VCCI góp ý Dự thảo nghị định quy định chi tiết thi hành Luật giá về thẩm định giá

 PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ

CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


Số:  2556  /PTM-PC

Vv: góp ý Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật giá về thẩm định giá

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


                          Hà Nội, ngày  22    tháng 10 năm 2012

Kính gửi:  CỤC QUẢN LÝ GIÁ

       BỘ TÀI CHÍNH

Trả lời Công văn số 13037/BTC-QLG của Bộ Tài chính về việc đề nghị góp ý Dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật giá về thẩm định giá (sau đây gọi tắt là Dự thảo Nghị định), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trên cơ sở góp của doanh nghiệp, có một số ý kiến như sau:

I.                   Về quan điểm tiếp cận

Luật giá được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 20/06/2012 và có hiệu lực ngày 01/01/2013. Dự thảo Nghị định này được soạn thảo nhằm quy định chi tiết thi hành Luật giá về thẩm định giá, bên cạnh Dự thảo Nghị định về hướng dẫn chi tiết thi hành Luật giá để đảm bảo các quy định của Luật giá được thực thi tại thời điểm có hiệu lực. VCCI đồng tình với sự cần thiết soạn thảo và ban hành Dự thảo Nghị định này. Bên cạnh những nguyên tắc thể hiện tại mục II Tờ trình, Dự thảo Nghị định này cần đảm bảo nguyên tắc về:

-         Tính hợp lý (các quy định tại Dự thảo Nghị định phải phù hợp với thực tế tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp; không phân biệt đối xử giữa các đối tượng khi tham gia vào hoạt động thẩm định giá).

-         Tính minh bạch (các quy định phải đủ chi tiết rõ ràng, tạo cách hiểu thống nhất giữa các đối tượng áp dụng)

-         Tính thống nhất (các quy định phải đảm bảo thống nhất với các quy định trong Dự thảo Nghị định và không mâu thuẫn với các văn bản pháp luật có liên quan)

Trên tinh thần các nguyên tắc trên, VCCI có một số ý kiến góp ý cụ thể đề nghị Ban soạn thảo xem xét để hoàn thiện Dự thảo Nghị định.

II.               Một số góp ý cụ thể

1.      Một số quy định của Dự thảo Nghị định chưa đảm bảo tính hợp lý

-         Về Thẻ thẩm định viên về giá (Điều 6)

Dự thảo Nghị định hiện quy định muốn được cấp Thẻ thẩm định viên về giá, bên cạnh việc đáp ứng các điều kiện theo quy định thì phải trải qua kỳ thi cấp Thẻ thẩm định viên về giá do Bộ Tài chính tổ chức. Đối với đối tượng là công chức đang làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước về giá ở trung ương và cấp tỉnh được cấp Thẻ thẩm định viên về giá, bên cạnh việc đáp ứng các điều kiện theo quy định thì phải “đạt kết quả kì thi sát hạch do Bộ Tài chính tổ chức theo quy định”. Về sự khác nhau trong việc cấp thẻ thẩm định viên của hai đối tượng này, đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc, xem xét các vấn đề sau:

+ Chất lượng của đội ngũ thẩm định viên về giá: Thực tế, muốn trở thành thẩm định viên về giá, ngoài các tiêu chuẩn theo quy định còn phải trải qua kỳ thi quốc gia với 08 môn thi bắt buộc. Đây là kỳ thi đòi hỏi người tham gia phải am hiểu nghề nghiệp, có trình độ kỹ năng nhất định về chuyên môn mới có thể đáp ứng được yêu cầu. Do vậy, kỳ thi có ý nghĩa trong việc sàng lọc đội ngũ người làm nghề và nâng cao trình độ đội ngũ, qua đó đảm bảo chất lượng hoạt động của dịch vụ thẩm định giá tại Việt Nam. Nếu cấp thẻ thẩm định viên về giá cho đôi ngũ công chức có một thời gian làm quản lý nhà nước về giá/ thẩm định giá mà không phải trải qua kỳ thi quốc gia nêu trên, một số doanh nghiệp băn khoăn, liệu có đảm bảo được chất lượng đội ngũ thẩm định viên?

+ Về sự bình đẳng của các đối tượng được cấp thẻ thẩm định viên về giá: “Kỳ thi cấp Thẻ thẩm định viên về giá do Bộ Tài chính cấp” và “kỳ thi sát hạch do Bộ Tài chính tổ chức” có phải là hai kỳ thi khác nhau không? Nếu là hai kỳ thi khác biệt thì việc tổ chức thêm kỳ thi sát hạch dành riêng cho công chức là chưa hợp lý, bởi vì sẽ tạo ra sự bất bình đẳng, phân biệt đối xử giữa các đối tượng cùng hoạt động trong một lĩnh vực trong khi, công việc của các đối tượng này là như nhau. Hơn nữa, việc tổ chức kỳ thi sát hạch khác với kỳ thi cấp Thẻ thẩm định viên về giá có thể tạo sự gia tăng chi phí một cách không cần thiết trong khi có thể sử dụng một kỳ thi áp dụng cho mọi đối tượng.

Do vậy, đề nghị Ban soạn thảo xem xét quy định vấn đề trên theo hướng các công chức muốn được cấp thẻ thẩm định viên về giá cũng phải trải qua kỳ thi giống như những đối tượng khác.

-        Về giá dịch vụ thẩm định giá (Điều 11)

Khoản 5 Điều 11 Dự thảo Nghị định quy định “cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thẩm định giá tài sản nhà nước không thu tiền dịch vụ thẩm định giá. Chi phí phục vụ cho việc thẩm định giá tài sản nhà nước của cơ quan được giao nhiệm vụ thẩm định giá được trang trải bằng ngân sách nhà nước; trường hợp thẩm định giá khi mua sắm, bán, thanh lý tài sản nhà nước thì chi phí phục vụ cho việc thẩm định giá thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, pháp luật về đấu thầu và pháp luật khác có liên quan”. Đề nghị Ban soạn thảo xem xét tính hợp lý của quy định trên như sau:

+ Tác động của quy định này tới hoạt động của các doanh nghiệp thẩm định giá: Theo phản ánh của một số doanh nghiệp thì, hiện nay đối tượng thẩm định giá tại các doanh nghiệp thẩm định giá là tài sản nhà nước chiếm khoảng 75% khối lượng công việc. Nếu cơ quan nhà nước thực hiện thẩm định giá các tài sản này không thu tiền dịch vụ thì phần lớn khách hàng có nhu cầu thẩm định giá sẽ lựa chọn thẩm định giá tại cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp thẩm định giá sẽ mất một lượng lớn khách hàng và thiệt hại đáng kể trong hoạt động kinh doanh.                                                                                                                                                                                                                                              

+ Tính khách quan khi cơ quan quản lý nhà nước thực hiện thẩm định giá các tài sản nhà nước: Thẩm định giá là hoạt động dịch vụ tư vấn, doanh nghiệp có thể thực hiện tốt theo nhu cầu của xã hội. Liệu Nhà nước thực hiện thẩm định giá có can thiệp sâu vào thị trường? Hơn nữa, việc cơ quan nhà nước thực hiện thẩm định giá cụ thể đối với các tài sản nhà nước sẽ có thể gây ra tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi” và không đảm bảo tính khách quan, độc lập – một trong những nguyên tắc cơ bản của Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam.

+ Về gánh nặng ngân sách: để thực hiện thẩm định giá, các doanh nghiệp phải chịu các chi phí như: công tác phí; chi phí tàu, xe; tiền lưu trú khách sạn … của các thẩm định viên đi thực tế để phục vụ cho công tác chuyên môn; chi phí mua thông tin hoặc trả cho cộng tác viên là chuyên gia kinh tế - kỹ thuật; chi phí mua phần mềm, .. Theo phản ánh của một số doanh nghiệp thẩm định giá thì hàng năm doanh nghiệp phải chi một khoản tiền lớn để trang trải các chi phí này. Nếu các chi phí phục vụ công tác thẩm định giá tài sản nhà nước được trang trải bằng ngân sách nhà nước sẽ tạo ra gánh nặng cho ngân sách.

Do vậy, đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc quy định theo hướng, cơ quan quản lý nhà nước chỉ tham gia thẩm định giá ở các trường hợp nhất định, thật cần thiết và quy định rõ các trường hợp đó.

-         Về các trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá quy định tại khoản 2 Điều 40 Luật giá (Điều 21)

+ Theo quy định tại điểm a khoản 1 thì “Báo cáo không đúng hoặc gian lận, giả mạo hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá” là trường hợp sẽ bị thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá. Hành vi “gian lận, giả mạo hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá” có mức độ vi phạm nghiêm trọng hơn hẳn so với “báo cáo không đúng” vì báo cáo không đúng có thể do sơ suất trong việc tổng hợp thông tin, dữ liệu. Do đó, đề nghị Ban soạn thảo sửa đổi trường hợp này theo hướng quy định chung hành vi gian lận, giả mạo khi lập báo cáo và lập hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá.

+ Một trong các trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá là “Làm sai lệch hồ sơ tài sản thẩm định giá hoặc sai lệch thông tin liên quan đến tài sản thẩm định giá dẫn đến kết quả thẩm định giá cao hơn hoặc thấp hơn 10% đối với tài sản là bất động sản, thiết bị, phương tiện vận tải, 15% đối với tài sản là vật tư, hàng hóa so với kết quả thẩm định giá cuối cùng của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền” (điểm d khoản 1). Một số doanh nghiệp thẩm định giá đề nghị Ban soạn thảo xem xét lại quy định về tỷ lệ chênh lệch 10% và 15% giữa kết quả thẩm định giá của doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước trong trường hợp trên. Bởi vì, quá trình tính toán trong các phương pháp thẩm định giá, đặc biệt là đối với phương pháp thu nhập, phương pháp thặng dư, các bài toán tài chính…, các biến số có độ nhạy cảm rất cao. Tùy thuộc vào trình độ nghiệp vụ, khả năng phân tích của thẩm định viên, chỉ cần thay đổi chút ít đối với biến số đã cho kết quả khác nhau tương đối nhiều, thông thường là vượt biên độ 10% đến 15%. Do vậy, đề nghị Ban soạn thảo xem xét thay đổi tỷ lệ này theo hướng tăng lên.

2.      Một số quy định tại Dự thảo Nghị định chưa đảm bảo tính minh bạch

-         Về hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá (Điều 13): Đề nghị Ban soạn thảo quy định rõ “các giấy tờ khác” là những tài liệu nào để đảm bảo tính minh bạch của quy định và hạn chế tình trạng nhũng nhiễu của cán bộ thực hiện thủ tục phát sinh từ sự chưa rõ ràng này;

-         Về đình chỉ kinh doanh dịch vụ thẩm định giá theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật Giá (Điều 20)

+ Dự thảo Nghị định quy định, đình chỉ kinh doanh dịch vụ thẩm định giá đối với doanh nghiệp thẩm định giá khi “không cung cấp báo cáo kết quả thẩm định giá, chứng thư thẩm định giá cho khách hàng theo quy định của pháp luật” (điểm đ khoản 1). Việc cung cấp báo cáo kết quả thẩm định giá, chứng thư thẩm định giá cho khách hàng không chỉ theo quy định của pháp luật mà còn theo thỏa thuận cụ thể giữa doanh nghiệp và khách hàng (ví dụ: hai bên thỏa thuận khách hàng vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng dịch vụ thẩm định giá đã ký kết là cơ sở để doanh nghiệp từ chối cung cấp báo cáo kết quả thẩm định giá …). Do đó, để đảm bảo sự rõ ràng và tuân thủ nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Ban soạn thảo điều chỉnh lại quy định này theo hướng loại trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

+ Đoạn 2 khoản 3 quy định “hết thời gian bị đình chỉ hoạt động, nếu doanh nghiệp thẩm định giá có đủ kiều kiện hoạt động kinh doanh dịch vụ thẩm định giá và muốn tiếp tục hoạt động thẩm định giá thì phải lập lại Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá gửi Bộ Tài chính theo quy định tại Điều 13 Nghị định này”. Việc quy định hết thời hạn đình chỉ phải lập bộ hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh là chưa hợp lý vì bản chất của trường hợp bị đình chỉ khác thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. Trường hợp này chỉ nên yêu cầu doanh nghiệp gửi văn bản đề nghị và chứng minh việc khắc phục được các nội dung sai phạm. Đề nghị Ban soạn thảo quy định cụ thể về trình tự thủ tục này trong Dự thảo Nghị định.

-         Về tạm ngừng kinh doanh dịch vụ thẩm định giá (Điều 22)

+ Khoản 3 Điều 22 Dự thảo Nghị định quy định “doanh nghiệp thẩm định giá tạm ngừng kinh doanh dịch vụ thẩm định giá mà chưa hòan thành hợp đồng thẩm định giá đã ký với khách hàng thì phải thỏa thuận với khách hàng về việc thực hiện hợp đồng đó”. Quy định này là chưa rõ ràng ở điểm, việc tạm ngừng thẩm định giá mà chưa hoàn thành hợp đồng với khách hàng thì việc “thỏa thuận với khách hàng việc thực hiện hợp đồng đó” có theo hướng khuyến khích các doanh nghiệp tiếp tục thực hiện hay không? Bởi vì, tại thời điểm tạm ngừng kinh doanh, pháp luật sẽ không công nhận quyền lập báo cáo hay lập chứng thư thẩm định của doanh nghiệp đó. Do vậy, đề nghị Ban soạn thảo quy định rõ thêm trường hợp này.

+ Đề nghị Ban soạn thảo bỏ quy định tại khoản 5 “phải thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính chậm nhất là mười ngày trước ngày hoạt động trở lại” vì trùng với quy định tại Điều 17 về “Những thay đổi phải thông báo cho Bộ Tài chính”.

-         Về hình thức cung cấp dịch vụ thẩm định giá của tổ chức thẩm định giá nước ngoài tại Việt Nam (Điều 25)

Khoản 1 quy định “Tổ chức thẩm định giá nước ngoài có chi nhánh ở nhiều nước trên thế giới, được Bộ Tài chính cho phép bằng văn bản thì được kinh doanh dịch vụ thẩm định giá …”. Đề nghị Ban soạn thảo quy định rõ về trình tự thủ tục về việc cấp văn bản cho phép của Bộ Tài chính để đảm bảo tính minh bạch trong quy định và thuận lợi cho doanh nghiệp khi triển khai thực hiện.

-         Đề nghị Ban soạn thảo bổ sung quy định chi tiết về giá trị pháp lý của Kết quả thẩm định giá và việc sử dụng Kết quả thẩm định giá để tránh trường hợp phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp giữa doanh nghiệp thẩm định giá, người có tài sản thẩm định giá với các bên khác liên quan đến kết quả thẩm định giá và việc sử dụng kết quả thẩm định giá;

-         Đề nghị Ban soạn thảo bổ sung quy định chi tiết về việc mua bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp và trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp hoặc dẫn chiếu tới văn bản quy phạm pháp luật có quy định về các vấn đề này. Bởi vì, tại Dự thảo Nghị định này chỉ quy định về chế tài đối với trường hợp không mua bảo hiểm và trích lập dự phòng rủi ro nghề nghiệp mà chưa có quy định cụ thể về nghĩa vụ mua bảo hiểm, trích lập dự phòng rủi ro nghề nghiệp, mức bảo hiểm, mức trích lập dự phòng, thời gian, thời hạn mua bảo hiểm … Điều này sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trên thực tế triển khai.

3.      Một số quy định tại Dự thảo Nghị định chưa đảm bảo tính thống nhất

-         Về tổ chức thi cấp thẻ thẩm định viên về giá: điểm c khoản 2 Điều 8 Dự thảo Nghị định quy định, Bộ Tài chính có trách nhiệm “tổ chức thực hiện về thi, cấp, thu hồi thẻ thẩm định viên về giá”, điểm c khoản 2 Điều 9 Dự thảo Nghị định quy định, tổ chức nghề nghiệp về thẩm định giá có trách nhiệm “tham gia tổ chức thi cấp thẻ thẩm định viên về giá”. Những quy định này là chưa rõ ràng và thống nhất, vai trò của tổ chức nghề nghiệp về thẩm định giá như thế nào trong việc tổ chức thi cấp thẻ thẩm định viên về giá: tự đứng ra tổ chức kì thi hay cùng phối hợp với Bộ Tài chính để tổ chức? Quy chế phối hợp như thế nào? Đề nghị Ban soạn thảo quy định rõ và đảm bảo tính thống nhất trong các quy định.

-         Điều 15 Nghị định 101/2005/NĐ-CP của Chính phủ về thẩm định giá thì tổ chức thẩm định giá nước ngoài được phép thành lập chi nhánh tại Việt Nam để hoạt động thẩm định giá. Theo quy định tại Điều 25 Dự thảo Nghị định thì tổ chức thẩm định giá nước ngoài hoạt động thẩm định giá ở Việt Nam dưới hình thức góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty hợp danh với doanh nghiệp thẩm định giá Việt Nam đã được thành lập và hoạt động tại Việt Nam. Như vậy, có thể hiểu từ khi Nghị định này có hiệu lực thì tổ chức thẩm định giá nước ngoài không được thành lập chi nhánh tại Việt Nam để thực hiện hoạt động thẩm định giá. Đây là một thay đổi về chính sách, có tác động lớn đến các tổ chức thẩm định giá nước ngoài đang hoạt động ở Việt Nam dưới hình thức là thành lập chi nhánh. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những đối tượng này, Dự thảo Nghị định cần có những quy định về hướng xử lý của những trường hợp này.

-         Theo quy định tại Điều 25 Dự thảo Nghị định thì tổ chức thẩm định giá nước ngoài chỉ được hoạt động dưới hình thức là góp vốn vào một doanh nghiệp thẩm định giá đã được thành lập và hoạt động ở Việt Nam. Khi góp vốn thì tư cách pháp lý của tổ chức thẩm định giá nước ngoài là thành viên của doanh nghiệp và doanh nghiệp được góp vốn sẽ trở thành doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và là doanh nghiệp Việt Nam. Điều 26 Dự thảo Nghị định lại quy định “các trường hợp doanh nghiệp thẩm định giá nước ngoài tại Việt Nam không được thực hiện thẩm định giá”. Quy định này lại được hiểu là tổ chức thẩm định giá nước ngoài được thực hiện thẩm định giá ở Việt Nam. Dường như đang có sự nhầm lẫn giữa tổ chức thẩm định giá nước ngoài và doanh nghiệp mà tổ chức thẩm định giá nước ngoài góp vốn. Đề nghị Ban soạn thảo điều chỉnh để đảm bảo tính thống nhất trong các quy định tại Dự thảo Nghị định.

-         Theo quy định tại Điều 55 Luật kinh doanh bất động sản thì Chứng chỉ định giá bất động sản do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp, trong khi theo quy định tại Luật giá và Dự thảo Nghị định này thì Thẻ thẩm định viên về giá do Bộ Tài chính tổ chức thi và cấp. Luật kinh doanh bất động sản cho phép thành lập các loại hình doanh nghiệp hoặc hợp tác xã để thực hiện dịch vụ định giá bất động sản, miễn là có ít nhất 02 người có chứng chỉ định giá bất động sản. Do đó, để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật cùng quy định về vấn đề này, đề nghị Ban soạn thảo có hướng dẫn chi tiết đối với các trường hợp trên.

Trên đây là một số ý kiến ban đầu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đối với Dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật giá về thẩm định giá. Rất mong cơ quan soạn thảo cân nhắc để chỉnh sửa, hoàn thiện.

Ngoài ra gửi kèm theo phụ lục một số góp ý cụ thể về Dự thảo Nghị định mà một số doanh nghiệp gửi cho Phòng Thương mại và Công nghiệp để Quý Cơ quan tham khảo.

Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý Cơ quan.

Nơi nhận:

-          Như trên;

-          Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp

-          Chủ tịch Vũ Tiến Lộc, PCT Hoàng Văn Dũng (để báo cáo)

-          Lưu VT, PC

TL. CHỦ TỊCH

PHÓ TRƯỞNG BAN PHỤ TRÁCH

(đã ký)

ĐẬU ANH TUẤN