGO LOGISTICS GMBH phải nộp 200.000 đồng Việt Nam, được trừ vào dự phí nộp tại biên lai thu tiền số N0 007737 ngày 11/5/2006 của Phòng thi hành án thành phố Hà Nội.

Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


Nơi nhận:

- TAND thành phố Hà Nội

- VKSND thành phố Hà Nội

- Nguyên đơn (theo đ/c)

- Bị đơn (theo đ/c)

- VKSNDTS (VPT 1)

- TANDTC (Tòa KT)

- Lưu hồ sơ vụ án

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Phượng

(Đã ký)


Tin mới cập nhật